Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự kiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự kiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Việt Nam bị lên án tại Hội đồng Nhân quyền LHQ


Yêu cầu LHQ áp lực Việt Nam
Khóa họp lần thứ 24 của Hội đồng Nhân quyền LHQđang diễn ra tại Điện Quốc Liên ở Genève từ ngày 9 đến ngày 27 tháng 9 để xử lý các vi phạm nhân quyền trên thế giới.
Chiều ngày 17 tháng 9, ông Võ Văn Ái nhân danh hai tổ chức Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam và Hành động Chung Cho Nhân quyền lên tiếng tố cáo Việt Nam vi phạm điều 19 và điều 18 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thông qua một loạt hành xử, như Nghị định 72 về Internet mới ban hành với những cuộc bắt bớ tùy tiện 49 bloggers, sự ngược đãi tù nhân, đặc biệt đối với ông Nguyễn Hữu Cầu, hai nữ tín đồ Hòa Hảo Đỗ Thị Minh Hạnh và Mai Thị Dung, và đàn áp các tôn giáo tại Việt Nam hay quản chế tùy tiện Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ.
Kết thúc bài phát biểu Ông Ái nói: “Yêu cầu Hội đồng Nhân quyền LHQ áp lực để Việt Nam công bố thời điểm viếng thăm Việt Nam của Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm Tự do tôn giáo mà Hà Nội đã chấp nhận; thúc đẩy Việt Nam mời Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm Tự do ngôn luận, và Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm Bảo vệ người bảo vệ nhân quyền; đặc biệt bãi bỏ các điều luật 79, 80, 87, 88 và 258 trong bộ Luật Hình sự”.
Cũng tại LHQ, hôm 11.9, Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam và Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền, với sự bảo trợ của 4 tổ chức Human Rights Watch, IFEX, Article 19, và Văn Bút Quốc tế, đã tổ chức một cuộc Hội thảo về “Ngôn luận hợp pháp trên Internet bị quy tội: Nhân chứng từ Việt Nam, Thái Lan, và Cam Bốt
Các nhân chứng từ Việt Nam có hai ông Võ Văn Ái và Nguyễn Bắc Truyển, bà Sukanya Joop Prueksakasemsuk đến từ Thái Lan và cô Ramana Sorn đến từ Cam Bốt.
Qua băng thu âm gửi từ Saigonsang, ông Nguyễn Bắc Truyển cho biết tình hình đàn áp các bloggers thông qua Nghị định 72. Ông cũng là nạn nhân bị hàng chục công an mật vụ theo dõi, phong tỏa nhà ông sau khi ông tiếp kiến Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ tại Saigon hồi tháng 8. Sau đó, ông và các nhà hoạt động đến Dòng Chúa Cứu Thế ăn mừng em Phương Uyên, khi về cũng bị công an hành hung, ném đá vào đầu chị Bùi Hằng, và các anh Lê Quốc Quyết, Trương Minh Đức, Quang Dũng…
Kết thúc, ông Nguyễn Bắc Truyển cho biết rằng:
- Thưa quý vị, trong những ngày qua khi ông Trương Tấn Sang đi gặp Tổng Thống Obama Hoa Kỳ trở về thì tình hình nhân quyền có vẻ như là bước sang một giai đoạn mới là khủng bố trực tiếp vào các nhà hoạt động một cách rất là nặng. Họ đánh đập, không từ bất cứ hành động côn đồ nào để có thể đàn áp, khủng bố tinh thần của các nhà bất đồng chính kiến cũng như các nhà hoạt động. Nặng nề hơn hết là họ ra những thông báo về Nghị định 72 hạn chế quyền tự do thông tin trên Internet. Đây là Nghị định đi ngược lại những lời cam kết tự do Internet của nhà cầm quyền Việt Nam đối với quốc tế”.
Bài tham luận của ông Võ Văn Ái phân tích sự tai hại của Nghị định 72 về Internet thông qua việc bắt bớ, giam cầm tùy tiện 49 bloggers cùng hệ quả nguy hại khóa miệng tự do ngôn luận tại Việt Nam. Hà Nội giải thích Nghị định 72 như sự bảo vệ tác quyền, và chống lại các “thế lực thù địch”. Nhưng ông Ái bác bỏ khi trích lời ông Jonathan London, giáo sư Đại học Hồng Kông, nói rằng:
Trong mọi tầng lớp xã hội Việt Namđang có sự khao khát thay đổi. Nỗi khát vọng này không đến từ các thế lực thù địch, mà đến từ mọi giới người Việt yêu thương xứ sở họ và mong cầu một tương lai tốt đẹp sớm xảy ra”.
Nhân dịp này chúng tôi phỏng vấn ông Nicolas Agostini, chủ tọa cuộc Hội thảo. Ông cho biết như sau:
Nicolas Agostini: “Mặc dù bối cảnh các quốc gia khác nhau, nhưng chúng tôi thấy có cùng một mô hình chung, là sự đàn áp các tiếng nói độc lập, các phê phán và các nhà báo, đặc biệt trên trực tuyến. Vì vậy chúng tôi đặt tiêu điểm vào Việt Nam, biểu trưng đầy đủ cho một nhà nước độc đoán đang khóa miệng mọi tiếng nói bất đồng chính kiến. Chúng tôi cũng nhắm tới Thái Lan, nơi nhà cầm quyền sử dụng tội khi quân và sắc luật về tội phạm vi tính để đàn áp những phê phán, và Cam Bốt, là nơi chính quyền sử dụng sự sợ hãi bất chính và sự tự-kiểm-duyệt để đàn áp, giống hệt như hiện trạng ở Thái Lan và Việt Nam, họ nhắm vào các bloggers và công dân mạng, những người đăng tải bài vở trên Facebook và mạng xã hội, hoặc các nhà báo trực tuyến.
- Ỷ Lan: Trường hợp ở Việt Nam, những thông tin gì được trình bày tại cuộc hội thảo thưa ông?
- Nicolas Agostini: Ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, đã trình bày những vi phạm rất trầm trọng đối với tự do ngôn luận. Ông đã đưa ra nhiều trường hợp của các bloggers và nhà báo đã bị cầm tù chì vì biểu tỏ ôn hòa quyền ngôn luận và ý kiến hay trường trình những xâm phạm nhân quyền và pháp luật. Chúng tôi cũng cho phát băng thu từ Saigon của blogger Nguyễn Bắc Truyển đã từng bị tù trong quá khứ. Được trả tự do những ông vẫn bị nhà cầm quyền theo dõi và bị sách nhiễu thô bạo chỉ vì ông biểu tỏ ôn hòa ý kiến trên trực tuyến.
Ỷ Lan: Ông có đòi hỏi Hội đồng Nhân quyền LHQ phải làm gì không, thưa ông?
Nicolas Agostini: “Chúng tôi yêu cầu LHQ đặt trọng tâm vào ba nước Việt Nam, Thái Lan, Cam Bốt, vì cả ba quốc gia này có nghĩa vụ quốc tế theo các điều luật nhân quyền quốc tế. Thái Lan vừa chấm dứt nhiệm kỳ thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ. Có thể Việt Nam sẽ được bầu vào Hội đồng Nhân quyền cho nhiệm kỳ ba năm tới.
Sắp tới đây, LHQ sẽ duyệt xét cả ba nước này theo Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ (Universal Periodic Review). Vì vậy, chúng tôi kêu gọi Cộng đồng quốc tế và các thành viên trong Hội đồng Nhân quyền LHQ yêu sách cả ba nước phải tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và yêu cầu cho các quyền dân sự và chính trị, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận, được bảo đảm hoàn toàn.”
Ỷ Lan: Xin cám ơn ông Nicolas Agostini.
(Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á châu Tự do tại LHQ Genève)
/Nguồn: www.rfa.org/vietnamese/in.../y-lan-09192013-09192013145058.html /
-----------------

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Gặp người kéo cờ tại lễ Tuyên ngôn độc lập


… Đầu tháng 8/1945, bà Thi chính thức tham gia cách mạng và được giao nhiệm vụ làm cán bộ Hội phụ nữ Hoàn Kiếm. Ngày 17/8, bà đã vận động hàng trăm phụ nữ Hoàn Kiếm, Hà Nội tham gia lễ mít tinh ủng hộ Việt Minh và yêu cầu Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim làm lễ hạ cờ để treo cờ Việt Minh. Và đến ngày 19/8 lại cùng hàng vạn người dân Thủ đô tham gia giành chính quyền tại Hà Nội.
Bà Thi bảo: “Khi cách ngày 2/9 khoảng hơn 1 tuần, nhận được lệnh của cấp trên đi vận động tất cả phụ nữ Hàng Bông tập hát Quốc ca, đi đều bước, chọn quần áo, trang phục mặc chỉnh tề, nghiêm trang để chờ đến ngày trọng đại, trong khoảng thời gian đó chúng tôi vừa vui mừng vừa hồi hộp”…

               >> Đọc tiếp/Nguồn   
----------------

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

HIỂU VỀ ÔNG LÊ HIẾU ĐẰNG TỪ ĐẰNG NÀO?

                
 * BÙI VĂN BỒNG
          Đọc bài: Thư gửi anh Lê Hiếu Đằng – “Đằng ấy… đằng mình” của TS. Hoàng Văn Lễ, đăng trên báo Sài Gòn giải phóng ngày 26-8, tôi thấy một bức thư được ‘báo chí hóa’, lời lẽ có vẻ nhẹ nhàng, khuyên can, không nặng về đấu lý mà phân tích giảng giải làm rõ sự khác biệt về quan điểm, cách nhìn và cách xem xét, đánh giá thực trạng đất nước, về chính trị-xã hội hiện nay. Theo tôi, trong bất cứ trường hợp nào cũng không nên dùng cụm từ "bất đồng chính kiến", vì nó tối nghĩa, đã là chính kiến là nhận thức, nhãn quan của mỗi người, khó mà ai giống ai, và nó luôn luôn vận động, nó là bất định, có thể thay đổi ngay trong mỗi người tùy tác động khách quan và cả chủ quan. Bất đồng chính kiến không phải chỉ với thế chế, cơ chế, với người khác mà đó cũng là mâu thuẫn nội tại trong tư duy từng cá nhân - đó là chuyện bình thường! Chính K.Marx cũng nói: "Con người, cuộc sống là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội"; rặng: "Con người là một thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh". Dù dưới hình thức nào thì bài "Thư gửi..." cũng coi là bài báo phản biện, cũng mang tính ‘bút chiến’. Chính cách diễn đạt cũng như rút tít bài báo  này đã gợi cho tôi suy nghĩ: “Hiểu về ông Lê Hiếu Đằng từ đằng nào”.
Ở đây, tôi muốn nói một điểm rất chung là hiện nay xã hội Việt Namta chưa thực sự yên tâm để khẳng định là “ổn định chính trị”. Dù trong báo cáo chính trị, các nghị quyết của đảng mấy nhiệm kỳ qua đánh giá rất tự hào, coi đó là thành tích lãnh đạo của đảng, nhưng có “ổn định chính trị” thực sự (theo đúng nghĩa của chính cụm từ này) hay không thì ai cũng rõ. Khác nhau là nói như thế nào, diễn đạt như thế nào, nói ra hay chỉ im lăng để ‘biết vậy thôi’. Là người thuộc tầng lớp trí thức đi theo cách mạng, vào đảng, đi theo đảng đã 45 năm, nay vào tuổi 71 rồi, ông Lê Hiếu Đằng có ‘trở cờ”, có phải là một đảng viên đã bộc lộ quay ngoắt trở thành kẻ phản đảng, phản dân hại nước? Có lẽ nhận định, đánh giá là đúng thế, TS. Lễ mới viết: Ông Lê Hiếu Đằng  “bị lung lay, dao động đi đến phản bội mục tiêu, lý tưởng, con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam… nói năng rất liều mạng, tư duy có sâu sắc chi đâu,  trở thành ‘nhà bất đồng chính kiến’, bắt đầu hoạt động chống Đảng… tự huyễn hoặc mình,… mắc mưu những kẻ thọc gậy bánh xe đầy ác ý”. 
       >+ “Suy nghĩ những ngay nằm bịnh” 
                        > Vài lời với anh Sáu Quang 
            Tôi tán thành (tuy không toàn bộ) Lời tòa soạn báo SGGP đã  ‘phi lộ’ đầu bài: “Những quan điểm trên vốn đã xuất hiện đầy rẫy trên các diễn đàn, ...“dân chủ”. Điều đáng nói ở đây, ông Lê Hiếu Đằng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; đã từng tham gia phong trào học sinh - sinh viên chống chiến tranh tại Sài Gòn từ trước năm 1975; đã từng tham gia xây dựng TPHCM, xây dựng đất nước một cách tự nguyện, (chẳng lẽ ) lại có thể phủ nhận mọi thành quả của cách mạng Việt Nam, nhìn nhận qua lăng kính cá nhân một cách phiến diện, ấu trĩ và lệch lạc (?!) .... thật sự tâm huyết với đất nước, ông Lê Hiếu Đằng ... cùng chung tay với Đảng để xây dựng đất nước ổn định, hòa bình, phát triển”… Tuy thế, những câu chữ "khó nghe" cần coi lại cho kỹ những đánh giá mang tính áp dặt cho ông Lê Hiếu Đằng là ‘chiêu bài dân chủ’, ‘phủ nhận mọi thành quả của cách mạng’…đã chính xác hay chưa? Theo tôi, những dẫn liệu, phân tích, những mạnh dạn đề xuất của ông Lê Hiếu Đằng trong bài: “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Đằng không sai thực tế xã hội, không nói trật những đánh giá về những yếu kém của Đảng, Nhà nước mà gần đây nhất là Đại hội XI và các hội nghị TW4,5,6,7 (*) đã đánh giá, mổ xẻ, có những chỗ dám nhìn thẳng vào sự thật và nhất là phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, có chăng chỉ khác ở cung độ, văn phong, diễn đạt, cách lý giải…Phải nhìn nhân thời điểm và hoàn cảnh ông Lê Hiếu Đằng viết bài này, tuổi đã cao, bệnh quá nặng, không biết sống-chết thế nào, ông không muốn mình ra đi mà còn trĩu nặng 'nợ đời'. Vì thế, ông hạ bút dùng các từ như "tính sổ", "thanh toán", ai mà chẳng thế trước khi biết mình sẽ từ giã cõi trần. Qua đó, dễ nhận ra ông là người chân chất, sóng phẳng, không việc gì mà nhiều người khó chịu, bắt bẻ, có những người thấy "bị dội", lôi từ ngữ ra chửi ông Đằng!?
Luật gia Lê Hiếu Đằng
Có người viết bài chỉ trích, phê phán gay gắt ông Lê Hiếu Đằng về những 'suy nghĩ' trên giường bệnh, và nói rằng ông Lê Hiếu Đằng không tỉnh táo, có sự hồ đồ, vội vàng, nhìn nhận phiến diện… Nhưng chính những tác giả viết các bài báo để phản biện, bút chiến ấy có nhìn lại xem mình có hồ đồ, vội vàng, ấu trĩ, một chiều và áp đặt quá mức cho ‘đối tượng phản ánh’ hay không?
Thế nên, đúng là trước “sự kiện” này, mọi người cần đứng từ đằng nào, góc độ nào, cái tâm và cái tầm nào để hiểu, đánh giá về động cơ cũng như những ý kiến thẳng thắn, trung thự của ông Lê Hiếu Đàng cho đúng.
Bị bệnh nặng, lo đối phó, chịu đựng với “con bệnh” nhưng ông Lê Hiếu Đằng đã viết một bài tới trên 7.000 chữ như thế là một nghị lực, một cố gắng lớn. Đọc kỹ, toàn bộ bài viết là lối văn phong nhẹ nhàng, ít chỉ trích, không kích động, không gay gắt, như lời góp ý xây dựng chân tình. Toát lên trong bài viết là lời tự sự, suy ngẫm, lý giải mang tính tự trào, có nét như một đoạn 'tự truyện', kể về đời tư, về các kỷ niệm công tác, giao tiếp xã hội, những thăng trầm, gay cấn, những dồn nén tâm tư, tất nhiên đều gắn với chính trị-xã hội. Bài viết cũng thể hiện tác giả trải biến nhiều, đọc và nghiên cứu nhiều, suy tư chín chắn, sử dụng tư liệu, sự việc, con người đẻ minh dẫn có chọn lọc. Đọc xong bài viết, câu đầu tiên bật lên trong đầu tôi là “Có gì mà phải ầm ĩ lên thế?, Có gì phải đao to búa lớn?". 
            Gọi cho đúng tên sự vật, hiện tượng: Đã là dân chủ thì người dân thực hiện quyền dân chủ, được thụ hưởng môi trường nền dân chủ xã hội - nhân quyền; chính quyền thực thi những chính sách bảo đảm nền dân chủ xã hội một cách thực sự tốt đẹp, không có cái lối suy diễn rồi ném vào mọi sự cái cụm từ tưởng như 'ní nuận' là "lợi dụng dân chủ". Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng đồng tiền, lợi dụng lòng tin, tình cảm...chứ dân chủ thì lợi dụng sao được? Nhân cái gọi là "sự kiện Lê Hiếu Đằng", "sự kiện kiến nghị 72", các góp ý xây dựng Hiến pháp..., những tác giả viết bài phản bác cứ tìm mọi cách nâng quan điểm, nặng về suy diễn chủ quan, bảo thủ, áp đặt, thậm chí dùng các ngôn từ thóa mạ, mạt sát, miệt thị, châm chích, cố tình áp đặt, thay tòa án luận tội, thay tổ chức quy kết, tâng công và bơm kích lãnh  đạo..., thì chỉ tổ gây ra phản cảm, làm cho đọc càng coi thường tác giả đó, vì trước hết đập nào mắt bạn đọc những "chua từ học" thấy rõ làm báo mà thiếu văn hóa! Để làm rõ bản chất sự thật, phân ra phải-trái, chứng minh cho một chân lý, để bảo vệ đảng, giữ uy tín đảng không đồng nghĩa với những lớp lang chửi mất gà đã quen mồm, xấu thói! Tư duy tồn tại nhờ nghệ và mượn nghề tồn tại, chất cơ hội, thực dụng đắp dày đã khiến họ tự biến mình thành người máy có da thịt, đã làm cho nhiều người lấy "cái Ta giả đánh ngã cái Ta thật".
              Thực ra, những điều ông Lê Hiếu Đằng nêu, có phân tích mổ xẻ và đề xuất cũng không mới, không đến mức “sự kiện bất ngờ”, mà thực ra cùng ‘đồng thuận’ những suy nghĩ này các vị như tướng Trần Độ, tướng Nguyễn Nam Khánh, ông Nguyễn Văn An, ông Trần Xuân Bách, nhiều nhà nghiên cứu chính trị-kinh tê-xã hội học trong và ngoài nước có học hàm giáo sư, tiến sĩ,, nhiều nhà báo, trang mạng đã nêu lên từ lâu rồi.
Ví du như ông Đằng viết: “Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập và kiểm soát lẫn nhau. Phải có một nền tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng hiệu quả. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ để bầu quốc hội lập pháp theo đúng các nguyên tắc mà học giả Jeane Kirkpatrick đã tổng kết: “Phải có các tính chất cạnh tranh, định kỳ, phổ thông, bỏ phiếu kín”. Đảng Cộng sản phải thông qua cuộc bầu cử tự do, bình đẳng như vậy mới trở thành Đảng cầm quyền nhà nước của dân, do dân, vì dân một cách thuyết phục”.Thế thì có gì là sai? Có gì xuyên tạc, quá đáng? Ông đã từng 8 năm giảng dạy ở trường đảng nguyễn Văn Cừ, theo tôi cách phân tích như thê slà có cơ sở lý luận và thực tiến. Đó là đè xuất với gợi ý đóng góp xây dựng đảng, đâu có “trở cờ’, quay lưng, “ăn phải bã…”?
Trong LTS của báo SGGP có đoạn: “phủ nhận mọi thành quả của cách mạng Việt Nam, nhìn nhận qua lăng kính cá nhân một cách phiến diện”  Nhưng ông Lê Hiếu Đằng viết một cách chân tình, thẳng thắn, có tính xây dựng, gợi mở mà đánh giá như vậy đã đúng chưa (?): “Tôi nghĩ trong một thời gian dài Đảng Cộng sản vẫn là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản cần tự tin điều đó. Dần dần các đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập mà cứ duy trì thể chế "toàn trị độc đảng" thì tham nhũng, cửa quyền, xâu xé giữa các nhóm lợi ích đang kết nối với quyền lực thành một thế lực mafia khuynh loát toàn bộ hoạt động xã hội, đẩy đất nước vốn đang lâm vào cơn bạo bệnh trở nên vô phương cứu chữa, chỉ còn chờ chết mà thôi”.
Phân tích như ông Đằng là có cơ sở khoa học lý luận, có lý và sát thực tế. 
Ông giãi bày nỗi niềm: “Nhà văn Nguyễn Khải đã nói: “Khi đọc cuốn Bàn về tự do của Stuart Mill thì vỡ ra nhiều vấn đề”, và cuốn sách đó khơi nguồn cảm hứng cho ông viết bài tùy bút để đời: Đi tìm cái tôi đã mất. Nguyễn Khải đã nhìn lại những gì mà ông đã trải nghiệm một cách sâu sắc với một giọng văn nhẹ nhàng không hàm hồ nên rất thuyết phục. Đây là quyển sách đã đi sâu vào tim óc của chế độ mà không thấy các vị “phê bình chỉ điểm” (cách gọi mới đây của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, đối với Nguyễn Văn Lưu cùng với một số người trong việc “bề hội đồng” bài viết của Thạc sĩ Nhã Thuyên về nhóm “Mở miệng”) nào dám phê phán, chửi rủa”.
Và, ông Lê Hiếu Đằng viết: “Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (như cách Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu nói). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí… thật sự. Do đó Hiến pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây chế độ toàn trị đã phản bội lại Hiến pháp đó, tước đoạt tất cả các quyền cơ bản mà Hiến pháp 1946 đã ghi, vất bỏ Tuyên ngôn Nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng để lấp liếm cho sự phản dân chủ, phản tiến hóa của họ. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế hệ mới có được”…
Nếu như theo ý muốn, theo đà phản biẹn mà đưa những câu chữ trong Thư của TS, Hàng Văn Lễ“so găng” với bài “Suy nghĩ…” của ông Lê Hiếu Đằng thì còn rất nhiều, có thể viết “tràng giang đại hải” nhiều kỳ. Để kết lại bài trao đổi công khai này, tôi chỉ trích dẫn cái động cơ mà ông Lê Hiếu Đằng đã bộc bạch: “Bài viết này cũng là để trải lòng với bạn bè, đồng đội và những nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các bạn thanh niên, sinh viên, học sinh mà tôi đã quen hoặc mới quen, để khẳng định một điều: với lòng tự trọng của một công dân một nước có lịch sử hào hùng chúng ta phải hành động. Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên này hay bên kia. Vì thật ra cả một bộ phận loài người trong đó có người Việt Nam khát khao với một xã hội tốt đẹp hơn, chống lại cái ác, cái xấu nên đã có thời gian dài nuôi ảo tưởng về đường lối xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết Stalin của Đảng Cộng sản.Trước đây chúng ta chưa có đủ điều kiện, dữ liệu để nhận thức một số vấn đề sống còn của đất nước nhưng hiện nay tình hình trong nước và trên thế giới đã thay đổi, vì vậy chúng ta phải nhận thức lại”.
Theo ông Đằng: “Hiện nay là cuộc đấu tranh trên thế giới về dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nghĩa là đây là cuộc đấu tranh quyết liệt cho con người, vì con người chống lại các thế lực phản động đang âm mưu nô dịch nhân dân, phá hoại môi trường vì những lợi ích kinh tế ích kỷ của các tập đoàn, lũng đoạn nhà nước”
Trước đó, ông Lê Hiếu Đằng nhớ lại những kỷ niệm và tự sự: “Về anh Nguyễn Ngọc Phương – người phụ trách tôi sau này bị địch bắt, đã hy sinh trong tù năm 1973. Năm ngoái, nhân ngày giỗ anh, tôi có kể lại việc mỗi lần sinh hoạt với tôi xong anh đề nghị tôi hát bài “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên. Hát xong tôi hỏi anh: “Anh là bí thư Đảng ủy sinh viên mà sao thích bài hát ướt át quá vậy?”. Anh cười buồn và nói: “Chúng ta chiến đấu xét đến cùng là vì con người. Nhưng bài hát đó viết rất hay về con người thì sao mình không thích được!”. Và:  “Sau 1975, không khí vui vẻ, sum họp của những ngày đầu đã tạo hứng khởi để nhạc sĩ Văn Cao làm bài “Mùa xuân đầu tiên” với điệu valse dìu dặt. Nhưng tội nghiệp cho Văn Cao đã ngây thơ tin rằng “Từ đây người biết yêu người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết quê người…”.
Với những bài viết, ý kiến của ông Lê Hiếu Đằng, tôi nghĩ: Một người đã suốt đời đóng góp, có lúc như xả thân đi theo đảng, theo cách mạng, với 45 tuổi đảng như ông Lê Hiếu Đằng không dễ mà bỗng chốc "trở cờ", "phản bội" nhân dân, đi ngược lại lợi ích nhà nước, dân tộc. Còn khi đảng sai, biểu hiện suy thoái, biến chất, vai rò lãnh đạo bị mất thế, bị hạ bệ rất nhiều so với những  thời kỳ trước đây, đảng yếu kém mặt này mặt kia, thì mạnh dạn xây dựng đảng. Đó là thực thi nhiệm vụ của một đảng viên, đó là chủ đích rất khách quan, biện chứng: "Xây phải đi kèm với Chống",  như quan điểm đề cao phê bình, tự phê bình, coi phê bình,tự phê bình là vũ khí sắc bén của đảng, quan điểm "muốn đổi mới đất nước nhanh,mạnh, hiệu quả cao phải dám nhìn thẳng vào sự thật, phải thực sự dân chủ". Những đề xuất, kiến nghị của ông Lê Hiếu Đằng cũng là ý nguỵện  chung của những đảng viên chân chính, trung kiên và toàn dân. Việc đề nghị lập một đảng đối lập từ lâu đã có nhiều ý kiến đề xuất công khai, theo hình thức chế độ đa đảng cũng là tạo động lực mới, mô hình, đối tượng, cái biến cách thức mới theo dòng thời đại và xu thế phát triển chung, có thêm đối trọng chung mục tiêu, mục đích vì dân, vì nước để cải biến xã hội như nhiều nước đã thực thi có hiệu quả. Nếu vì thế đưa ra đánh giá, quy chụp ông Lê Hiếu Đằng "chống đảng" thì là áp đặt, vội vàng và quá chủ quan. Đảng hiện thời của ông Putin, ông Obama, bà Thử tướng Thái Lan,... Đảng Nhân dân CM Campuchia ngay sát nách nước ta vừa qua thắng thế, đâu có ngán "đa đảng", vấn đề là đảng phải thể hiện được vai trò lãnh đạo đất nước, thực sự được lòng dân. Ông Hunsen chấp nhận lãnh đạo, điều hành đất nước trong mô hình cạnh tranh đa đảng có phải là chống lại người "cha đẻ" là đảng CS Việt Nam hay không? Hay cũng là một kiểu "hiện đại hóa" sự lãnh đạo của đảng? Không chấp nhận cạnh tranh, "sợ ra gió" vô hình trung tự nhận mình yếu! Giả như trong nhu cầu xã hộ đặt ra và trong tình huống nhiều đảng, (tôi không thích dùng từ đối lập, nên  gọi là cạnh tranh lành mạnh) mà đảng Cộng sản chứng minh được tính hơn hẳn về uy tín , tầm cỡ lãnh đạo thì càng vinh quang chứ sao?
             Tôi có một câu chuyện khó quên: Năm xưa, phong trào HTX Nông nghiệp đang rầm rộ, làng tôi có một cậu thanh niên tay cầm bó lạt, tay cắp nón đi trên bờ đê hát nghêu ngao: "Hôn nay ta vào hợp tác, mai ta lại ra hợp tác, anh em ta không phải người nhác...". Thế là liền bị công an mời lên xã nẹt cho một trận. Có gia đình xã viên ngỏ ý xin ra HTX, liền bị quy tội phản động "chống đảng, chống nhà nước". Nhưng chỉ hơn hai năm sau, phong trào HTX vốn được coi phù hợp một thời, bị vỡ, tự tan rã, không biết phản động nào mà "phá" giỏi thế?
Thế nên, như phần đầu bài viết đã nêu: Trước “sự kiện chính trị” bị coi là không bình thường này, trong thực trạng, bối cảnh, hiện tình đất nước, trước nhiều mối “đe dọa sự tồn vong của đảng, của chế độ” (như  phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng), trước “hiện tượng suy nghĩ” như Luật gia, đảng viên kỳ cựu Lê Hiếu Đằng, chúng ta nên đứng từ góc độ, động cơ nào để “Hiểu về ông Lê Hiếu Đằng từ đằng nào” cho đúng bản chất vấn đề, sự việc và con người.?!
BVB
----------------
-----------
+ Chú thích:
(*) -  …”Công tác xây dựng Đảng luôn là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta.
             Các mặt khuyết điểm, yếu kém chưa khắc phục được bao nhiêu, có mặt còn phức tạp thêm, gây băn khoăn, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
              Cần nghiêm túc phân tích thật sâu sắc những nguyên nhân chủ quan, chỉ ra những căn bệnh gốc rễ, như: do không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, mang nặng chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội thực dụng; buông lỏng các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng; quan liêu, xa dân, thiếu gắn bó mật thiết với nhân dân; việc tổ chức thực hiện nghị quyết không đến nơi đến chốn, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm.
             Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả ở cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng?.
              Những việc cần và có thể làm ngay phải chăng là: Từng cán bộ, đảng viên, trước hết là từng đồng chí ủy viên Trung ương, ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tự giác, gương mẫu tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình, tự điều chỉnh mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình; cảnh giác trước mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài, tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tệ hại.
               Chúng ta biết rằng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc rất khó, rất phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người. Khó nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ” …
-------------

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

CÁCH MẠNG

 * BÙI VĂN BỒNG 
Đồng thanh mà khác nghĩa
Mệnh danh và xưng danh
Chuyển biến và chuyển hóa:
Cách mạng !
Có đồng lòng, đồng tình, đồng chí
Đồng lõa, đồng nhóm, đồng minh…
Vì nhân sinh
Vì nhân tình thế thái
Biến trải và biến thiên
Một góc và mọi miền
Cách mạng !
Người này khai sáng
Kẻ  khác tiễu trừ
Những cuộc đánh đu
Thiện và ác
Những cuộc chiến tranh
Đẩy dân lành vào guồng xoay quyền lực
Có nhân văn tột bậc
Có đê tiện đớn hèn
Độc tài và dân chủ
Độc đảng và đa nguyên
Uy tín và uy quyền
Cách mạng !...

Dân lành không thích cách mạng
Cách mạng cho ai?
Họ mong được như hạt lúa củ khoai
Yên bình và nhẫn nại
Gieo mồ hôi trên luống cày
Mắt vui cùng sắc hương hoa trái
Nhảy múa reo mừng mùa gặt hái
Nhưng khi cuộc đời mất tự do, đe dọa tương lai
Nhan nhản bất công, nhiễu nhương và đồi bại
Khi quyền lực và cái ác ép căng nhẫn nại
Trước độc tài , chuyên chế
Trước cường quyền, áp bức
Cách mạng vùng lên !
BVB
-------------------

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Hội thảo bàn về cải cách ở Việt Nam

 
Gần 20 học giả Việt Nam trong nước lẫn ngoài nước cùng các học giả quốc tế đang tham dự một hội thảo bàn về con đường cải cách của Việt Nam ở Singapore.
Dưới chủ đề ‘Cải cách ở Việt Nam đang đi về đâu?’, hội thảo diễn ra trong hai ngày 12/8 và 13/8 sẽ đi sâu phân tích các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội, ngoại giao, giáo dục, công nghệ, truyền thông, xã hội dân sự trong đời sống ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, một trong những diễn giả trình bày tại hội thảo đến từ Việt Nam đã không thể tới Singapore do có sự cảnh báo của chính quyền.
Năm phiên thảo luận
Tổng cộng sẽ có năm phiên thảo luận về các chủ đề, trong đó đáng lưu ý là phiên thảo luận cuối cùng về ‘cải cách Hiến pháp’ trong bối cảnh Việt Nam đang lấy ý kiến dân chúng về bản Dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
Các diễn giả đăng đàn tại hội thảo là những học giả có tên tuổi ở trong nước và hải ngoại như Lê Đăng Doanh, Nguyễn Ngọc Giao, Nguyễn Thiện Tống, Cao Huy Thuần, Trần Văn Thọ, Trần Hữu Dũng, Giáp Văn Dương, Ngô Vĩnh Long, Nguyễn Tiến Dũng, Phạm Chi Lan...
Nhà báo Nguyễn Giang, trưởng Ban Việt ngữ của BBC, cũng tham dự phiên thảo luận về ‘Xã hội dân sự và truyền thông’ với tham luận về truyền thông trong nước.
Có một số tham luận đáng chú ý như ‘Một số vấn đề của kinh tế Việt Nam hiện nay’ của ông Lê Đăng Doanh, ‘Ngoại giao Việt Nam’ của ông Ngô Vĩnh Long, ‘Doanh nghiệp Việt Nam đi về đâu’ của bà Vũ Kim Hạnh và bà Phạm Chi Lan, ‘Những bài toán thế kỷ đặt ra cho Việt Nam’ của ông Nguyễn Ngọc Giao, ‘Đổi mới và sự xuất hiện của Giai cấp siêu giàu tại Việt Nam’ của ông Trần Hữu Dũng.
Đây là một hội thảo truyền thông mang tên là ‘hội thảo mùa hè’ do một nhóm trí thức người Việt tại hải ngoại khởi xướng từ hơn 10 năm qua.
Ông Phạm Chí Dũng bị chặn?
Tin cho hay nhà báo, tiến sỹ kinh tế Phạm Chí Dũng, một trong những diễn giả được mời tại hội thảo năm nay, đã không thể đến Singaporedự hội thảo như dự kiến.
Được biết, trước chuyến đi bốn ngày, cơ quan an ninh đã ‘phát tín hiệu về việc ông không nên đi’.
Do đó, nguồn tin thân cận với ông Dũng nói ông dự đoán sẽ bị chặn ở sân bay nếu vẫn đi và đã quyết định trả lại vé máy bay.
Bài tham luận mà ông Dũng dự kiến trình bày tại hội thảo có tiêu đề ‘Liệu có xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam?’.
Ông Dũng cho biết trong bài tham luận này, ông nêu ra những tiền đề khủng hoảng kinh tế-xã hội ở Việt Nam, những kịch bản của khủng hoảng. Ngoài ra, ông cũng dự báo ba giai đoạn vận động kinh tế-chính trị của Việt Nam từ trong khoảng thời gian bốn năm tới.
(Theo BBC)
---------------

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

TRẦN ĐỘ - XÓA ÁC THAY CỰC THIỆN


 * TÔ VĂN TRƯỜNG
             BVB Trong tâm hồn sâu thẳm của  chúng ta dù đi đâu, ở đâu, ai cũng có cội nguồn, ít nhiều đều có kỷ niệm và biểu lộ tình yêu quê hương theo cảm nhận, góc nhìn của mình.
Quê hương
Năm 2012, lần đầu tiên tôi gặp nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo tại nhà họa sĩ Nguyễn Quốc Việt ở Thái Bình, tác giả của nhạc phẩm “khúc hát sông quê” nổi tiếng.
Thời kháng chiến, nhà thơ  Giang Nam có bài thơ nổi tiếng với những câu thơ giản dị mà sâu sắc, thấm đẫm lòng người khi nói đến quê hương:
“Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có  những ngày trốn học bị đòn roi
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi”
Yêu quê hương, trước hết là hiểu lịch sử và văn hóa quê hương, đặc biệt các nhân vật đã đi vào huyền thoại của đất nước. Thái Bình là nơi phát tích của nhà Trần một trong những triều đại vẻ vang nhất của lịch sử Việt Nam. Thái Bình cũng tự hào về những tên tuổi lớn Lê Quý Đôn, Nguyễn Đức Cảnh. Quê hương tôi không có núi, nhưng có ngọn núi nào cao hơn ngọn núi”- nhà bác học Lê Quý Đôn?
Ngay trên một huyện ven biển của Thái Bình được lập lên do công trình lấn biển dưới sự chỉ huy của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ cũng đã có tên ba danh tướng thời hiện đại là Trần Độ, Hoàng Văn Thái và Đào Đình Luyện. Ngoài ra, Thái Bình còn có vị tướng tình báo nổi tiếng Vũ Ngọc Nhạ cố vấn ba đời Tổng thống chế độ Sài gòn cũ.  
Nhân kỷ niệm ngày mất của Trung tướng Trần Độ sắp đến ngày 1/7/2002 (âm lịch) tức là ngày 7/8/2013 (dương lịch) xin có đôi lời về vị văn tài võ tướng chịu nhiều oan khuất kể cả khi đã về cõi vĩnh hằng.
Trong một lần về thăm quê hương, tôi được nhà văn Võ Bá Cường tác giả cuốn sách “Chuyện tướng Trần Độ” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 2007), kể cho nghe những gian nan vất vả khi đi tìm sự thật. Dù được sự ủng hộ của các vị lão thành cách mạng như Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu vv… nhưng tác giả vẫn phải biết cách “lách”, không bình luận để đưa được cuốn sách ra mắt bạn đọc.
Trần Độ tên thật là Tạ Ngọc Phách sinh ra ở xóm Bát Điếu, làng Thư Điền, xã Tây Giang, huyện Tiền Hải (do Doanh điền Nguyễn Công Trứ khai khẩn từ 1828). Trần Độ tham gia cách mạng từ thuở thanh niên, trải nghiệm, thử thách giữ vững khí tiết của người dân yêu nước qua các nhà tù tàn khốc từ Thái Bình, qua Hỏa Lò đến Sơn La.
Ông là một vị  tướng nổi tiếng, tài kiêm văn võ, có nhiều công lao đi cùng dân tộc trong suốt hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Ông là ủy viên Trung ương Đảng nhiều khóa, là Phó Chủ tịch Quốc hội.
Nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét Trần Độ là người nhạy cảm với thời cuộc, tha thiết với yêu cầu “đổi mới” của Đảng để đưa đất nước tiến lên. Với văn nghệ, ông là người chủ trương định hướng rộng. Tiếc thay, ông sa vào cái mạng lưới hạn chế của thời cuộc, rơi vào tình thế lao lung hiểm nguy và cuối cùng bị xử trí oan ức.
Và may thay Võ Bá Cường với tư cách nhà văn, đã tự nguyện dấn thân kiên trì và dũng cảm làm công việc giải oan cho ông bằng việc sưu tầm tư liệu,  gặp gỡ các nhân chứng còn sống ở khắp miền đất nước, xuất bản sách để dư luận hiểu rõ về phẩm chất cao đẹp, sáng ngời chính nghĩa của ông, không phải là người chống Đảng mà chỉ chống sự ô nhiễm trong Đảng. 
Bản lĩnh Trần Độ
Danh tướng ở nước ta có nhiều, nhưng là tướng tài, ‘văn –võ song toàn’ như tướng Trần Độ rất hiếm.
Ông được người đời mến mộ bởi ‘tâm sáng, chí cao, bản lĩnh phi thường, lập trường kiên định’. Ở mặt trận xông xáo tác chiến, thắng giặc rồi vẫn bền chí trung kiên, sẵn sàng bút chiến.  Những  gì mà có hại đến uy tín của Đảng, có hại cho dân, bất lợi cho nước đều không nằm ngoài tầm kiểm soát và trăn trở của ông. Sự thẳng thắn, cương trực của ông đã làm cho những vị  quan chức quyền uy, thích vuốt ve, khoái nịnh bợ khó chịu, thậm chí hằn học.
Tuy ông đã đi xa, nhưng  người dân đều thấy những điều ông nói, suy cảm, những đề xuất ích nước lợi dân  nay vẫn còn mang đậm tính thời sự, và giá trị hiện thực. Tâm hồn, bản lĩnh, ý chí của ông như còn tươi nguyên.
Ở cương vị thay mặt Đảng, lãnh đạo văn hóa, văn nghệ, ông có ý thức "cởi trói".  Ông nhận thức rằng văn hóa mà không có tự do là văn hóa chết. Văn hóa mà chỉ còn có văn hóa tuyên truyền cũng là văn hóa chết. Càng tăng cường lãnh đạo bao nhiêu, càng bóp chết văn hóa bấy nhiêu, càng hiếm có những giá trị văn hóa và những nhà văn hóa cao đẹp. Cần phải biết trọng dụng các tài năng, thuyết phục các tài năng do cá tính độc lập, và tài năng sáng tạo, họ không phải là những kẻ dễ chịu ngoan ngoãn, phục tùng.
Về vấn đề Đảng lãnh đạo, Trần Độ phát biểu: "Tôi vẫn tán thành và ủng hộ vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng. Nhưng lãnh đạo không có nghĩa là thống trị. Đảng lãnh đạo không có nghĩa là đảng trị. Kinh nghiệm lịch sử trong nước và thế giới đã chứng minh rằng mọi sự độc quyền, độc tôn đều đưa tới thoái hoá, ruỗng nát, tắc tỵ không những của cơ thể xã hội mà cả cơ thể Đảng nữa. Nguyên nhân sâu xa của các hiện tượng tiêu cực trong Đảng và phần nào trong xã hội là ở cơ chế lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng".
Ông kêu gọi:  "Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc đảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử, ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng, trừ bỏ "hiệp thương" mà thực chất là gò ép".
Ngay từ năm 1974, sau khi đi tham quan ở Cộng hòa Dân chủ Đức và trải nghiệm thực tế của bản thân, Trung tướng Trần Độ viết bức thư tâm huyết yêu cầu đổi mới (14 trang) gửi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Lê Duẩn, Trường Chinh và Lê Đức Thọ.
Nội dung chủ yếu, ông kiến nghị đưa ra khỏi Đảng những nhân vật lười biếng, mất phẩm chất, chỉ biết nói về Nghị quyết của Đảng như con vẹt, không có năng lực nhưng chiếm chỗ quan trọng, là đầu mối gây bất hòa trong Đảng. Ông kiến nghị cần tổ chức để đưa nông dân ra đồng làm việc một cách tự giác, để phát triển nông nghiệp. Đưa thanh niên học sinh đi học ở nước ngoài (không phải chỉ làm thuê) để có kiến thức về phục vụ xây dựng phát triển đất nước vv…
Trần Độ có 04 câu thơ giãi bày tâm sự thật ngao ngán (và được một số tài liệu đăng lại khác nhau):
Bản 1
Những mơ xoá ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ác xóa đi, thay bằng cực thiện
Tháng ngày biến hoá, ác luân hồi.

Bản 2
Những mơ xoá ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ngỡ ác xóa rồi thay cực thiện
Ai hay, biến đổi, ác luân hồi.


Chính vì các quan điểm nêu trên, ông bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tiếng vỗ tay trong một đám tang
Để tưởng nhớ công lao to lớn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đối với sự phát triển kinh tế xã hội vùng tứ giác Long Xuyên, lãnh đạo và nhân dân địa phương quyết định đổi tên kênh Tuần Thống- T5 thành kênh Võ Văn Kiệt.
Ở đầu kênh có tấm bia đá hoa cương khắc bài văn bia do Anh Nguyễn Minh Nhị (nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh) chấp bút.  Khi được giao nhiệm vụ này, Anh Bẩy hiểu rõ “khôn văn tế, dại văn bia ” nên đã lao tâm, khổ tứ, vắt óc chắt lọc từng con chữ từ trái tim thành kính, ngưỡng mộ vị Thủ tướng của nhân dân, để lại áng văn sâu sắc đi vào lòng người.
Ngược lại với văn bia kể trên là “văn tế” trong đám tang của Trung tướng Trần Độ.
Bài điếu văn của Trưởng ban tang lễ do ông Vũ Mão vừa mới đọc xong, đã bị con trai Trung tướng Trần Độ là Đại tá Tạ Toàn Thắng đáp từ, lịch sự khước từ không chấp nhận trong tiếng vỗ tay đồng tình của những người đi viếng. Sự kiện hy hữu này, đã làm ông Vũ Mão mang tiếng để đời. Đại tá Tạ Toàn Thắng đã làm, chí ít bổn phận đạo hiếu làm con, là bênh vực lẽ phải cho cha mình!
Năm năm sau ngày mất của tướng Trần Độ, ngày 1/8/2007 tại hội trường Ba Đình, ông Vũ Mão viết bức thư “Nghị sỹ đóng vai nghệ sỹ bất đắc dĩ”, thanh minh, dù không đồng tình nhưng vẫn phải chấp nhận phân công của tổ chức, đọc bài điếu văn lại phải đọc cả thiếu sót khuyết điểm của người quá cố.
Ông biết, đó là điều tối kỵ chưa ai làm thế bao giờ nhưng vẫn phải làm (?)
Nghĩa tử là nghĩa tận. Đạo hiếu người Việt không bao giờ cho phép lương tâm người sống “nói xấu” người đã khuất, khi mà người đó thực ra đã dám sống trung thực với tổ chức của mình. Trần Độ không phải người đầu tiên. Ông chỉ là “hậu bối” của các bậc tiền nhân tiên liệt nước Việt như Chu Văn An…
Tiếng “vỗ tay” trong tang lễ là bài học đắt giá cho các vị chính khách chỉ biết nhìn vào “cái ghế” của mình nhân danh “ý thức tổ chức”, không dám hiểu thấu đáo công bằng của sự thật và tình nhân ái của con người. Lời sám hối muộn màng của ông Vũ Mão nhưng có còn hơn không!
Mảnh đất Thái Bình còn nhân vật rất nổi tiếng khác đó là ông Nguyễn Hữu Đang. Ông được Hồ Chí Minh tin tưởng giao cho nhiệm vụ chỉ huy xây dựng lễ đài để Người thay mặt toàn dân tộc đọc bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ ngày 2/9/1945 tại Ba Đình lịch sử.
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Nguyễn Hữu Đang tin tưởng, cống hiến  đi theo Đảng nhưng éo le thay đã phải trả bằng cái giá quá đắt! Ông bị xử lý oan trái trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, bị giam cầm 15 năm ở T75 (Hà Giang), muốn đến nơi ông ở phải đi qua các vùng đất đầy khắc nghiệt:
“  Muỗi Pắc Xum, hùm làng Đán  
Dốc cán Tỷ,  phĐồng Văn”
May thay, tuy muộn nhưng ông được lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhận ra sai  lầm, đã sửa sai, phục hồi, cấp nhà và thẻ cử tri.  Ngay lúc cuối đời , ông vẫn làm việc nghĩa, đã bán căn nhà được cấp ở Hà Nội để lấy tiền xây trường học cho trẻ em ở quê hương Thái Bình.
Những gì của Caesar trước sau cũng sẽ phải được trả cho Caesar
Đánh giá về Trung tướng Trần Độ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết (ngày 12/7/2006), nguyên văn như sau:
Trần Độ là một thanh niên yêu nước, sớm giác ngộ và tham gia đấu tranh cách mạng, trở thành người cộng sản kiên cường. Vào quân đội, Trần Độ là cán bộ trẻ thuộc lớp cán bộ Trung đoàn, Đại đòan, Quân khu đầu tiên, trở thành vị tướng có đức có tài, đã có nhiều công lao trong  hai cuôc kháng chiến vĩ đại chống đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Trần Độ có nhiều suy tư trăn trở về con đường phát triển tiến lên của đất nước, về xây dựng Đảng, sống liêm khiết trung thực, luôn đoàn kết với đồng bào, đồng chí, đấu tranh chống  biểu hiện tiêu cực tham nhũng, quan liêu mất dân chủ.
Trong tìm tòi nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Trần Độ manh dạn nêu ý kiến suy nghĩ cá nhân nhưng có lúc chưa tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc. Trung tướng Trần Độ là một con người yêu nước và cách mạng, suốt đời chiến đấu cho lý tưởng của Đảng, vì độc lập của dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.
Chúng ta mãi mãi thương tiếc Trung tướng Trần Độ.
Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (viết ngày 2/5/2007):
“Tôi biết nhiều về anh Trần Độ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả anh và tôi cùng ở Trung ương Cục miền Nam. Năm 1941 anh bị thực dân Pháp bắt kết án 15 năm tù đầy đi Sơn La. Năm 1944, anh vượt ngục về công tác ở Ban tuyên truyền Trung ương.
Anh Trần Độ cống hiến gần hết cuộc đời mình cho dân, cho nước suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trực tiếp chiến đấu và chỉ huy ở chiến trường trên cương vị Phó Chính ủy Quân giải phóng miền Nam-Phó bí thư Quân ủy Miền (thời kỳ chống Mỹ). Đánh giá con người nói chung, sự cống hiến, một chặng đường dài trong đấu tranh cách mạng, ít ai không có vấp váp sai phạm ở mức độ khác nhau. Đó cũng là lẽ bình thường trong một chặng đường và cả cuộc đời.
 Đảng ta không chủ trương lấy công thay cho lỗi lầm, ngược lại cũng không vì lỗi lầm mà phủ định hết giá trị của sự cống hiến. Vấn đề ở đây phải hết sức công bằng, có sức thuyết phục cao.
Hơn nữa, chúng  ta cần xem xét thuộc quan điểm, chủ trương như trước đổi mới và đổi mới ban đầu và ở những chặng sau này. Có những cái ta cho là đúng trước đây, khi đổi mới và càng về sau càng thấy là nó sai hoặc trước đây là sai nghiệm trọng nhưng khi đổi mới lại là đúng như trường hợp đồng chí Kim Ngọc (Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú).
Ngay cả đổi mới lúc đầu với mức hiện nay cũng có nhiều mức khác biệt, ngay cả trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Lịch sử sẽ phán xét công minh nhưng trước tiên mỗi một cá nhân  cũng phải sòng phẳng với lịch sử. Với tinh thần ấy, tôi tin việc xuất bản cuốn sách “Tướng Trần Độ” là việc làm kịp thời và rất có ý nghĩa”.
Thay cho lời kết
Nói về  tướng Trần Độ  phải khẳng định đó là một nhân vật văn võ toàn tài. Thế hệ chúng tôi, những người nay đã trong độ tuổi 60-70, những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước luôn háo hức, say sưa và xúc động đọc trên báo, và nghe trên đài phát thanh rất nhiều những bài viết, bài nói của một người tên là Trần Độ. Những bài báo, những câu chuyện phần lớn ông dành cho thanh niên giầu cảm xúc , hấp dẫn, hóm hỉnh và rất lôi cuốn. Cuộc đời binh nghiệp hiển hách của ông càng làm tăng thêm sức thuyết phục của những bài viết và bài nói của ông. Có lẽ những đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thủ tướng Võ Văn Kiệt, hai trong số những công thần hàng đầu của nước Việt Nam hiện đại về tướng Trần Độ là đầy đủ, chí tình, chí lý.
Xin mượn câu đối của tiến sĩ  Hà Sĩ Phu tặng Trung tướng Trần Độ  để thay cho kết luận của bài viết này:
“Văn võ tung hoành, trung tướng phong trần, thế sự song kiên song trọng đảm.
Bắc Nam xuất nhập, đại quân tế độ, hùng binh nhất trượng, nhất đan tâm.”
TVT
--------------

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Bàn về "Kỷ vật" Chủ tịch nước trao cho Tổng thống Obama

 
             Lần này tại cuộc gặp mặt tại Nhà Trắng, cuối buổi họp báo của hai nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam, ông Obama đã tiết lộ món quà "qúy báu" mà chủ tịch nước Việt Nam gửi tặng cho ông là lá thư của cụ Hồ gửi cho Tổng thống Truman ngày 28/02/1946, với tư cách chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng ông Truman bỏ lá thư này vào thư viện lưu trữ mà không trả lời. Lý do là, tháng 7/1945 lúc đó Hoa Kỳ chưa xác định được cụ Hồ chính là Nguyễn Ái Quốc,...
… Lá thư này đã được cố Chủ tịch VNDCCH, ông Hồ Chí Minh gửi cho Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó, ông Harry Truman hồi năm 1946 để xin Hoa Kỳ giúp đỡ trong chiến tranh với Pháp. Nội dung lá thư như sau:
"Hà Nội, 28/2/1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội
Gửi ngài Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Washington DC
Thay mặt chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi xin thông báo cho ngài rằng trong quá trình đàm thoại giữa Chính phủ Việt Nam và các đại diện của Pháp, Pháp đã đòi hỏi sự ly khai của Nam Bộ và sự quay trở lại của quân đội Pháp tại Hà Nội.
Trong khi đó người dân và quân đội Pháp đang hoạt động tích cực chuẩn bị cho một cuộc đảo chính ở Hà Nội và gây hấn quân sự.Vì vậy, đích thân tôi đưa ra lời yêu cầu tha thiết nhất tới Ngài và nhân dân Hoa Kỳ, hãy can thiệp khẩn cấp và hỗ trợ cho nền độc lập của chúng tôi, đồng thời giúp cho các cuộc đàm phán tôn trọng hơn các nguyên tắc của Điều lệ Đại Tây Dương và San Francisco.
Kính thư,
Hồ Chí Minh"
> Thiên hạ đang bàn nhau cái động tác chủ tịch Trương đưa lá thư của cụ Hồ cho Tổng thống Obama để có mục đích gì? Tôi xin phân tích về cả 2 nguyên nhân khách quan và chủ quan để rõ vấn đề. Vấn đề là tại sao giờ này mới đưa lá thư này mà trước nay không đưa? Đó là mấu chốt của vấn đề.
Có 5 yếu tố chủ quan từ Việt Nam
----------------

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Quan hệ Việt-Mỹ: “Thời điểm cho hợp tác toàn diện”

 
… Chương trình nghị sự không ngừng được bổ sung những lĩnh vực hợp tác mới, chưa từng có trước đó; từ song phương là chính, hợp tác đã mở rộng ra các vấn đề đa phương, khu vực.  Về kinh tế, Việt Namyêu cầu Mỹ công nhận qui chế kinh tế thị trường của Việt Nam, dành cho Việt Nam qui chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP).  Hai nước cùng tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định có ý nghĩa chiến lược đối với hợp tác kinh tế khu vực và đối với mỗi nước. Về khoa học - công nghệ, hai bên hợp tác về công nghệ không gian, năng lượng hạt nhân, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Việt Nam
…Hợp tác ngày càng đi vào chiều sâu, thể hiện qua 3 khía cạnh. Một là, hai bên hình thành các cơ chế đối thoại mới, trong đó có đối thoại chính trị-an ninh-quốc phòng, đối thoại chính sách quốc phòng, đối thoại về châu Á-Thái Bình Dương, đối thoại về biển, tạo cơ hội để trao đổi, tham vấn những vấn đề thực chất trong quan hệ hai nước và liên quan hòa bình, ổn định, hợp tác khu vực…
… Các cam kết trong TPP cũng buộc Việt Nam phải điều chỉnh, hoàn thiện và nỗ lực hơn nữa trong việc tái cơ cấu nền kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này có ý nghĩa quan trọng về dài hạn với nền kinh tế Việt Nam…. tham gia TPP thể hiện một bước trưởng thành của nền kinh tế Việt Nam, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội, mà còn mang ý nghĩa đối ngoại, chiến lược, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong ASEAN và khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
-----------------

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

"NGOẮC TAY" MỸ-TRUNG VỀ HOÀNG SA 1974 (?!)

(Có dựa theo một số Tài liệu lưu trữ 
tại Bộ quốc phòng Trung Quốc 
và Tài liệu quân đội VNCH)
T.L THAM KHẢO
Sau khi cưỡng chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) vào ngày 21 tháng 12 năm 1956, đến năm 1974, dùng chính sách ngoại giao "bóng bàn" bang giao được với Hoa Kỳ, Trung Quốc đã chuẩn bị khá kỹ càng kế hoạch bành trướng tại Biển Đông. Ngoài tầm quan trọng về mặt quân sự, với dân số quá đông trên 1 tỷ người, Trung Quốc cần tận dụng các tài nguyên về ngư sản và khoáng sản tại vùng biển chưa được khai thác này để sống còn. Người Mỹ lúc đó đã rút quân khỏi Việt Nam (1-1973) và cũng đã có kế hoạch triệt thoái khỏi toàn vùng Đông Nam Á bằng cách đóng cửa các cơ sở quân sự quan trọng tại Phi Luật Tân như căn cứ Không Quân Clark Air Base, căn cứ Hải Quân Subic Bay.
Lo ngại rằng sự vắng mặt của mình sẽ tạo cơ hội tốt cho Nga Xô bành trướng nên Hoa Kỳ cũng muốn có một lực lượng tương đối mạnh khả dĩ có thể thay thế họ ngăn chận và cầm chân lực lượng đối thủ chiến tranh lạnh hàng đầu. Trung Quốc đang có tham vọng bành trướng tại Biển Đông, còn Hoa Kỳ muốn ngăn chận ảnh hưởng của Nga Xô tại vùng này nên chúng ta không ngạc nhiên khi "kẻ cắp bà già" bắt tay nhau, Hoa Kỳ đã ngầm thỏa thuận để Trung Quốc ngang nhiên lấn chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH và sau này tiến xa hơn tới tận Trường Sa, cách lãnh thổ Trung Quốc cả ngàn cây số.
Để mở đầu kế hoạch lấn chiếm, trên mặt ngoại giao, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đột nhiên lên tiếng đòi chủ quyền tại Hoàng Sa, đồng thời lén lút cho ngư thuyền võ trang chở quân lính giả dạng dân đánh cá đổ bộ lên một số đảo do VNCH kiểm soát từ lâu trong vùng Hoàng Sa. Dự đoán thế nào phía VNCH cũng phản ứng mạnh mẽ, Chính phủ Trung Quốc từ các giới chức cao cấp nhất như Chủ Tịch Mao Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình, Châu Ân Lai và toàn bộ Quân ủy Trung ương (Trung Quốc) đã đồng thanh quyết định sẽ dùng biện pháp quân sự để đánh chiếm Hoàng Sa từ tay VNCH khi có thời cơ.
Khởi đầu, họ đổ quân lên các đảo, đồng thời cho tàu bè và chiến hạm khiêu khích lực lượng VNCH. Nếu các chiến hạm VNCH lặng lẽ cúi đầu bỏ đi như lời một viên chứa Hoa Kỳ tại Việt Nam đe dọa "nếu các chiến hạm Việt Nam nổ súng tại Hoàng Sa, Hải quân VNCH sẽ bị xoá tên ngay, "Trung Quốc sẽ ngang nhiên chiếm Hoàng Sa theo chiến thuật tiệm tiến "tằm ăn dâu" lấy từng đảo một như họ làm tại Trường Sa sau này. Ngược lại, nếu Việt Nam Cộng Hòa tham chiến, dù các Hải quân VNCH có chiến thắng đánh chìm tất cả các chiến hạm Trung Quốc tại chỗ nhưng vẫn không thể giữ được Hoàng Sa vì lực lượng tăng viện Trung Quốc gồm nhiều chiến hạm tối tân và có cả phi cơ tham chiến sẽ kéo tới đánh chìm các chiến hạm VNCH dễ dàng. Vì vậy, khi TDH Lý Thường Kiệt được phái ra Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 1 năm 1974 để thám sát, chính phủ Trung Quốc liền lập tức xử dụng phương tiện quân sự. Tài liệu Trung Quốc tóm lược kế hoạch lấn chiếm này như sau:
Theo tài liệu của Trung Quốc còn lưu: "Lo ngại Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng khiêu khích để chiếm Hoàng Sa, quân trên đảo báo cáo về Trung ương và lập tức được trình lên thượng cấp. Các đồng chí Zhou Enlai và Phó Chủ tịch nhà nước Ye Jianying đệ trình một kế hoạch phản công bằng quân sự và được chủ tịch Mao Zedong mau chóng chấp thuận. Kế hoạch này bao gồm việc tăng cường chiến hạm tuần tiễu và dùng biện pháp quân sự để giữ đảo. Đồng chí Đặng Tiểu Bình cùng giới lãnh đạo quân sự thảo kế hoạch đánh chiến hạm địch, tái chiếm các đảo bị Việt Nam Cộng Hòa xâm lấn, đồng thời kiểm soát hoàn toàn vùng Hoàng Sa"....
Như vậy, chúng ta thấy rõ sách lược bành trướng tại Biển Đông đã được Trung Quốc chuẩn bị kỹ càng, khởi đầu bằng việc gây hấn tiến chiếm Hoàng Sa. Đây là một quốc sách quan trọng đã được hoạch định từ lâu nên trận hải chiến tại Hoàng Sa đã được cố ý dự trù, tiên liệu, chuẩn bị và thiết kế chu đáo. Về phía VNCH, trong lúc phải đối đầu trong trận chiến một mất một còn với Việt Cộng trong nội địa, việc tham chiến tại Hoàng Sa chỉ là một sự tình cờ, cũng như TDH Lý Thường Kiệt HQ -16 ra Hoàng Sa với nhiệm vụ chính chở phái đoàn Công Binh thám sát thiết lập phi trường, tình cờ phát hiện ngư thuyền và quân Trung Cộng trong vùng. Sau đó, VNCH mới hối hả phái các chiến hạm khác ra tăng cường.
Đến đây tưởng cũng nên ghi nhận một điểm son về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã đích thân thăm Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải để duyệt xét tình hình và ra lệnh bằng thủ bút cho phép Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải (TL/HQ/V1DH), được toàn quyền hành động, kể cả việc xử dụng võ lực để bảo vệ Hoàng Sa. Phó Ðề Ðốc Thoại đôi lúc cũng cảm thấy đơn độc, đã thi hành đúng đắn chỉ thị của thượng cấp khi ra lệnh "Khai Hỏa." Trong lúc chiến trường quốc nội gay go sôi động, ngoài biển Trung Quốc đe dọa lấn chiếm Hoàng Sa. Hành động "quyết chiến" đối đầu với kẻ thù truyền kiếp để bảo vệ lãnh thổ của vị nguyên thủ VNCH phải được coi là quyết định lịch sử, có thể đem so sánh với thời "Hội Nghị Diên Hồng." Sau đó, viên Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải và các chiến sĩ Hải Quân VNCH nhất nhất tuân-hành quân lệnh do vị Tổng Tư Lệnh ban-hành, chiến đấu rất anh dũng tại Hoàng Sa theo đúng truyền thống chống ngoại xâm của tiền nhân Việt-tộc.

CÁC CHIẾN HẠM THAM CHIẾN
Khi các chiến hạm VNCH được phái tới Hoàng Sa, phía Trung Cộng (từ dùng trong các tài liệu để lại của VNCH) cũng tăng cường lực lượng hải quân của họ. Lúc đầu chỉ có 2 ngư thuyền võ trang 402 và 407, sau đó thêm nhiều chiến hạm nhập vùng. Về tổng số chiến hạm tham chiến, tài liệu của Trung Cộng ghi rất rõ ràng. Họ cho biết như sau:
Ngày 17 tháng 1, Quân Ủy Trung Ương ra lệnh Hạm Đội Nam Hải lập tức phái chiến hạm tuần tiễu tại Hoàng Sa, đồng thời ra lệnh Quân Khu Hải Nam gửi quân lính theo tàu ra giữ đảo. Theo lệnh Quân Ủy Trung Ương, Quân Khu Quảng Châu ra lệnh Hạm Đôi Nam Hải phái hai Trục Lôi Hạm 396 và 389 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là T-396 và T-389) thuộc Phân Đội Trục Lôi 10 căn cứ tại Quảng Châu và hai Hộ Tống Hạm loại Kronstadt 271 và 274 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là K-271 và K-274) thuộc Phân Đội chống Tiềm Thủy Đĩnh (TTÐ) 73 căn cứ tại Yulin, lên đường ra Hoàng Sa vào các ngày 17 và 18 để tuần tiễu. Ngoài ra, Quân Khu Hải Nam còn phái 4 đại đội Bộ Binh để chiếm đóng các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền và Quang Hòa. Thêm vào đó, Căn Cứ Hải Quân Quảng Châu còn phái 2 Tuần Duyên Hạm 281 và 282 thuộc Phân Đội Chống TTĐ 74 tới Hoàng Sa sau đó làm lực thành phần tiếp ứng.
Toàn thể lực lượng được đặt dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam hải tên Wie Ming Sen lúc đó có mặt tại căn Cứ Hải Quân Yulin nằm vế phía Nam đảo Hải Nam. Bộ Tư Lệnh Hành Quân được đặt trên soái hạm K-271 thuộc Phân Đội 73. Về không yểm, quân khu Quảng Châu ra lệnh Phi Đoàn 22 thuộc Hạm Đội Nam Hải cử 2 phi cơ túc trực bao vùng, đồng thời yêu cầu Không Quân thuộc Quảng Châu sẵn sàng yểm trợ. Nếu nhìn vào lực lượng Hải, Không và Lục quân được phái ra Hoàng Sa, mọi người đều thấy chúng ta chỉ đưa ra một lực lượng quân sự rất hạn chế với mục đích bảo vệ Hoàng Sa chứ không phải tiêu diệt hạm đội địch.
Liệp tiềm đĩnh số 271 của TQ,
chụp từ tàu của VNCH trước khi nổ súng
Khi phân đội K-271 và K-274 trên chở một trung đội Bộ Binh tới vùng Hoàng Sa cũng là lúc hai KTH Trần Khánh Dư và TDH Lý Thường Kiệt của VNCH đang săn đuổi và đe dọa các ngư thuyền 402 (Nam Ngư 1) và 407 (Nam Ngư 2) của Trung Cộng. Các chiến hạm Trung Cộng lập tức phản ứng bằng cách gửi tín hiệu yêu cầu chiến hạm VNCH rời vùng. Tối 17 tháng 1, TDH Trần Bình Trọng (HQ-5) và HTH Nhựt Tảo (HQ-10) rời quân cảng Đà Nẵng và tới Hoàng Sa vào buổi chiều ngày 18 tháng 1. Phía Trung Cộng dùng chiến thuật "khiêu khích," cho các ngư thuyền bám sát chiến hạm VNCH để cản đường. Về những vận chuyển cắt đường và những hành động khiêu khích trên biển, tài liệu Trung Cộng tường thuật như sau:
Sáng ngày 18 tháng 1, sau khi tuần tiễu vùng Hoàng Sa, các chiến hạm VNCH một lần nữa lại có những hành động thù nghịch, tiến gần ngư thuyền 407 và dùng loa phóng thanh đuổi ngư thuyền này ra khỏi vùng. Tuy phải đối diện với tàu lớn và đại pháo, thuyền trưởng ngư thuyền 422 vẫn không sợ hãi trả lời: "Đây là lãnh hải Trung Quốc, các anh phải rời xa ngay." Phía VNCH có một sĩ quan đe dọa: "Nếu các anh không lập tức rời vùng sẽ bị đánh chìm." Khi thấy ngư thuyền 407 vẫn không bỏ đi, chiến hạm Trần Khánh Dư trở nên giận dữ, dùng hết tốc lực đụng vào khiến phòng lái ngư thuyền 407 bị thủng một lỗ lớn. Lúc này toán chiến hạm K-271 cũng nhập vùng, lại gửi tín hiệu yêu cầu các chiến hạm VNCH rời khỏi vùng biển Hoàng Sa. Tới đêm 18 tháng 1, tình hình rất căng thẳng, đôi bên canh chừng lẫn nhau nhưng không có đụng độ.
Phía Trung Cộng đã tả lại khá rõ ràng biến cố KTH Trần Khánh Dư cố ý đụng vào ngư thuyền 407 khiến đài chỉ-huy bị phá-hủy, phòng lái bị thủng một lỗ lớn, nhưng chi tiết "dùng hết tốc lực" có vẻ hơi quá đáng. Theo Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng KTH Trần Khánh Dư, cho biết lúc đó, tình hình rất căng thẳng, các ngư thuyền Trung Cộng cố ý vận chuyển chận đường các chiến hạm VNCH, ngăn cản không cho lại gần hải-đảo để bảo vệ quân Trung Cộng trên đó. Thoạt đầu HQ-4 đã dùng mọi biện pháp "hòa bình" đúng theo luật đi biển yêu cầu họ rời khỏi lãnh hải VNCH nhưng các ngư thuyền này vẫn không bỏ đi.
Khu trục hạm HQ-4 - Trần Khánh Dư
Muốn tìm hiểu thêm về quyết định cố ý "đụng tàu" có tính toán này, chúng ta cần biết rõ nhiệm vụ của Hạm-Trưởng HQ-4 lúc bấy giờ. Theo đúng lệnh hành quân, cho tới ngày 18 tháng 1, Hạm Trưởng HQ-4 vẫn còn kiêm nhiệm chức vụ Chỉ-Huy-Trưởng Hành Quân bảo-vệ quần đảo Hoàng Sa. Để chu toàn trọng trách, chiến hạm VNCH phải đổ quân để lấy lại các đảo đã bị quân Trung Cộng chiếm đóng bất hợp pháp. Vì tàu Trung Cộng đang tuần tiễu quanh các đảo có thể liều lĩnh đụng chìm hay bắn vào các xuồng đổ bộ nên trước hết phải tìm cách cô lập hóa lực lượng yểm trợ này để bảo đảm an toàn cho toán đổ bộ. Thượng cấp lại đã ra lệnh "chiếm lại các đảo bằng biện pháp hòa bình" trước khi xử dụng vũ lực. Do đó Hạm Trưởng HQ-4 chỉ có thể biểu lộ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bằng cách ủi vào ngư thuyền Trung Cộng như một hành động cảnh cáo có tính toán buộc chúng phải rời vùng, trong lúc hải pháo sẵn sàng yểm trợ cho toán đổ quân nếu Trung Cộng nổ súng trước.
Vì vậy, Hạm Trưởng San mới ra lệnh dùng mũi tàu "ủi nhẹ" vào ngư thuyền 407 thấp hơn để cảnh cáo và cũng tượng trưng việc "đẩy" ngư thuyền Trung Cộng ra khỏi hải phận VNCH. Nếu bị KTH Trần Khánh Dư cao lớn "dùng hết tốc lực" đụng vào, chắc ngư thuyền 407 đã về với hà bá, đâu còn cơ hội để kể lại chuyện này. Theo lời các thủy thủ trên các chiến hạm Việt Nam, các thủy thủ trên tàu Trung Cộng đều có những cử chỉ khiêu khích thô tục, chửi bới khiến nhân viên VN rất tức giận, nhưng vì tuân lệnh "chạm trán hòa bình" nên buộc phải tự chế. Việc KTH Trần Khánh Dư đụng vào ngư thuyền 407 đã khiến các thủy thủ Việt Nam "lên tinh thần," hăng hái như đã trả được thù.
Về biến cố "đụng tàu" này, tác giả Ðào Dân hiện diện trên TDH Lý Thường Kiệt được chứng kiến tận mắt, thuật lại như sau:
Bốn chiếc tàu, 2 lớn ở ngoài, 2 nhỏ ở giữa vẫn thả trôi bình yên để mặc cho con người đấu khẩu. Có lẽ không còn kiên nhẫn được nữa, HQ-4 nổ máy đâm thẳng ngang hông tàu địch, đẩy nó ra khơi. vì vận tốc chậm, có lẽ khoảng 2 máy tiến 1, nên không có thiệt hại nào cho bên địch, nếu có, có lẽ bát đũa nồi nêu cơm nước bị đổ bể tùm lum trong phòng ăn và nhà bếp. Trước thái độ quyết liệt của HQ-4, tàu Trung Quốc đành nhượng bộ, mở máy, từ từ tăng tốc độ chạy về phía Nam của 2 đảo Duy Mộng và Quang Hòa, để lại chiến trường một vùng nước bọt trắng xóa. Chúng tôi toàn thắng mà không tốn một viên đạn (chỉ tốn một cái húc của Trung Tá Vũ Hữu San). Ðến đây người viết cần phải ngừng lại một chút vừa để hoan nghênh Hạm-Trưởng San.
Tuần dương hạm HQ-16 - Lý Thường Kiệt
Riêng đối với Hạm Trưởng San, chuyện đụng tàu trên biển này chắc cũng đã gây ra không ít suy-tư, vì theo công pháp quốc tế, chiến hạm hay thương thuyền của một quốc gia được coi như lãnh thổ của quốc gia đó. Như trước đây, Hoa Kỳ đã buộc Nhật Bản ký văn bản đầu hàng vô điều kiện chấm dứt thế chiến II tại Thái Bình Dương trên Thiết-Giáp Hạm Missouri bỏ neo trong vịnh Tokyo, một hành động tượng trưng coi như Nhật Bản đã phải ký hòa ước trên đất Hoa Kỳ. Làm hạm trưởng, việc để chiến hạm mắc cạn hay đụng vào tàu khác là điều tối kỵ thường đưa tới việc mất chức. Hạm Trưởng San đã cố ý đụng tàu Trung Cộng, chẳng khác nào tự ý "xâm lăng" Trung Quốc có thể đưa tới những hậu quả nghiêm trọng. Trong trường-hợp có đối-thoại hay dàn-xếp thương-thuyết Việt-Hoa, Ông rất có thể trở thành "vật hy-sinh" và bị cả hai quốc-gia kết tội là kẻ gây nên chiến-tranh. Thiết tưởng đây là một hành động can đảm tuy tự chế, chẳng khác danh tướng Trần Quốc Toản đời Trần đã vì tức giận giặc Tàu xâm lăng đã bóp nát quả cam trong tay lúc nào không biết!
Một chi tiết khác khá quan trọng là Trung Cộng cũng gửi 2 tiềm thủy đĩnh tham dự chiến dịch Hoàng Sa, nhưng sau khi trận chiến đã kết thúc. Tác giả Lu Qi Minh trong bài viết nhan đề Tiềm Thủy Ðĩnh Trung Cộng Ðầu Tiên Tham Dự Chiến Dịch cho biết như sau:
Vì lo ngại Hoa Kỳ và VNCH không chịu rút lui dù đã bị thất bại, nên Hạm Ðội Trung Cộng vẫn phải gửi chiến hạm tăng cường lực lượng tại Hoàng Sa. Lúc đó trời bão, biển động mạnh nên các chiến hạm không rời bến được, do đó hai tiềm thủy đĩnh được lệnh công tác tại Hoàng Sa. Ðây là lần đầu tiên tiềm thủy đĩnh dược dùng vào công tác chiến đấu nên phải có sự chấp thuận đặc biệt của chủ tịch Mao Trạch Ðông. Hai tiềm thủy đĩnh dùng trong công tác mang số hiệu 282 và 289.
Tóm lại về lực lượng tham chiến, phía Trung Cộng có 2 ngư thuyền võ trang mang số 402 và 407, hai trục lôi hạm mang số 389 và 396, hai chiếc Kronstadt mang số 271 và 274 và hai Tuần Duyên Hạm 281 và 282 tăng viện. Trong số này, chỉ có 4 chiến hạm T-389, T-396, K-271 và K-274 trực tiếp tham chiến. Còn hai Tuần Duyên Hạm 281 và 282 tới Hoàng Sa vào hồi 11 giờ 49 ngày 19 tháng 1, lúc đó trận hải chiến đã kết thúc (vào hồi 11 giờ). Chính hai chiến hạm mới đến này đã bắn chìm HTH Nhựt Tảo. Hai tiềm thủy đĩnh mang số 282 và 289 cũng tới Hoàng Sa sau đó để tăng cường tuần tiễu và đề phòng lực lượng VNCH trở lại tái chiếm quần đảo.

TRẬN HẢI CHIẾN
Tài liệu Trung Cộng nói về trận hải chiến được tóm lược như sau:
Rạng sáng ngày 19 tháng 1, các chiến hạm VNCH chia thành hai phân đội. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo hoạt động trong vùng lòng chảo, từ phía Bắc gần đảo Hoàng Sa tiến về hướng Nam gần đảo Quang Hòa. Trong khi đó, KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần Bình Trọng bọc từ phía ngoài biển cũng tiến về đảo Quang Hòa từ hướng Tây Nam. Nếu nhìn vào tầm cỡ và trọng tấn, phía VNCH gồm 3 chiến hạm lớn, trọng tấn khoảng 1,770 tấn mỗi chiếc và một chiến hạm nhỏ trọng tấn khoảng 650 tấn, như vậy tổng cộng trọng tấn phía VNCH khoảng 6,000 tấn, trong khi phía Trung Cộng có hai chiến hạm loại Kronstadt trọng tấn 570 tấn và hai trục lôi hạm (TLH) loại T-43 trọng tấn 300 tấn, tổng cộng khoảng 1,760 tấn. Về vũ khí, phía Trung Cộng cỡ súng lớn nhất là 85 ly đôi trong khi VNCH có súng cỡ 127 ly. Như vậy về hỏa lực, phía VNCH cũng trội trội hơn. Các chiến hạm VNCH với hải pháo lớn chiếm vị trí bên ngoài lợi thế hơn, trong khi các chiến hạm Trung Cộng ở phía trong gần các đảo.
Trước ý đồ gây hấn của VNCH, theo chỉ thị của Quân Ủy Trung Ương, Quân Khu Quảng Châu đã đặt các đơn vị trực thuộc trong tình trạng báo động khẩn cấp, đồng thời ra lệnh cho các chiến hạm tại Hoàng Sa sẵn sàng đối phó nếu bị tấn công. Các chiến hạm Trung Cộng được lệnh phối trí tại vùng đảo Quang Hòa để bám sát các chiến hạm VNCH. Trước các họng đại pháo của chiến hạm VNCH, các chiến hạm Trung Cộng tuy nhỏ hơn nhưng không hề nao núng.
Hai TLH T-396 và T-389 có nhiệm vụ bám sát TDH Lý Thường Kiệt. Mặc dù nhỏ hơn với trọng tấn chỉ bằng một phần tư, T-396 vẫn không giảm tốc độ khi cản đường. TDH Lý Thường Kiệt ỷ vào súng lớn và vỏ tàu dầy hơn, chẳng những không đổi hướng mà còn dùng mũi đụng vào T-389 khiến sườn tàu và pháo tháp bị hư hại, sau đó còn cắt ngang đội hình Trung Cộng. Các chiến hạm VNCH còn tiến về phía đảo Quang Hòa thả xuống 4 xuồng cao su trên chở khoảng 40 quân VNCH để đổ bộ. Tuy lần đầu tiên đụng độ, nhưng dân quân Trung Cộng vẫn nổ súng khiến VNCH bị chết 1, bị thương 3 khiến toán đổ bộ VNCH phải rút lui. Khi thấy cuộc đổ bộ bị thất bại, phía VNCH đổi chiến thuật, lợi dụng ưu thế về hỏa lực và vị trí thuận lợi để tấn công các chiến hạm Trung Cộng.
Trước hỏa lực hùng hậu của phía VNCH, các chiến hạm Trung Cộng lần lượt bị trúng đạn. Phía Trung Cộng lập tức phản công. Các HTH K-271 và K-274 tấn công các KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần Bình Trong của VNCH, trong khi các TLH T-396 và T-389 đối đầu TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Các chiến hạm VNCH khai triển đội hình cố giữ khoảng cách lớn hơn hầu tận dụng hải pháo tầm xa, nhưng các chiến hạm Trung Cộng có vận tốc cao hơn nên khoảng cách đôi bên mỗi lúc càng giảm, có lúc gần như sát vào nhau. Vì vậy, các chiến hạm Trung Cộng tuy cỡ súng nhỏ, nhưng có nhịp bắn cao hơn nên chiếm được lợi thế. Sau mười ba phút giao tranh, hàng ngũ chiến hạm VNCH đâm ra rối loạn.
Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư là soái hạm của Hải Đội VNCH nên bị hai HTH K-271 và K-274 dồn nỗ lực vây đánh. Mặc dầu KTH Trần Khánh Dư đã tận dụng hỏa lực dữ dội để mong làm chủ chiến trường, nhưng vẫn bị yếu thế vì hỏa lực Trung Cộng tập trung vào các giàn hải pháo chính và bị trúng đạn hư hại nhiều nơi khác, khói đen tỏa ra nhiều nơi, vì vậy phải rời vòng chiến. K-274 không bỏ lỡ cơ hội, theo sát KHT Trần Khánh Dư. Thấy vậy TDH Trần Bình Trọng vội chận đánh K-274 ngay bên ngang hông để cứu nguy cho Soái Hạm.
Bị hỏa lực của hai chiến hạm VNCH tấn công cả hai phía trước và sau, K-274 bị trúng đạn nhiều nơi, tay lái bị bất khiển dụng phải dùng hệ thống lái tay, nhưng vẫn chạy hết tốc lực, cuối cùng chiếm lại được thế thượng phong. Tuy được lợi thế trong lúc cận chiến, nhưng cũng dễ bị trúng đạn đại pháo của các chiến hạm VNCH. K-274 bị một viên đạn bắn trúng đài chỉ huy khiến nhiều người chết và bị thương nên hệ thống truyền tin bị rối loạn nên phải dùng thủ lệnh. Tuy vậy, chiến hạm vẫn phản công khiến KTH Trần Khánh Dư bị trúng đạn tại nhiều chỗ, hiệu kỳ bị bắn đứt bay xuống biển
Xa hơn về phía Bắc, các TLH T-396 và T-389 nghênh cản TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Lúc đầu, chiến hạm Trung Cộng tập trung hỏa lực vào mục tiêu lớn hơn là TDH Lý Thường Kiệt, nhưng bị HTH Nhựt Tảo chận bắn dữ dội. Các chiến hạm Trung Cộng chuyển xạ nhắm vào HTH Nhựt Tảo khiến kho đạn phát nổ, hầm máy bị cháy không còn vận chuyển được nữa. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt cũng bị trúng đạn nên rời vòng chiến. Thấy vậy, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng cũng hối hả rời vùng.
HQ-5 - Trần Bình Trọng
Phần tường thuật của Trung Cộng về cuộc hải chiến, tuy có đôi chút trung thực, nhưng nặng hơn về mặt tuyên truyền. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư đã không rời vùng dù bị hai chiến hạm Trung Cộng vây đánh gây thiệt hại, có tới 912 vết đạn trên vỏ tàu. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư là loại chiến-hạm tấn-công, kiến-trúc khoẻ nhất trong hải-đội với 4 phòng hầm máy chánh và nhiều phòng kín-nước khác, sức chịu-đựng rất cao. Khi tàu Trung-Cộng bắt đầu rút về hướng Tây, rơi vào đúng ngay tầm bắn hữu-hiệu của hải-pháo 76.2 ly, các chiến hạm Trung Cộng, đặc biệt K-274 bị trúng thêm mấy trái đạn lớn nữa, đến độ tê liệt.

CHIẾN LƯỢC CHIẾN THUẬT
Ðể đối đầu với hai phân đội chiến hạm VNCH, phía Trung Cộng cũng chia các chiến hạm thành hai phân đội. Các HTH K-271 và K-274 phối trí tại vùng Tây Nam đảo Quang Hòa để đối đầu với các KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần Bình Trọng, trong khi các TLH T-389 và T-386 chiếm vị trí xa hơn về phía Bắc để ngăn chận các TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Nhìn chung, các chiến hạm VNCH chiếm vị trí hình cánh cung bên ngoài đảo Quang Hòa, trong khi các chiến hạm Trung Cộng cũng dàn hình cánh cung đối đầu, nhưng nằm bên trong, gần đảo hơn. Các chiến hạm Trung Cộng tuy nhỏ, nhưng có vận tốc cao và nhịp bắn nhanh hơn nên đã xử dụng chiến thuật "cận chiến." Tài liệu Trung Cộng mô tả như sau:
Chiếm được lợi thế vì phối trí ở vòng ngoài và lợi dụng hải pháo có thể bắn xa hơn , các chiến hạm VNCH khai triển đội hình, gia tăng khoảng cách. Các chiến hạm Trung Cộng nhỏ và hỏa lực yếu hơn lại ở vào vị thế bên trong bất lợi nên phải thu hẹp chiến trường bằng cách mở hết tốc lực tiến về phía chiến hạm địch nhiều khi như cập vào nhau nên cỡ súng tuy nhỏ nhưng bắn nhanh nên các loạt đạn đều trúng mục tiêu.
Trong lúc cận chiến, các chiến hạm Trung Cộng cũng tuân hành chiến thuật và lời dạy của Mao Chủ Tịch dồn sức mạnh để tiêu diệt bộ phận đầu não địch, các chiến hạm 271 và 274 tập trung hỏa lực vào KTH Trần Khánh Dư là soái hạm địch, trong lúc các TLH 396 và 389 hướng mọi họng súng vào TDH Lý Thường Kiệt. Do đó, hai chiến hạm VNCH bị thiệt hại nặng nề.
Ðến đây, chúng ta thấy rõ cấp chỉ huy Trung Cộng đã sai lầm khi xác quyết "KTH Trần Khánh Dư là soái hạm địch" nên đã tập trung hỏa lực quyết tiêu diệt chiến hạm này. Thực tế, chúng ta đều biết soái hạm của hải đội VNCH là TDH Trần Bình Trọng. Vì sự nhận định không chính xác nói trên nên lúc khởi đầu trận chiến, các chiến hạm Trung Cộng đã bám sát "soái hạm" Trần Khánh Dư và "tập trung hỏa tiêu diệt các giàn hải pháo chính và thượng tầng kiến trúc khiến hệ thống truyền tin bị hư hại."
Vì bị hai chiến hạm Trung Cộng dồn nỗ lực chận đánh nên KTH Trần Khánh Dư bị trúng đạn khá nặng bên tả hạm. Theo báo cáo chính thức của Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển, tổng cộng KTH Trần Khánh Dư đếm được 37 lỗ đạn đường kính 4 tấc hay lớn hơn và 44 lỗ đạn khác nhỏ hơn 4 tấc. Giàn radar phòng-không bị suy-giảm năng-lực phát-thâu và radar hải hành tạm thời bất khiển dụng trong vòng hai giờ sau đó. Ðổi lại, soái hạm K-271 của Trung Cộng cũng bị trúng đạn tại đài chỉ huy gây thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Theo tài liệu chưa được phối kiểm của Trần Ðại Sỹ, Tư Lệnh Mặt Trận và Toàn Bộ Tham Mưu của Trung Cộng bị tử thương. Chiếc K-274 còn lại coi như không còn khả năng tác chiến.
 
HQ-4 - Trần Khánh Dư
TRƯỜNG HỢP HTH NHỰT TẢO (HQ-10)
Hộ tống hạm HQ-10 - Nhật Tảo
Tài liệu Trung Cộng cho biết:
Xa hơn về hướng Bắc, thừa lúc các TLH T-396 và T-389 dồn nỗ lực tấn công TDH Lý Thường Kiệt, HTH Nhựt Tảo tương đối rảnh rang liền bắn dữ dội vào hai chiến hạm Trung Cộng. Bị tấn công ác liệt, hai chiến hạm Trung Cộng chuyển xạ, tập trung hỏa lực nhắm vào HTH Nhựt Tảo khiến hầm đạn bị phát nổ. Chiếc T-389 liền bám sát và tác xạ dữ dội vào chiến hạm đã bị thương này, không để chạy thoát.
Tưởng cũng nên nói T-389 vừa được sửa chữa xong tại thủy xưởng ngày hôm trước thì đêm sau đã nhận được ra Hoàng Sa nên chưa đủ thì giờ để thử máy đường trường cũng như bắn thử hải pháo. Vì vậy, trong lúc hải chiến ác liệt, tuy HTH Nhựt Tảo của VNCH bị trọng thương, nhưng T-389 cũng bị chiến hạm VNCH bắn hư hại nặng. Đài chỉ huy hoàn toàn bị tiêu hủy, thủy thủ đoàn nhiều người chết và bị thương. Tuy nhiên những nhân viên còn lại vẫn không sợ chết, kiên trì giữ vững vị trí chiến đấu. Vì hầm chứa đạn bị bắn trúng thủng một lỗ lớn, một thủy thủ tuy đã bị thương nặng ở bụng và hai đầu gối nhưng vẫn cởi quần áo nhét vào lỗ thủng và tiếp đạn cho tới lúc chết tại chỗ. Hầm máy cũng bị bắn trúng nên bị cháy dữ dội, khiến tàu vô nước bị nghiêng, không còn dưỡng khí khiến cơ khí phó và 5 cơ khí viên tử trận tại chỗ. Cả hai T-389 và HTH Nhựt Tảo đều bị thương nặng, không tự điều khiển được nên trôi lại gần, có lúc đụng cả vào nhau. Dân quân trên T-389 có lúc đã dùng đại liên và lựu đạn để tấn công HTH Nhựt Tảo vì khoảng cách đôi bên quá gần.
Trong lúc đó, TDH Lý Thường Kiệt ở phía bên ngoài tác xạ dữ dội vào T-389. Tuy bị thương nặng, hầm máy bị cháy có thể phát nổ bất cứ lúc nào, TLH 389 vẫn chống trả dữ dội. Vì sợ bị bắn trúng, TDH Lý Thường Kiệt rời vùng hải chiến, vận chuyển ra hướng ngoài biển. Thấy TDH Lý Thường Kiệt bỏ đi, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng cũng rời vùng. Riêng HTH Nhựt Tảo vì bị hư hại nặng chỉ còn trôi trên mặt biển nên bị bỏ lại không còn đủ sức tự vệ. Lúc đó, hai chiến hạm Trung Cộng tăng viện là Tuần Duyên Hạm (TDH) loại Hainan mang ký số 281 và 282 thuộc phân đội chống tàu ngầm 74 do phân đội trưởng Liu Xi Zhong chỉ huy cũng vừa tới vùng vào hồi 11 giờ 4, sau đó mở cuộc tấn công. (Ghi chú của người viết: Theo tài liệu của Jane's Fighting Ship, TDH loại Hainan được Trung Cộng đóng mô phỏng theo loại chiến hạm SO-1 của Nga Sô, có trọng tải 320 tấn, vũ khí chính gồm 2 giàn hải pháo 57 ly đôi, một ở trước mũi và một ở sau lái, ngoài ra còn có 2 giàn đại bác 25 ly đôi cũng ở trước mũi và sau lái. Thủy thủ đoàn chừng người). Tuần Dương Hạm 281 tiến gần HTH Nhựt Tảo, tất cả các họng súng đều khai hỏa vào mục tiêu rõ ràng không còn tự vệ được. Đến 2 giời 52 phút chiều ngày 19 tháng 1, HTH Nhựt Tảo bị chìm tại vị trí chừng hai hải lý rưỡi về phía nam của bãi san hô Antelope.
HQ-10 - Nhật Tảo
HTH Nhựt Tảo lên đường ra Hoàng Sa cùng với TDH Trần Bình Trọng vào tối 17 tháng 1. Theo lời kể lại của Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc trong bài Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa HTH HQ-10 Nhựt Tảo được chỉ định xung vào Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm, với lý do chính là chiếc HTH này đang tuần dương ngay khu vực cửa khẩu Ðà Nẵng nên giảm bớt thời gian di chuyển, chiến hạm chỉ có một máy chánh khiển dụng mà thôi. Như vậy, HTH Nhựt Tảo không những là chiến hạm nhỏ, có hỏa lực yếu nhất trong Hải Ðội Ðặc Nhiệm mà tình trạng kỹ thuật cũng kém khả quan, chỉ còn một máy chánh.
Trong phúc trình Diễn Tiến Hành Quân Hoàng Sa ngày 21 tháng 2 năm 1974 của TDH Trần Bình Trọng cũng ghi rõ, "Ngày 18-01-1974 lúc 0315H (chi chú của người viết: 3 giờ 12 phút sáng), chiến hạm đế điểm hẹn với HQ-10 tại vị trí 083 độ đèn Tiên Sa 090 (ghi chú của người viết: hướng đông của hải đăng Tiên Sa, cách 9 hải lý). Hồi 0327H vì tình trạng kỹ thuật của HQ-10 kém và để đúng giờ hẹn tại Hoàng Sa theo như đã dự trù, chiến hạm đươc lệnh của Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 3) cho tăng máy, tách khỏi đội hình với HQ-10, trực chỉ đảo Cam Tuyền."
Trong một trận hải chiến, ngoài hỏa lực hải pháo, việc vận chuyển mau chóng vào vị trí thích hợp là yếu tố vô cùng quan trọng. Tình trạng kỹ thuật kém "chỉ còn một máy" của HTH Nhựt Tảo gây khó khăn trong việc vận chuyển có lẽ đã là nguyên nhân chính khiến chiến hạm này bị đánh chìm. Chúng ta tự hỏi nếu HTH Nhựt Tảo còn đủ hai máy chánh, dù bị bắn thiệt hại còn một máy vẫn có thể tự vận chuyển được, biết đâu có thể tới vùng an toàn, vì lúc đó các chiến hạm Trung Cộng đều đã bị hư hại nặng, không còn khả năng truy kích.
Tuy là chiến hạm yếu nhất, nhưng HTH Nhựt Tảo đã chiến đấu hăng hái và dũng cảm nhất. Khi thấy hai TLH T-389 và T-396 dồn nỗ lực tấn công TDH Lý Thường Kiệt, HTH Nhựt Tảo lập tức can thiệp, dùng hải pháo tác xạ chính xác chiến hạm Trung Cộng khiến T-389 bị trúng đạn vào đài chỉ huy, hạm trưởng tử thương, phòng máy bị cháy. Chiếc T-389 cũng bị hư hại nặng, trôi nổi trên mặt biển tương tự như HTH Nhựt Tảo, có lúc hai đối thủ đụng vào nhau như Trung Úy Nguyễn Ðông Mai thuộc HTH Nhựt Tảo diễn tả trong bài viết Lần Ðào Thoát Tại Hoàng Sa, "Rồi chừng 15 phút sau, một tiếng va chạm mạnh khiến chúng tôi té nhào trên sàn tàu. Tôi chợt nghĩ đến chuyện tàu lên cạn vì vì vùng này có nhiều san hô. Sau này khi đào thoát tôi mới biết HQ-10 đâm vào tả hạm chiếc 396".
Tài liệu Trung Cộng cũng xác nhận thêm, "Nếu T-389 không dạt vào một bãi san hô, chắc chắn cũng sẽ bị chìm." Như vậy HTH Nhựt Tảo tuy bị chìm, nhưng đối thủ cũng bị thiệt hại tương tự, coi như một đổi một.
Trận hải chiến khởi đầu lúc 10 giờ 23 phút, khoảng nửa giờ sau đó các chiến hạm VNCH rời vùng, chỉ còn lại HTH Nhựt Tảo bị hư hại nặng trôi nổi trên mặt biển, nhân viên đã xuống bè đào thoát, không còn ai trên tàu. Về những giây phút cuối của HTH Nhựt Tảo, tài liệu Trung Cộng ghi rõ:
Tới 11 giờ 49 phút, hai TDH 281 và 282 do Phân Ðoàn Trưởng Liu Xi Zhong chỉ huy từ căn cứ hải quân Shantou tăng viện đến vùng Hoàng Sa. TDH 281 tập trung hỏa lực bắn vào xác HTH Nhựt Tảo. Mãi đến 14 giờ 52 phút ngày 19 tháng 1, HTH Nhựt Tảo mới bị chìm tại vị trí Nam bãi san hô Antelope, khoảng cách chừng 2.5 hải lý.
Sau này một số bài viết cho rằng HTH Nhựt Tảo bị trúng hỏa tiễn Trung Cộng vào đài chỉ huy khiến Hạm Trưởng hy sinh. Tuy nhiên, các chiến hạm Trung Cộng tham chiến đều không được trang bị hỏa tiễn hải-hải và tài liệu Trung Cộng cũng nói rõ không có Phi Tiễn Ðĩnh (PTÐ) Komar tại Hoàng Sa. Dĩ nhiên, chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào lời nói của họ, nhưng có thể suy đoán tìm câu trả lời hợp lý.
Trước hết, PTÐ Komar trang bị hỏa tiễn hải-hải Styx là loại Ai Cập đã dùng để bắn chìm Khu Trục Hạm Eilat của Do Thái vào tháng 10 năm 1967 gần cảng Port Said. Nếu hỏa tiễn Styx có thể đánh chìm một chiến hạm lớn nhất và cũng là soái hạm của HQ Do Thái thì đối với HTH Nhựt Tảo là chiến hạm nhỏ hơn, bị trúng hỏa tiễn Styx chắc không trôi nổi trên mặt biển, mãi mấy tiếng đồng hồ sau mới bị chiến hạm tăng viện của Trung Cộng bắn chìm. Ngoài ra, nếu có hỏa tiễn, theo đúng sách lược "đánh vào chỗ mạnh nhất của Mao Trạch Ðông," chắc chắn Trung Cộng sẽ nhằm vào chiến hạm VNCH lớn và quan trọng, như "soái hạm" Trần Khánh Dư hoặc các TDH, hơn là HTH Nhựt Tảo nhỏ. Hơn nữa, mỗi Phi Tiễn Ðĩnh Komar được trang bị 2 hỏa tiễn Styx, nếu tham chiến có lẽ sẽ bắn cả 2 hỏa tiễn vào các chiến hạm VNCH, gây thiệt hại nhiều hơn, thay vì chỉ bắn HTH Nhựt Tảo.
Về mặt chiến thuật, hỏa tiễn cũng như pháo binh, chỉ hiệu quả khi mục tiêu được xác định rõ ràng, chính xác. Trong trận hải chiến Hoàng Sa, chiến hạm đôi bên đều trong thế "cận chiến" trộn lẫn vào nhau, việc xử dụng hỏa tiễn có thể gây thiệt hại cho chính lực lượng mình. Vì những lý do trên, cộng thêm lời xác nhận về phía Trung Cộng, chúng tôi nghĩ rằng Trung Cộng đã không có hỏa tiễn hải-hải trong trận hải chiến Hoàng Sa. Rất có thể, bộ binh theo tàu để đổ bộ xử dụng một số hỏa tiễn "cầm tay" mang theo hoặc bất cứ vũ khí nào khác khi khoảng cách đôi bên quá gần.

THIỆT HẠI
Về phần thiệt hại, tài liệu Trung Cộng cho biết:
Tuy nhiên, chiến thắng nào cũng phải trả giá. Về phía Trung Cộng, tổng cộng có 18 người tử trận trong số này 1 hạm trưởng và 67 người khác bị thương. Chiếc T-389 bị hư hại nặng, nếu không kịp ủi vào bãi san hô chắc chắn sẽ bị chìm. Ba chiến hạm khác đều bị trúng đạn, thiệt hại trung bình.
Theo tài liệu của Yên Tử Cư Sĩ Trần Ðại Sĩ (chưa thấy Trung-Cộng phản-đối) cho biết cả 4 Hạm Trưởng các chiến hạm Trung Cộng gồm 3 đại tá và 1 trung tá đều bị tử thương. Ngoài ra, bộ tư lệnh mặt trận gồm 1 đô đốc, 4 đại tá, 6 trung tá, 2 thiếu tá và 7 sĩ quan cấp úy cũng bị tử thương. Chúng tôi rất dè dặt khi loan tin này, vì tác giả Trần Ðại Sĩ không cung cấp rõ ràng xuất sứ của nguồn tin trên. Hơn nữa, các chiến hạm Trung Cộng đều thuộc loại nhỏ, thủy thủ đoàn không quá trăm người, nên hạm trưởng mang cấp bậc đại tá là điều hãn hữu.
Nếu còn một số nghi vấn về thiệt hại nhân mạng, chúng ta có nhiều bằng cớ khá xác đáng về mặt các chiến hạm Trung Cộng. Trận hải chiến kết thúc vào khoảng 11 giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974 sau chừng 30 phút giao tranh khi ba chiến hạm VNCH rời vùng, chỉ còn lại 4 chiến hạm Trung Cộng và HTH Nhựt Tảo bị hư hại không tự vận chuyển được, các nhân viên đã xuống bè đào thoát. Nếu chưa bị chìm hoặc lên cạn hết, chắc chắn chiến hạm Trung Cộng sẽ lại gần HTH Nhựt Tảo, bắt sống những người trên bè đào thoát và đánh chìm đối thủ. Nhưng thực tế cho thấy không một chiến hạm Trung Cộng nào ngăn chận được các bè đào thoát và phải chờ hơn 3 tiếng đồng hồ sau, lực lượng tăng viện vừa tới gồm các TDH 281 va 282 mới bắn chìm HTH Nhựt Tảo. Ðiều này cho thấy cả 4 chiến hạm Trung Cộng trực tiếp tham chiến hoặc đã bị chìm, hoặc ủi bãi san hô hay hư hại nặng, không còn vận chuyển được nữa.
Qua lời tường thuật của Trung Cộng về trường hợp các chiến hạm của họ bị trúng đạn hư hại ra sao, gặp những khó khăn nào, cộng với bằng chứng chỉ còn 2 chiến hạm tăng viện hoạt động sau trận hải chiến, chúng ta có thể khá chắc chắn tìm ra sự thật. Ðó là cả 4 chiến hạm Trung Cộng trực tiếp tham chiến đều bị bắn hư hại nặng, nếu không chìm hay lên cạn cũng sẽ bị phế thải.

KẾT LUẬN
Trận hải chiến tại Quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 đã trở thành lịch sử trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của nước Việt Nam  trước sự xâm lăng, đánh chiếm của Trung Quốc. Việc thành bại, hơn thua không còn được đặt nặng so với nhu cầu tìm hiểu sự thật, nhất là trong bối cảnh lúc đó - Mỹ thỏa hiệp buông tay để Trung Quốc đoạt chiếm, tránh rơi vào tay CS Bắc Việt và Liên Xô; vậy nên chăng có hình thức hay sự quan tâm nào đó vinh danh các chiến sĩ Hải Quân VNCH tham dự trận đánh bảo vệ biển đảo của nước Việt.. Dù phải đối đầu với kẻ thù mạnh hơn nhiều lần, nhưng các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã tận dụng mọi khả năng, phương tiện hiện có và nhất là tinh thần chiến đấu, truyền thống hào hùng của người Việt Nam thà chịu chết, dũng mãnh chiến đấu giữ đảo đến phút cuối cùng, khiến đối phương cũng phải kiêng sợ và thán phục. Các yếu tố "Thời, Thế và Cơ" cần thiết cho chiến thắng đều không nằm trong tay Hải Ðội VNCH. Giả sử chúng ta có đánh chìm hết các chiến hạm Trung Cộng tại Hoàng Sa, thu được thành quả tuyệt đối về mặt chiến thuật, nhưng cũng sẽ phải rời bỏ vùng hải đảo thân yêu này để bảo toàn lực lượng, vì dù có vận dụng hết khả năng cũng khó bề đương cự với Hải Quân Trung Quốc.
BVB (st) / HS74.tripod

 
------------------
SẼ CÓ MỘT NGÀY 
(Kính dâng hương hồn các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa)
Việt Nam xưa, Ðức Thánh Trần
Bạch Ðằng cưỡi ngọn sóng thần tuốt gươm 
Giặc Mông Cổ tìm đường tháo chạy
Tướng như quân hết thảy rụng rời 
Tàn binh cọc nhọn thây phơi
Một phen thủy chiến muôn đời sử xanh (1287) 
Mộng xâm lấn tranh giành bờ cõi
Vẫn âm mưu dẫn lối quân Tàu 
Sáu trăm tám bảy năm sau (1974)
Hoàng Sa máu lại đỏ ngầu biển Ðông 
Trận hải chiến hào hùng, khốc liệt
Với kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa 
Ðây, trang chiến sử Hoàng Sa
Chỉ huy hải đội, họ Hà điều binh 
Bốn chiến hạm hải trình tham chiến
Những người con của biển kiên cường 
Trong vòng lửa đạn đau thương
Lưu danh muôn thuở tấm gương anh hùng 
Và chiến đấu vô cùng dũng liệt
Dù địch quân ứng chiến đông hơn 
Ðạn bay súng nổ từng cơn
Bốn tàu Trung Cộng chiến trường lâm nguy 
Cái bị pháo chìm đi mất dấu
Cái nước theo phía hậu tuôn vào 
Ðịch quân hoảng hốt xôn xao
Và quân ta cũng bước vào khó khăn 
Gương chiến đấu Bạch Ðằng bỗng hiện
Sáng như sao trên phiến linh hồn 
Biển xanh đỏ máu oan hờn
Chiến hạm Nhật Tảo trong cơn nguy nàn4 
Ðã anh dũng chận làn sóng địch
Ðể đoàn quân rời đích an toàn 
Lòng tàu nước ngập, máu loang
Nhưng lòng thủy thủ hiên ngang trên tàu 
Ngay cả lúc chìm sâu đáy biển
Vẫn một niềm tận hiến, hy sinh 
Trong lòng biển mẹ mông mênh
Trái tim bất khuất đau tình quê hương! 
Sẽ một ngày trùng dương sóng nổi
Về Hoàng Sa rửa mối hận này 
Chủ quyền Hoàng đảo trong tay
Xanh reo ngọn sóng, vàng bay sắc cờ 
Sẽ một ngày cõi bờ dân Việt
Thoát qua hồi nạn kiếp đau thương 
Có anh đứng giữa đại dương
Hát mừng bốn cõi quê hương thanh bình
(Thơ Ngô Minh Hằng)

Trần Ðỗ Cẩm
Austin, Texastháng 1/2004
------------------