Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

TÂM THẦN HAY TÂM ĐỨC?

     
                                                  * TRẦN ĐỨC THẮNG
                 Mỗi lần xem chương trình Văn hóa dân tộc, của Đài truyền hình Việt Nam tôi lại cảm thấy nhức mắt. Bởi vì người phụ trách chương trình ấy luôn xuất hiện với cái vẻ mỹ miều, cặp mắt sắc xảo, và giọng nói rất đanh. Đó chính là Kiều Trinh.
Dân mạng không còn lạ gì Kiều Trinh con gái nguyên Uỷ viên trung ương đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam Vũ Văn Hiến. Cô sinh năm 1975, nguyên phóng viên văn hóa Ban thời sự .                       
               Năm 2001, Kiều Trinh được cử sang Thụy Điển 3 tuần. Ngay tuần đầu,  ngày 11-2-2001, cô đã  bị cảnh sát thành phố Kalmar bắt vì tội ăn cắp hàng trong siêu thị. Lúc đầu  cô nàng  chối bai bải, nhưng khi mở  băng ghi hình thì  phải cúi đầu nhận tội. Cô nàng đã ăn cắp ở Orebro, Kaimar số mỹ phẩm trị giá 400 đô la. Số tiền đó không lớn, nhưng ở Thụy Điển người ta trị ăn cắp, tham nhũng rất nghiêm, nên  theo luật Kiều Trinh  phải ngồi tù.
                           > Sự thật về BTV Kiều Trinh 
                Vì Kiều Trinh là con của Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam, nên Đại sứ quán Việt Namở Thụy Điển phải ra tay. Và sau một tuần bị giam, ngày 16-2-2001, cô nàng  được tha, sau khi có giấy của bác sỹ xác nhận  nhận Kiều Trinh bị bệnh tâm thần  từ Việt Nam gửi sang. Ngày 18-2-2001, Kiều Trinh bị trục xuất về nước. Đón cô ở sân bay, diễn viên điện ảnh Trần Lực đã tặng một cái tát, chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đó
                Ông Vũ Văn Hiến chả hề hấn gì sau sự kiện đó, vẫn  đủ tiêu chuẩn vào Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam,và tiếp tục làm Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam.  Cô con gái Kiều Trinh vẫn làm phóng viên của VTV.
                Năm 2006, Kiều Trinh  được sang nước Anh công tác.  Bệnh tâm thần lại tái phát và cô nàng  đã thó chiếc máy ảnh kỹ thuật số trong shop. Một lần nữa ông Hiến lại  phải cứu con gái  bằng việc nhờ Đại sứ quán can thiệp và tờ giấy của bác sỹ chứng nhận bệnh tâm thần lại đưa ra sử dụng!
              Năm 2009, Kiều Trinh được kết nạp đảng và được đề bạt làm Trưởng phòng văn hóa dân tộc Ban thời sự. Thật mỉa mai khi có những nhà báo chống tham nhũng tiêu cực , chỉ vì phạm một vài lỗi kỹ thuật nhỏ, thỉ phải vào tù, hoặc bị tước thẻ nhà báo, còn kẻ cắp  con gái ông Ủy viên trung ương đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam lại được đề bạt.
              Từ bấy đến nay, một nghi án vẫn chưa có lời giải: Kiều Trinh bị tâm thần hay kẻ cắp?
              Dư luận cho rằng, có lẽ  ông bác sỹ nào đó được ăn, hoặc bị ép mới ký giấy chứng nhận bệnh tâm thần cho Kiều Trinh, vì nhìn hình ảnh chải chuốt óng mượt, và nghe cô nói sắc lẻm trên TV thì không ai nghĩ bị tâm thần cả. Mà nếu bị bệnh tâm thần thì đưa vào bệnh viện, chứ sao lại đưa lên làm MC trên TV?
            Vậy chắc chắn là kẻ cắp!
              Nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có một nền văn hóa khác nhau, phong tục tập quán mỗi nơi một vẻ rất phong phú, đa dạng, nhưng tuyệt nhiên không hề có nền văn hóa và  phong tục tập quán ăn cắp. Ăn cắp, ăn trộm, ở đâu cũng  ghét, cũng khinh.  Dù đói ăn vụng, túng làm liều mọi người vẫn chê cười chứ đừng nói tiểu thư con quan  như  Kiều Trinh. Vậy mà cô nàng không biết ngượng cứ xuất hiện trên TV nói văn hóa, đạo đức?  Phải chăng quý vị muốn truyền bá cho dân thứ văn hóa ăn cắp và nghệ thuật chạy tội?
                 Nên nhớ, hình ảnh cô Kiều Trinh không thể bôi xóa được trong hồ sơ của cảnh sát Thụy Điển, Anh quốc, và nó đã được phơi ra cho nhân dân nước họ biết rồi.  Họ sẽ nghĩ gì, khi ở Việt Nam, kẻ cắp lên mặt dạy đạo đức người lương thiện? 
               Nói như giáo sư Ngô Bảo Châu, nếu có hình ảnh nào làm nhục Việt Namtốt nhất thì chính là hình ảnh cô Kiều Trinh trên TV.
 T Đ T 
 
------------------
 +Nội dung liên quan:
              Sinh năm 1975, Kiều Trinh là con gái cả của ông Vũ Văn Hiến. Cô nàng này nổi tiếng thì ít mà tai tiếng thì nhiều. Năm 2001, khi đang là phóng viên Ban Thời sự- VTV, được cử sang Thụy Điển học 03 tuần, em gái đã không bỏ lỡ cơ hội trổ tài trộm cắp tại nhiều siêu thị.
Ngày 11 tháng 2 năm 2001, Kiều Trinh đã bị cảnh sát thành phố Kalmar- Thụy Điển bắt vì tội ăn trộm.              Sau vài ngày chối tội, cuối cùng em gái VTV đã phải thú nhận ăn trộm nhiều loại hàng hóa trị giá hơn 400USD tại một số của hàng ở các thành phố Orebro và Kalmar.
           Theo luật pháp Thụy Điển, với số tiền trộm cắp lớn như vậy, lẽ ra cô nàng phải ra tòa xét xử với mức án phạt tù. Tuy nhiên, do thành khẩn khai báo, có giấy của bệnh viện trong nước gửi sang xác nhận tiền sử mắc bệnh tâm thần ( lấy của người khác nhưng không nhớ), số hàng hóa trộm cắp được đưa vào diện giảm giá, nhờ sự can thiệp của Đại sứ quán VN tại Thụy Điển, do lần đầu bị bắt nên Kiều Trinh chỉ bị phạt tiền và trục xuất về nuớc.
           Sau 1 tuần bị giam tại Đồn cảnh sát Kalmar, đến ngày 16 tháng 2 năm 2001, Kiều Trinh đã được phóng thích, ngày 18 tháng 2 năm 2001 đáp máy bay về nước. Niềm vui sướng tột cùng đã đến với ông Vũ Văn Hiến vì sau đó ông này vẫn trúng cử Ủy viên TW Đảng và trở thành Tổng giám đốc Đài THVN.
Phát huy thành tích đã đạt được, năm 2006, trong một chuyến công tại tại Anh, bệnh cũ của Kiều Trinh lại tái phát, cô này lại bị bắt quả tang khi ăn trộm một chiếc máy ảnh kỹ thuật số tại một Shop. Mọi việc vẫn được giải quyết êm thấm.
            (Nguồn: VTL ở đây)
--------------

Phim “Người cộng sự” có nên vứt vào sọt rác?


… Nếu nó đơn thuần chỉ là một bộ phim tâm lý xã hội bình thường thì mình có thể mình cũng không thất vọng lắm và có thể cũng chưa chắc đã xem, nhưng đây là một phim thuộc thể loại “lịch sử” làm về một nhân vật lịch sử tầm cỡ như Phan Bội Châu nói riêng và phong trào Đông Du nói chung thì thực sự là một bộ phim “quá cẩu thả và tùy tiện”. Làm phim về lịch sử mà hình như những người làm phim “không hiểu gì về lịch sử” ( phía Việt Nam ). Không rõ là do thiếu hiểu biết hay cố tình làm sai đi? Làm phim về lịch sử thì tối thiểu cũng phải có sự tìm hiểu về cái mình đang làm, đằng này cái “lịch sử” trong phim được dựng lên một cách sơ sài và rất “ngây ngô” với đầy những tình tiết hết sức phi lý …

                >>  Đọc tiếp/Nguồn  
-----------------

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Về tác giả TRẦN DÂN TIÊN

…  Hoàng Quốc Việt (thường vụ Trung ương Đảng) gợi ý cho Trần Huy Liệu (Bộ trưởng bộ Tuyên truyền) viết giới thiệu về Bác, Trần Huy Liệu không viết mà giao cho Vũ Đình Huỳnh, thư ký trợ lý của Bác chấp bút, xong khởi thảo thì Trần Huy Liệu sửa, viết bổ sung (thêm bớt) rồi qua Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh đọc “duyệt” cho ý kiến để hoàn thiện  đem xuất bản. Ở thời điểm ấy bận trăm công nghìn việc, thù trong giặc ngoài như thế  thì Bác làm sao mà ngồi chấp bút viết về mình được ? Hơn nữa, Hồ Chủ tịch là người bình sinh khiêm tốn không khi nào nói về mình….
             >> Đọc tiếp/Nguồn  
------------------

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Văn hóa nghệ thuật giúp định hướng đi lên cho xã hội

Đồng chí TBT Nguyễn Phú Trọng có bài nói rất quan tâm đến Văn nghệ sĩ và chỉ đạo công tác VHVN, bài khá dài, đọc sướng...!

TTXVN -Ngày 21/9, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm, làm việc với Đảng đoàn Liên hiệp các hội văn học, nghệ thuật Việt Nam
Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại cuộc làm việc:
“Thưa các bác, các anh, các chị cùng toàn thể các đồng chí,
Hôm nay, tôi và lãnh đạo một số ban, bộ, ngành rất vui mừng đến thăm và làm việc với Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam và đại diện lãnh đạo các Hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành ở Trung ương; được gặp gỡ các đồng chí, những người hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật - một lĩnh vực tinh tế và đặc biệt quan trọng - trong đời sống tinh thần của đất nước ta. Trước hết, tôi xin gửi tới các bác, các anh, các chị và các đồng chí lời thăm hỏi chân tình và lời chúc tốt đẹp nhất.
Mới đây, nhân kỷ niệm trọng thể 65 năm Ngày thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam, tổ chức tiền thân của Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam ngày nay, tôi đã cùng một số đồng chí lãnh đạo các cơ quan của Đảng, Nhà nước tham dự buổi lễ và gửi lời chúc mừng nồng nhiệt về chặng đường vẻ vang; những thành tựu to lớn mà Liên hiệp hội cũng như các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành và toàn thể anh chị em văn nghệ sĩ cả nước đã đạt được trong mấy chục năm qua.
Hôm nay, được nghe Báo cáo của Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam do đồng chí Hữu Thỉnh, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam trình bày, và nghe ý kiến phát biểu đầy tâm huyết của các bác, các đồng chí, tôi càng hiểu thêm về tình hình văn học nghệ thuật nước ta và công tác của Đảng đoàn. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh những nỗ lực lớn lao, những sáng tạo bền bỉ, những kết quả nổi bật của các đồng chí và xin chia sẻ, thông cảm với những khó khăn, thách thức và cả những hạn chế, bất cập mà Đảng đoàn cùng cán bộ, hội viên và toàn thể anh chị em văn nghệ sĩ nước ta đã và đang trải qua.
Qua thực tiễn hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật, nhất là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, 5 năm thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về lĩnh vực công tác này, nền văn hóa, văn học, nghệ thuật nước ta tiếp tục có bước phát triển, đạt được những kết quả quan trọng. Các hoạt động văn học nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương, với sự quan tâm của cấp ủy đảng và chính quyền, đã có sự chuyển biến tích cực. Tuy nguồn kinh phí còn hạn hẹp, đời sống của đa số anh chị em văn nghệ sĩ còn khó khăn, nhưng với lòng say mê, tâm huyết sáng tạo, đã có nhiều tác phẩm đáng trân trọng. Nhiều cuộc triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh, nhiều tiết mục sân khấu, điện ảnh, công trình nghiên cứu lý luận, văn hóa, văn nghệ... thu hút được người xem, người đọc. Quyền tự do sáng tạo và điều kiện hoạt động của văn nghệ sĩ được bảo đảm và cải thiện; tiềm năng và cảm hứng sáng tạo được khơi dậy. Văn học, nghệ thuật nước ta tiếp tục kế thừa, phát huy các giá trị bền vững của dân tộc được hun đúc, chắt lọc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn; là bản sắc văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là trọng trách xây dựng nhân cách, đạo đức, lối sống, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam.
Các sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng, phần lớn trong số đó có nội dung lành mạnh, tích cực; hình thức thể hiện có nhiều đổi mới. Đề tài lịch sử hào hùng của đất nước; những trang sử vẻ vang chống các kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục thu hút các văn nghệ sĩ, cả cao niên và trẻ tuổi tham gia. Đề tài về công cuộc đổi mới đất nước, ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân anh hùng cũng được anh chị em văn nghệ sĩ trân trọng và có những thành công trong tác phẩm của mình. Văn học, nghệ thuật tích cực phát hiện, cổ vũ cái mới, cái tốt đẹp, tiến bộ; biểu dương, nêu gương những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong lao động, học tập, rèn luyện, phấn đấu; phê phán thói hư, tật xấu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội. Lĩnh vực nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật cũng có những chuyển biến rõ nét, góp phần tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam, đặc biệt là định hướng phát triển văn học, nghệ thuật trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đã củng cố, xây dựng được đội ngũ các cây bút trẻ trong lý luận, phê bình; tham gia đấu tranh phản bác các khuynh hướng, hành vi sai trái, cực đoan, bảo vệ và phát triển đường lối văn hóa, văn học, nghệ thuật của Đảng. 
Đảng đoàn và lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam, lãnh đạo các hội thành viên đã phát huy vai trò là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tập hợp, đoàn kết, động viên hội viên và đông đảo văn nghệ sĩ nâng cao nhận thức chính trị, năng lực sáng tạo, trách nhiệm công dân, sáng tác, quảng bá nhiều tác phẩm có giá trị. Đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị học tập, quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Đại hội Đảng; Nghị quyết của Trung ương Đảng; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 70 năm Đề cương Văn hóa Việt Nam, 70 năm tác phẩm "Nhật ký trong tù" của Bác Hồ; 55 năm Bác Hồ gửi thư cho các họa sĩ và giới văn nghệ nước nhà; động viên văn nghệ sĩ tham gia các Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"... Liên hiệp hội và các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành ở Trung ương và các địa phương đã tổ chức nhiều trại sáng tác, hội diễn, liên hoan, triển lãm, tọa đàm, gặp gỡ, giao lưu trong nước và quốc tế, trao thưởng, quảng bá các tác phẩm xuất sắc. Nhiều đơn vị, nhiều văn nghệ sĩ được Đảng, Nhà nước trao các loại huân chương bậc cao, trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật và phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú. 
Công tác đối ngoại của Liên hiệp hội và các hội thành viên có nhiều khởi sắc; tích cực, chủ động tham gia các hội nghị, hội thảo, liên hoan quốc tế về văn hóa, văn nghệ. Sự phối hợp công tác giữa Liên hiệp Hội và các hội chuyên ngành ở Trung ương với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương ngày càng tốt hơn.
Bên cạnh những nỗ lực và kết quả đạt được, phải thừa nhận rằng, lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Đó là văn học, nghệ thuật phát triển chưa tương xứng với tiềm năng sáng tạo và nhu cầu hưởng thụ của nhân dân; chưa có nhiều tác phẩm có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật, chưa phản ánh sâu sắc, sinh động những hiện thực lớn lao của đất nước trong những giai đoạn lịch sử quan trọng, nhất là trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Điều đáng lưu ý là, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập, đã và đang xuất hiện xu hướng "thương mại hoá" cùng những biểu hiện "bắt chước, lai căng"... trên nhiều phương diện, làm hạ thấp hoặc méo mó những giá trị đích thực của văn học nghệ thuật, ảnh hưởng đến việc giáo dục tư tưởng, thẩm mỹ trong công chúng người đọc, người xem; không động viên, khuyến khích được những văn nghệ sĩ tâm huyết với nghề, gắn bó với những giá trị văn học nghệ thuật chân chính.
Hoạt động lý luận phê bình nhìn chung còn thụ động, thiếu tính chiến đấu, tính định hướng. Công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa, văn học, nghệ thuật còn nhiều hạn chế, bất cập. Cấp ủy, chính quyền, các cơ quan liên quan ở Trung ương, các địa phương, lãnh đạo Liên hiệp hội và các hội chuyên ngành có lúc, có việc còn thiếu quán xuyến và sâu sát. Việc tham mưu để thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng còn chậm và thiếu đồng bộ. Công tác lãnh đạo, quản lý ở một số hội còn nhiều bất cập, còn thiếu cán bộ lãnh đạo văn nghệ có năng lực, uy tín, khả năng tập hợp, đoàn kết hội viên. Việc phát triển hội viên, nhất là hội viên trẻ, gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh số đông văn nghệ sĩ gắn bó máu thịt và cống hiến hết mình cho sự nghiệp chung, cũng có những người phai nhạt mục tiêu lý tưởng cách mạng, xem nhẹ trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân. Tác phẩm của họ thường xa rời thực tiễn đời sống của đất nước, của nhân dân. Một số phát ngôn, viết hồi ký, sách báo, trang điện tử có nội dung thiếu xây dựng, thậm chí cực đoan, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi của dân tộc. Cá biệt, có người còn lên tiếng đòi "hạ bệ," "giải thiêng," "bôi đen" các giá trị to lớn, thiêng liêng của đất nước, của chế độ.
Thưa các bác, các đồng chí,
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020, nhằm mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đến giữa thế kỷ này trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một sự nghiệp to lớn, vĩ đại. Bên cạnh thuận lợi cơ bản, đất nước ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức lớn. Tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hiện thực phong phú, sôi động của đất nước đang mở ra chân trời rộng lớn cho sự sáng tạo, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề lớn và mới mà những người hoạt động văn hóa, nghệ thuật thông qua những tác phẩm sáng tạo của mình phải cắt nghĩa, trả lời và định hướng đi lên cho xã hội. Phải làm sao sáng tạo ra những tác phẩm, công trình văn hóa, nghệ thuật tương xứng với tầm vóc của dân tộc và đất nước. Đảng, Nhà nước và nhân dân chờ đợi, hy vọng ở những người hoạt động văn học nghệ thuật, và biết rằng các đồng chí cũng rất day dứt và đầy khát vọng về điều này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: "Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy." Người lưu ý: "văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị". Đó cũng là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta đối với văn hóa, văn học, nghệ thuật. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII khẳng định: "Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng". Thực tế những năm qua, lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới, trong đó có cuộc đấu tranh quyết liệt về tư tưởng, văn hóa. Đó là cuộc đấu tranh giữa chân, thiện, mỹ với cái giả dối, cái ác, cái xấu xa; giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu.
Nhận rõ vị trí, vai trò, đóng góp to lớn của văn hóa, văn học, nghệ thuật, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác xây dựng, bổ sung hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về lĩnh vực này, cố gắng tạo điều kiện để anh chị em văn nghệ sĩ phát huy hết tài năng. Định hướng đúng đắn cho văn học nghệ thuật phát triển phù hợp với con đường đi lên của dân tộc; đề ra chính sách đầu tư, bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa; đồng thời chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho văn nghệ sĩ làm việc; chú ý bồi dưỡng, đào tạo lớp văn nghệ sĩ trẻ...
Thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị định 45/2010/NĐ-CP; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định "Hỗ trợ cho các công trình văn học, nghệ thuật và báo chí giai đoạn 2011-2015". Nguồn kinh phí tuy chưa nhiều (khoảng 80 tỉ/năm) nhưng đã góp phần tháo gỡ khó khăn trong hoạt động của các hội văn học nghệ thuật cả nước. Ngày 9/4/2013, Ban Bí thư ra Kết luận số 59-KL/TW về việc tạm thời thực hiện việc hỗ trợ cho một số nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ tiêu biểu có khó khăn trong cuộc sống. Chính phủ tiếp tục phê duyệt "Dự án Công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam". Mới đây, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị về đại hội các hội Văn học-nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và Đại hội Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam nhiệm kỳ sắp tới...
Nhưng dẫu sao, đó vẫn chỉ là những yếu tố khách quan. Với văn học nghệ thuật thì không gì có thể thay thế được tài năng và tâm hồn chủ thể những người trực tiếp sáng tạo, tức là các văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ là những người có năng khiếu đặc biệt, lại có khả năng thu nhận tri thức, tiếp cận thực tiễn cuộc sống, trau dồi bản lĩnh chính trị và nghề nghiệp, là người sáng tạo ra tác phẩm. Sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật đòi hỏi phải có những người có tài năng, có tâm hồn, có nhân cách, bản lĩnh, đặc biệt là có chỗ đứng và cách nhìn đúng đắn, khách quan, khoa học.
Nhân đây, tôi có đôi điều muốn trao đổi tâm tình thêm với anh chị em văn nghệ sĩ trẻ. Chúng ta đều đã biết, thời đại chúng ta, cuộc sống quanh ta có rất nhiều để nói, để viết, nhưng quan trọng là nói như thế nào, viết như thế nào? Nhiều người thường bảo văn nghệ phải chiếu sáng cuộc sống, chứ không chỉ là nơi cuộc sống hiện hình; văn nghệ bồi dưỡng, nâng cao con người chứ không phải chỉ là nơi giãi bầy tâm trạng cá nhân, hạ thấp con người. Mong sao các văn nghệ sĩ thể hiện thật rõ điều đó để xứng đáng là niềm hy vọng mới của nhân dân; đừng để cho sự tầm thường dễ dãi ám ảnh mình. Các đồng chí cần thường xuyên học hỏi, rút những bài học tốt từ những thế hệ trước để tiếp tục đi xa. Bài học đó là: Khát vọng lớn lao, lý tưởng cao cả, hòa nhịp đập trái tim mình với nhịp đập trái tim toàn dân tộc, lăn lộn với thực tiễn vĩ đại của cuộc sống nhân dân, chứ không phải chỉ đi vào tâm trạng cá nhân, gặm nhấm tâm tư, yếm thế, lấy tiểu xảo thay cho tài năng, nhìn đời bằng góc nhìn chật hẹp, thậm chí coi văn nghệ như là thú vui, giải trí hoặc một cuộc chơi, một đam mê tầm thường. Thực tế đời sống văn học ở nước ta và trên thế giới cho thấy, những tác gia lớn là những tác gia có khát vọng và hoài bão lớn, có tầm nhìn xa rộng, có tư duy sâu sắc. Chỉ có khát vọng và hoài bão lớn về sự sáng tạo thì mới đi xa và bền vững được. Mục đích cuối cùng là tác phẩm hay, tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Nó phản ánh tâm hồn và tính cách dân tộc, những điều lớn lao, mạnh mẽ của con người.
Văn học-nghệ thuật vốn có chức năng cao quý là khám phá, sáng tạo, phản ánh chân thực, sinh động, hấp dẫn hiện thực cuộc sống - hiện thực vĩ đại của dân tộc; phản ánh hiện thực có chiều sâu, từ trong bản chất của nó. "Nhà văn là kỹ sư tâm hồn", "là người thư ký của thời đại" (Balzac). Mỗi văn nghệ sĩ cần bám sát hiện thực cuộc sống để sáng tạo, làm sao cho mỗi tác phẩm của họ phản ánh chân thực cuộc sống, làm sao cho người đọc sau khi gấp sách lại đều cảm thấy "mạch đời đập dưới bìa sách như mạch máu đập dưới làn da" (Ka-li-nin).
Với tài năng và tâm huyết của đội ngũ văn nghệ sĩ, chúng ta tin là sẽ có nhiều tác phẩm phản ánh chân thực cuộc sống, ngợi ca cái tốt, cái thiện, cái tích cực; đồng thời phê phán, đấu tranh với cái ác, cái xấu, những tư tưởng sai trái đi ngược lại truyền thống đạo lý và lợi ích của Tổ quốc và dân tộc, những thói tệ nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế. Nghiên cứu lý luận, phê bình cần phải thẳng thắn, trung thực, khách quan, tinh tế, góp phần định hướng, giới thiệu cho công chúng tiếp nhận những giá trị văn hóa trong và ngoài nước, loại trừ những cái phi văn hóa, phản văn hóa; chống xu hướng "lai căng", thương mại hóa hoặc chạy theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của đời sống văn học nghệ thuật, nâng cao trình độ nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ của nhân dân.
Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam, Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, các hội văn nghệ cần giúp Đảng đoàn kết, tập hợp đông đảo anh chị em văn nghệ sĩ, tạo điều kiện để anh chị em làm tốt thiên chức sáng tạo của mình. Đồng thời cũng cần quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ, công tác chuyên môn ở Liên hiệp hội và các hội thành viên từ Trung ương đến các địa phương. Đặc biệt là công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ các cấp hội; chăm lo việc nâng cao nhận thức chính trị, năng lực sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp, trách nhiệm công dân cho anh chị em văn nghệ sĩ. Đoàn kết, cổ vũ, tạo điều kiện để văn nghệ sĩ bám sát cuộc sống, đẩy mạnh các hoạt động sáng tạo, có thêm nhiều tác phẩm hay, có chất lượng cao về nội dung và nghệ thuật, phản ánh sâu sắc hiện thực của đất nước ta, nhân dân ta, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu của chúng ta.
Tôi đề nghị Ban cán sự đảng Chính phủ, đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành có mặt hôm nay, trên cơ sở ý kiến góp ý và kiến nghị của Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam và lãnh đạo các hội văn học, nghệ thuật thành viên, ghi nhận đầy đủ, quan tâm sâu sắc, tập trung tháo gỡ các khó khăn, các bất cập về chính sách, cơ chế, điều kiện hoạt động cho Liên hiệp hội, các hội chuyên ngành và của anh chị em văn nghệ sĩ.
Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành sẽ cùng Đảng đoàn và lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam, các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý; tạo điều kiện để văn học nghệ thuật và anh chị em văn nghệ sĩ có thêm điều kiện hoạt động, sáng tạo, có nhiều tác phẩm xứng đáng với dân tộc, đất nước, nhân dân, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trân trọng cảm ơn”./.
(TTXVN)
---------------

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Truyền thuyết về Tết Trung thu


Tết Trung Thu, còn được gọi là lễ hội Trung Thu rơi vào ngày 15 tháng 8 âm lịch hằng năm. Đó là ngày theo âm lịch và thường được tổ chức vào ngày trăng tròn đầu tiên trong tháng Chín. Trong năm 2013, nó rơi vào ngày 19 tháng 9. Thời điểm giữa mùa thu và là lễ hội thu hoạch. Theo truyền thống lúa mỳ được thu hoạch ở miền bắc còn lúa gạo được thu hoạch ở phía nam Trung Quốc. Ngày lễ này tương tự như ngày lễ Tạ ơn của Mỹ. Tại các vùng nông thôn Trung Quốc, tết Trung Thu tổ chức để chúc mừng một vụ mùa bội thu, giống như ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên của những người Thanh giáo sau khi đến Mỹ…
            >>  Đọc tiếp/Nguồn  
---------------

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Khi lịch sử bị hiểu sai

Đền thờ Kinh Dương Vương
              Lời giới thiệu của chủ blog Bách Việt: Trên thế giới lịch sử dân tộc bao giờ cũng dài hơn nhiều so với lịch sử quốc gia, thậm chí có những dân tộc biến mất hoặc không còn quốc gia. Mặc khác, hầu hết lịch sử của các dân tộc đều có thời kỳ tiền sử chủ yếu được lưu truyền bằng tuyền thuyết có khi hàng chục ngàn năm. 
Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Điều may mắn là dân tộc Việt vẫn tồn tại với thực thể quốc gia đến ngày nay sau "ngàn năm Bắc thuộc" là một thời gian đủ dài để bị xóa dấu vết. Do đó, sẽ là sai lầm nếu bác bỏ truyền thuyết hoặc tin vào truyền thuyết một cách mù quáng như nó đã và đang diễn ra. Đó là lý do để chủ blog Bách Việt xin mạn phép các tác giả đăng lại nội dung dưới đây với một tiêu đề khác: "Khi lịch sử bị hiểu sai" với mong muốn rằng các nhà nghiên cứu hãy tập trung giải mã những khuất tất bằng chính những công trình nghiên cứu của bản thân, chứ không chỉ dựa vào tư liệu và sử sách của người khác để tô vẽ hoặc bác bỏ truyền thuyết của dân tộc mình.
Kinh Dương Vương, Ông nội của Vua Hùng là sản phẩm văn hóa Tàu - (Ts Trần Trọng Dương) Theo blog Nguyễn Xuân Diện Kinh Dương Vương- ông là ai?
Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, được biết tỉnh Bắc Ninh đã triển khai một dự án khôi phục và tăng quy mô xây dựng khu di tích thờ "Thủy tổ Kinh Dương Vương - ông nội của Vua Hùng", với vốn đầu tư 500 tỷ đồng. Thật là hãi hùng về con số chi phí khổng lồ này, trong khi tình hình kinh tế đang hồi bấn loạn, ngân khố cạn kiệt, nhân tâm đang xáo động.
"Ông nội của Vua Hùng" - chính điều này đã thôi thúc một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cất công, một lần nữa truy tìm nguồn gốc của Kinh Dương Vương. Và thật bàng hoàng: Kinh Dương Vương phải chăng chỉ là một sự cóp nhặt của Ngô Sĩ Liên từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ Trung Hoa? Phải chăng, chúng ta đã và đang, và còn mãi về sau thờ một ông vua giả có nguồn gốc của Tàu?
Như trong bài viết trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng Đại Việt sử ký toàn thư- bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam đề cập đến những sự kiện từ khởi thủy cho đến thế kỷ XVII- là một tư liệu được biên soạn trên tư duy đa nguyên "văn- sử- triết" của thời Trung Đại. Trong đó, bộ sử này đã sưu tập nhiều huyền thoại dân gian của đời sau để bù đắp cho những khuyết thiếu của sử liệu. Trong bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa ra những cứ liệu để làm rõ hơn vấn đề tai hại trên. Đối tượng được đề cập đến ở đây chính là Kinh Dương Vương- một nhân vật được coi là thủy tổ của Việt Nam- phải chăng chỉ là một ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc.
Cổng đền thờ Kinh Dương Vương 
có bốn chữ Hán đắp nổi THỦY TỔ ĐÀI MÔN,
ảnh: Thọ Bình, Bá Kiên, theo tienphong.vn
Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương
Theo như cách trình bày ở Kỷ Hồng Bàng thị trong Toàn thư, Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Vì thế Kinh Dương Vương này được Ngô Sĩ Liên coi như là là vị thủy tổ đầu tiên của người Việt và nước Việt. Chẳng những thế, Kinh Dương Vương còn lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long để sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ- con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống bể. Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV đã bình luận đoạn này như sau: "Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?"[1]. Kể từ sau Ngô Sĩ Liên, phần lớn các bộ lịch sử Việt Nam đều công nhận Kinh Dương vương là thủy tổ của nước Việt. Ví dụ như sách Thiên Nam minh giám (thế kỷ XVII) mở đầu như sau:
"1- Tượng mảng xưa sách trời đã định,
Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
Tày nhường phải đạo mở mang phải thì.
5- Tới Lạc Long nối vì cửu ngũ,
Thói nhưng nhưng no đủ đều vui,
Âu Cơ gặp gỡ kết đôi,
Trổ sinh một bọc trăm trai khác thường.
Xưng Hùng Vương cha truyền con nối,
10- Mười tám đời một mối xa thư,
Cành vàng lá ngọc xởn xơ,
Nước xưng một hiệu năm dư hai nghìn."[2]
Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (ngày nay). Năm 1840, đền cho dựng bia đá "Kinh Dương Vương lăng". Năm 1940, đời vua Bảo Đại, đền làm thêm hai đại tự "Nam Tổ miếu" và "Thần truyền thánh kế". Năm 2000, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã về thăm đền và để lại bút tích gợi ý tỉnh Bắc Ninh có đề xuất lên trung ương nâng cấp cơ sở thờ tự của tổ tiên. Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đã đến thăm đền và để lại những lời kỷ niệm sâu sắc về cội nguồn dân tộc[3]. Năm 2012, các tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm đã xuất bản cuốn sách “Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương” - Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc. Sách tập hợp các tư liệu từ “Đại Việt Sử ký toàn thư”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Thủy Kinh chú”… từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả, nhà sử học. Ngày 25 tháng 2 năm 2013, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức lễ hội kỷ niệm 4892 năm Đức thủy tổ khai sinh mở nước. Đến dự lễ khai hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo một số Bộ, ngành.
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cùng các đại biểu dâng hương tưởng niệm Đức Thủy tổ Kinh Dương Vương. Ảnh: dangcongsan.vn -
Sau lễ dâng hương, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã dự lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương. Theo quy hoạch đã được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, dự án có tổng diện tích gần 40ha, gồm không gian bảo tồn di tích, không gian phát huy giá trị di tích, không gian quản lý và dịch vụ phụ trợ, với nguồn vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng[4]. Như vậy, sau nhiều trăm năm tồn tại, tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương đến nay đã chính thức được sự đồng thuận của nhà nước.
Kinh Dương Vương- từ nhân vật của truyện truyền kỳ Trung Hoa
Tuy nhiên, như ngay ở đầu bài viết, chúng tôi có ý nghi vấn rằng, Kinh Dương Vương chưa chắc đã là một nhân vật lịch sử có thật, mà có thể đó chỉ là một sự nhầm lẫn của Ngô Sĩ Liên khi ông đã sưu tầm một câu chuyện văn học để mở đầu cho một công trình sử học của nước nhà. Chứng cớ nào đề chúng tôi có thể đi đến nghi ngờ như vậy?
Chứng cứ nằm ngay trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”[5]. Nhưng chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái (một tác phẩm văn học sưu tầm những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam) của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?)[6], rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang[7].
Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu sau này. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc có chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường[8]. Truyện có thể tóm tắt như sau: Liễu Nghị là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối, xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ, lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng. Sau hai vợ chồng đều thành tiên[9].
“Liễu Nghị truyện” được coi là một truyện truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện được lưu hành rộng rãi trong dân gian. Đến thời Tống trở đi, truyện Liễu Nghị được Thượng Trọng Hiền chuyển thể sang kịch bản tạp kịch với tên “Động Đình hồ Liễu Nghị truyền thư”[10]. Liễu Nghị đã trở thành một tích truyện rất được ưa thích trong văn hóa diễn xướng của người Trung Quốc. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng đã ra đời, như nhà Tống có Liễu Nghị đại thánh nhạc, nhà Kim có Liễu Nghị truyền thư của Gia Cùng Điệu, triều Nguyên có Liễu Nghị Động Đình long nữ (Nam hí), thời Minh Thanh có Quất bồ ký của Hứa Tự Xương, Long tiêu ký của Hoàng Thuyết, Long cao ký của Dương Ban, Thẩn trung lâu của Lý Ngư, Thừa long giai thoại của Hà Phủ[11].
Cho đến nay, Liễu Nghị truyền thư (còn có tên Thủy tinh cung, Liễu Nghị kỳ duyên) vẫn được người Trung Quốc coi như là một kịch mục kinh điển của hý kịch Trung Hoa. Từ năm 1952, vở kịch này đã nhiều lần được dàn dựng bởi các đạo diễn khác nhau, số lần trình diễn có lẽ là khá nhiều, hiện chưa thể thống kê hết được[12]. Không những thế, tích truyện này đang có xu hướng được áp dụng sang các hoạt động văn hóa khác hiện nay ở Trung Quốc. Ví dụ, người ta lấy đề tài này làm tranh khắc ván, thư họa truyền thống (thủy mặc).
Ngày 17 tháng 7 năm 2004, Bưu cục Quốc gia Trung Quốc đã phát hành seri tem “Dân gian truyền thuyết- Liễu Nghị truyền thư”, gồm 4 con tem với 4 hoạt cảnh: “Long nữ gửi thư”, “Thư gửi Động Đình”, “Cốt nhục đoàn tụ”, và “Nghĩa trọng tình thâm”[13].
Và những nhận định của sử gia đời sau
Đến đây có thể nhận định về nguồn gốc của các mô típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân- Âu Cơ, và coi đó như là nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương- cái triều đại mà người Việt ngày nay coi như là lịch sử đích thực của mình. Nhưng, với một tác phẩm có ảnh hưởng lớn như vậy, các nhà Nho Việt Nam trong nhiều thế kỷ hẳn cũng phải biết đến. Bằng chứng là nhà thơ nổi tiếng Thái Thuận (Tiến sĩ 1475) cũng đã sáng tác bài thơ Liễu Nghị truyền thư. Nhưng đó là chuyện của văn học.
Còn với tư cách là những người viết sử, không ít sử gia thời Trung Đại đã phản đối cách lắp ghép của Ngô Sĩ Liên. Đầu tiên, phải kể đến những nhận định của Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử kí tiền biên. Ông viết: “Nay xét phần Ngoại kỉ chép: Năm Nhâm Tuất thì bắt đầu Giáp Tí là năm nào? Ghi chép tên húy Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân sao riêng lược bỏ Hùng Vương? Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi. Cái lỗi ấy là tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực. Phàm những chuyện lấy từ Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, cũng như Bắc sử lấy ở Kinh Nam Hoa và thiên Hồng Liệt đấy.”[14]
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856 - 1883) viết: “Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân trong ‘Kỉ họ Hồng Bàng, vốn từ thời Thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ”[15] . Chuẩn tâu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và kiên quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”[16].
Qua những trình bày ở trên, độc giả đã phần nào mường tượng ra con đường thu nhận biến đổi tích truyện từ truyện Liễu Nghị đến truyện Kinh Dương. Đây sẽ là những tư liệu thú vị để nghiên cứu về tiếp xúc văn học văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Đồng thời cũng là “mẫu sử liệu” thú vị cho giới nghiên cứu khám nghiệm và giám định. Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới sự ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi[17].
Ts Trần Trọng Dương
----------------------
[1] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.131-133.
[2] Trịnh thị. (1624-1657). Thiên Nam minh giám. tr.4a. (Thư viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh , ký hiệu HNv.006) trang 1a. Tham khảo phần phiên khảo của Hoàng Thị Ngọ, (1994). Nxb Văn học. Hà Nội.
[3] Thọ Bình - Bá Kiên. Đầu năm thăm lăng Kinh Dương Vương ( ông nội vua Hùng ). Theo tienphong.vn
[4] Việt Cường. Bắc Ninh khai hội Kinh Dương Vương. http://vtv.vn
[5] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. sdd. tr.133.
[6] Trần Thế Pháp. (XIV?). Lĩnh Nam chích quái. ký hiệu. A.1200 (Viện NC Hán Nôm), tr.4a-4b.
[7] Nguyễn Thanh Tùng. 2010. Giao lưu tiếp biến văn hoá Trung - Việt trong lịch sử: khảo sát sự tiếp nhận tích truyện Liễu Nghị truyền thư ở Việt Nam thời trung đại. Hội thảo Quốc tế giao lưu Văn hóa Việt Nam Trung Hoa. Tp Hồ Chí Minh.
M. Durrand. 1959. Technique et Pantheon des médiems Vietnamien. BEFEO. Vol.XLV, Paris. [chuyển dẫn Ngô Đức Thịnh. 2009. Đạo mẫu Việt Nam.(Tập 1) Nxb Tôn giáo. Hà Nội. tr.63- 64.
[8] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. Trung Quốc văn học đại từ điển (thượng). Thượng Hải từ thư xuất bản xã. Thượng Hải. tr.277.
[9] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr.409.
Bản dịch tiếng Việt có thể tham khảo : Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kì ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, 1990. – Số 2 (9). - Tr.90-109.
[10] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.
[11] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.
[12] Quý vị có thể copy chữ Hán “柳毅传书” xem các trích đoạn vở kịch này trên http://www.youtube.com
[13] http://www.fhstamp.com/bbs/read.php?tid=784
[14] Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản. Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). Nxb KHXH.H.1997. tr.40.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển I, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu: R.591, tờ 4a- 5b.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), sdd. R.591, tờ 9b-10a.
[17] Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.
 Nguồn: Tia Sáng và đưa lại trên tranhung09.blogsspot.com 
(Theo Trần Kinh Nghị)

--------------

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

"Âm nhạc đang giống...chợ Đồng Xuân" (!?)

So sánh với một cái chợ, ông có ngại rằng mình hơi quá lời không?
- Tôi nói cái chợ là bởi vì ở đó nếu như các nhà phê bình âm nhạc lên tiếng với từ những cô, cậu ca sĩ trẻ cho đến những ca sĩ hạng A, A sao thì họ sẽ sẵn sàng xù lông, giương vuốt ra với các nhà phê bình ngay. Ở đó các nhà phê bình có nói, cũng không có ai nghe hay nhìn nhận. Còn nói đến sự chi phối của đồng tiền, thì nhiều khi cũng vì tiền mà có một vài ca sĩ dù tuyên bố ghét bỏ nhau, từ mặt nhau, nhưng nếu được các nhà trọc phú mời hát song ca, hát bè cho nhau, bạn có tin rằng những ca sĩ đó sẽ sẵn sàng bằng mặt mà không bằng lòng, vẫn hát với nhau, và sau khi hát xong lại có thể tiếp tục... từ mặt nhau…
               >> Đọc tiếp/Nguồn  
-----------------

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

NHỚ BẾN SẮN, NGHĨ VỀ Y ĐỨC HÔM NAY!

* Ghi chép -  Nghệ sĩ KIM CHI 
            Câu chuyện này xảy ra năm 1985, thế kỷ trước. Khi đó tôi giảng dạy trong trường Nghệ thuật sân khấu 2 (125 Cống Quỳnh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh). Ngày đó chúng tôi dựng vở "Loài hoa bất tử" ( LHBT) của nhà viết kịch Luu Quang Vũ cho các em học sinh diễn viên thi tốt nghiệp. Kịch bản này nói về tình yêu của một thầy thuốc dành cho bệnh nhân phong. Bác sĩ Nhân đã tiêm vào cơ thể mình máu mủ của người hủi để chứng minh "bệnh phong không dễ lây". Tôi đã xúc động đến trào nước mắt khi đọc kịch bản. Đây là một bài ca về lòng nhân ái của một nhà khoa học đã dành cả cuộc đời mình cho những con người bất hạnh bị mắc bệnh phong.
Vở diễn  LHBT đã thành công tốt đẹp. Chúng tôi quyết định sẽ đem vở diễn đó đến với công chúng. Khán giả mà tôi muốn phục vụ đầu tiên vở diễn này là những bệnh nhân ở các trại phong. Bởi tôi muốn chia sẻ nỗi đau với họ. Điều quan trọng nữa là tôi muốn truyền vào tâm hồn những người học trò của tôi tình yêu thương dành cho những con người bất hạnh. Các em chỉ có thể trở thành những nghệ sĩ chân chính khi trái tim chúng biết rung động trước nỗi đau của đồng loại.
            Tôi tới bệnh viện da liễu tìm gặp bác sĩ Hồ Minh Quang - Giám đốc Bệnh viện phong Bến Sắn. Hàng tuần ông vẫn về đây để lấy thuốc men hoặc hội họp... Ông là người tập kết ra Bắc và trở lại miền Nam. Tôi đưa cho ông tờ giấy giới thiệu của nhà trường. Đọc xong ông quay lại nhìn tôi và mỉm cười:
 - Cháu là Kim Chi, đạo diễn, giảng viên trường sân khấu ?
- Dạ phải.
- Nhìn cháu  quen lắm...À, phải rồi, chú vừa thấy cháu trên phim cách đây ít hôm. Cháu đóng một cô bộ đội...
- Dạ phải. Phim "Bài ca không quên" do Nguyễn Văn Thông đạo diễn...
            Thấy ông giám đốc bệnh viên phong  nhận ra mình thì tôi mừng thầm vì biết ông cũng thích văn nghệ.
Ông rất ngạc nhiên và xúc động khi nghe tôi đề nghị ông cho phép chúng tôi tới phục vụ bệnh nhân phong ở bịnh viện ông phụ trách.
- Cháu muốn đưa các học sinh tới diễn ở trại phong thiệt sao? Cháu không sợ lây hả ?
Tôi trả lời ông:
- Chú là bác sĩ bệnh phong, chú biết bệnh đó không dễ lây mà.
Ông vui hẳn:
- Bệnh phong hoàn toàn không dễ lây... Cháu nói đúng. Việc cháu đề nghị tới đó biểu diễn khiến chú xúc động và vui quá. Nhưng mà bệnh viện của chú rất nghèo. Chú không có tiền trả thù lao cho các cháu...
- Chú nghĩ chúng cháu tới đó để lấy tiền của chú và bệnh nhân sao?
Như không tin vào tai mình, ông nói:
- Vậy thì các cháu tới thật nhé. Chú sẽ bố trí cho xe tới trường nghệ thuật sân khấu đón các cháu. Bệnh viện có chỗ ở cho khách. Ăn uống đã có các sơ lo. Nhưng có thể ăn tươi hơn bình thường một chút thôi... Bệnh viện của nhà nước dành cho người nghèo, phục vụ không lấy tiền của bệnh nhân.
            Nghe lời tâm sự của vị giám đốc già, tôi rất xúc động. Tôi nói với ông:
- Con rất hiểu và rất thương những người bệnh phong, chú ạ. Vở diễn mà con muốn mang tới Bệnh viện Bến Sắn là nói về tình yêu của người thầy thuốc và các xơ dành cho người bệnh phong. Anh ruột của con cũng bị bệnh phong...Trong lòng con luôn mang nỗi khổ đau của người bị phong.
Chú hai nhìn tôi đầy vẻ cảm thông:
- Vậy thì chú hiểu cháu rồi...Lúc nào cháu có thể đưa đoàn tới ?
-  Dạ, bây giờ trước tiên con phải đi tiền trạm tới Bệnh viên Bến Sắn để  chuẩn bị sân khấu và mọi thứ...
- Đồng ý.
- Con muốn đi liền trong ngày hôm nay có được không chú?
- Sáng mai sẽ có chuyến xe đưa các xơ đi học thêm chuyên môn ở dưới này trở về bệnh viện. Giờ cháu ngồi đây chờ chú ít phút.
            Ông đi vào phòng trong  một lát rồi quay trở lại. Ông đưa cho tôi mảnh giấy nhỏ ghi địa chỉ. Nơi tôi phải tới là một tu viện tọa lạc ở 42 Tú Xương. Các xơ công tác ở các tỉnh về TP học hành, hội họp thường nghỉ ở đây.
Ông dặn đi dặn lại:
- Đúng 4 giờ sáng  xe chạy.Người ta đi sớm để lên đó còn kịp giờ làm việc buổi sáng.
- Dạ, con sẽ đúng giờ.
            Tôi cảm ơn ông rồi ra về.
             Tôi đến chỗ hẹn trước năm phút. Các xơ cũng đã có mặt trên xe. Xơ lớn tuổi nhất ở đó chỉ ghế số 1 bảo tôi lên ngồi. Tôi ngập ngừng:
- Dạ, xơ để em ngồi dưới ạ.
Xơ vui vẻ nhưng nói như ra lệnh:
- Không. Đây là chỗ dành cho khách quí của chúng tôi. Ông giám đốc đã báo chúng tôi chuyến xe có nữ nghệ sĩ Kim Chi cùng đi...Từ hôm  qua tới giờ  chị em chúng tôi đang mong gặp cô. Mời cô vào chỗ cho xe chạy.
            Tôi đành bước lên ngồi vào ghế số 1 mà trong lòng rất ngại vì thấy trên xe có xơ lớn tuổi hơn mình.
Một xơ khác nói:
- Cô Kim Chi xinh quá! Nghe chú hai nói cô lên để tổ chức biểu diễn phục vụ cho bệnh viện chúng tôi hả?
- Dạ, đúng ạ.
Một  xơ  khác lại nói:
- Chắc chắn bệnh nhân sẽ rất vui. Ở trên đó chung quanh là rừng, cách biệt với xóm làng nên buồn lắm...
Rồi các  xơ giới thiệu tên từng người đi trên xe: Xơ lớn tuổi nhất tên Loan - là Phó giám đốc bệnh viện. Suốt đoạn đường tôi đã tranh thủ tìm hiểu về tình hình bịnh nhân, thầy thuốc và các xơ. Tôi hỏi :
  - Các xơ có thể kể cho em nghe lịch làm việc trong một ngày không ạ?
Xơ Loan nói đùa:
- Cô Chi tính viết kịch bản về chúng tôi hay sao mà hỏi kỹ thế?
- Trong vở diễn này có nhân vật  là cô nữ tu...Chúng em phải biết rõ thì mới diễn tốt được ạ.
            Vậy là các  xơ  kể chi tiết mọi sinh hoạt trong ngày cho tôi. Từ 4 giờ sáng khi chuông nhà thờ vang lên thì các  xơ thức dậy. Sau khi làm vệ sinh cá nhân xong thì các  xơ  tới trước bàn thờ chúa cầu nguyện. Cầu nguyện xong các  xơ có ít phút tập thể dục và sau đó đi lấy cơm về ăn sáng. Đúng 6 giờ các  xơ tới phòng bệnh chăm sóc bệnh nhân. Việc đầu tiên là cho bệnh nhân ăn sáng . Ai bệnh không quá nặng thì tự đi lãnh phần ăn. Ai tay chân bị co rút lại, đi đứng khó khăn thì các  xơ mang thức ăn tới tận giường bệnh. Ai tay bị lở loét phải băng bó thì các  xơ đút cho ăn. Các  xơ chăm sóc người bệnh rất tận tình, nâng niu như ruột thịt.
              Chuyện về cuộc sống của bệnh nhân và thầy thuốc đã lôi cuốn tôi tới độ xe đã tới nơi mà tôi không nhận ra.
  Các  xơ đưa tôi về một căn nhà nhỏ xinh xắn chừng 30m2, chỉ có một phòng.( Bây giờ ngôi nhà khách đã xây lại rộng rải, có tới ba bốn phòng)
 Xơ Loan nói với tôi:
- Đây là ngôi nhà chúng tôi dành cho khách quí. Cô rửa mặt, nằm nghỉ ngơi ít phút rồi ta ăn sáng.
Tôi cảm ơn  xơ rồi quay vào phòng. Ở một góc đã có chậu nước sạch để cho khách rửa mặt.
            Chỉ hơn chục phút đã có một  xơ  trẻ bưng cơm tới. Tôi nói ngay:
- Sao các  xơ lại làm vậy? Hãy cho phép tôi cùng ăn với mọi người...
            Xơ trẻ tươi cười:
- Dạ, khách ở nhà này là khách quí phải ăn riêng ạ.
Tôi thầm nghĩ " hình như mình làm cho các xơ ở đây vất vả thêm rồi."
            Mâm cơm sáng của tôi gồm một bát cơm, mấy miếng đậu hũ kho với dừa, một chén nước tương có quả trứng luộc, một dĩa rau muống  .
            Tôi vừa ăn sáng xong thì  xơ Mai Anh  tới đưa tôi đi xem chỗ sẽ làm sân khấu. Sau khi xem xong địa điểm, tôi trở về vẽ lại sơ đồ và ghi chi tiết những thứ cần cho đêm diễn. Làm việc với  xơ Loan (Viện phó) xong thì tôi xin cho đi xem chỗ ở sẽ dành cho các em. Ở đó có một phòng dành cho con trai, một phòng dành cho con gái.
              Sau khi lo xong phần công việc của người tiền trạm,  tôi xin đi thăm bệnh nhân. Xơ Loan đích thân đưa tôi đi. Bệnh nhân ở đây đủ các lứa tuổi. Nhưng phần đông bệnh nhân là những người trung niên, trên trung niên, cả đàn ông lẫn đàn bà. Hầu hết bệnh khá nặng.   
Tôi nói với  xơ  Loan: "Xơ về làm việc đi, cứ để em đi một mình tiếp xúc với bệnh nhân."
            Tôi đi thăm không sót phòng bệnh nào. Câu chuyện tôi nhớ nhất là khi tôi gặp một bệnh nhân nữ đã ngoài sáu mươi. Khi tôi hỏi thăm hoàn cảnh gia đình bà thì bà òa khóc. Bà kể rằng nhà bà chỉ có một mẹ một con. Khi thằng con trai phát hiện ra bà bị bệnh hủi thì một đêm nọ khi bà đang ngủ, nó khóa cửa ngoài lại rồi rưới xăng đốt nhà. Nghe tiếng la "nhà cháy", giật mình tỉnh giấc, bà quá hoảng sợ. Bà đã tung vách liếp, chay được ra ngoài. Bà đã được láng giềng đưa tới bệnh viện Bến Sắn hơn một tháng. Mặt mũi bà bị biến dạng do vi khuẩn Hansen ăn mất cả lông mày và sống mũi đã bị sụp. Đã vậy còn những vết bỏng lửa nên mặt bà đỏ lựng, nhìn  thật tội nghiệp.
             Câu chuyện người đàn bà mắc bệnh phong bị con đốt vẫn ám ảnh tôi cho tới hôm nay. Thằng con Trời đánh kia chắc chắn vì sợ có mẹ bị bệnh hủi không lấy được vợ nên mới tìm cách giết mẹ.
             Khi trở lại nhà khách ăn trưa, các  xơ nói cho tôi biết là người phụ nữ tội nghiệp đó ở cách bệnh viện chỉ vài cây số trong một cái làng nghèo sống cách biệt giữa rừng. Họ hoàn toàn không biết bệnh viện phong ở rất gần làng.
            Các  xơ nói cho tôi biết tất cả những người bệnh phong ở đây đều rất nghèo và thường ở những nơi xa thành phố, ít học. Bệnh nhân ở đây hầu như đều bị gia đình xa lánh, người ta sợ bị khinh rẻ vì có người nhà mắc bệnh phong.
            Xơ Loan nói: "Khi bệnh ở vào giai đoạn nặng thì vi khuẩn Hansen ăn hết cả lông mày, sống mũi, tay chân bị rút co quắp lại, nhìn giống như những củ gừng. Thuốc chữa bệnh phong uống vào đủ liều thì sẽ khỏi dần. Nhưng nếu uống quá liều qui định sẽ khiến cho bệnh nhân bị công thuốc, khi đó tay chân sẽ bị co rút lại hết...". Anh hai Mậu của tôi đã rơi vào trường hợp này. Bàn tay anh co lại không thể cầm nắm đồ vật được. Khi dựng vở "Loài hoa bất tử",  tôi đã hướng dẫn các em thể hiện  đôi tay rất giống bệnh nhân phong ( lúc nào cũng phải co năm ngón tay lại),
             Cơm chiều xong, các  xơ dặn: " Chúng tôi tới nhà thờ cầu nguyện một lúc rồi trở về . 7 giờ tối nay mời cô Chi lại chỗ chúng tôi chơi nhé."
   Khi các  xơ tới nhà thờ thì tôi cũng trở về phòng ghi chép kế hoạch công việc chuẩn bị cho đêm diễn hôm sau. Đúng 7 giờ tối, tôi quay lại chỗ các  xơ thì mọi người đã có mặt đông đủ. Trên bàn những li nước trà gạo lứt rang bốc khói thơm phức. Bên cạnh là những thanh kẹo đậu phông vàng ươm, nhìn rất hấp dẫn. Tôi đã hát, đọc thơ cho các  xơ nghe. Các  xơ  kể cho tôi nghe bao chuyện buồn vui trong công việc. Thấy phòng sinh hoạt chung của các  xơ có ảnh của một vị Thánh tên là Vincent de Paul và mẹ Louise de Marillac, tôi hỏi về hai vị đó. Các  xơ nói mình tu theo dòng tu của hai vị đó - dòng tu HIẾN THÂN.  Dòng tu này có lờì thề là "dành cả cuộc đời cho những người bất hạnh ". Các  xơ ở bệnh viện này mỗi người một việc.. Bác sĩ, y tá thì lo việc chữa bệnh. Công việc hộ lí do các xơ đảm nhận. Việc của các  xơ hằng ngày là: lau rửa, băng bó vết thương, tắm rửa, giặt giũ, cho bệnh nhân ăn...
Tôi hỏi: "Có khi nào các  xơ nhớ nhà, nhớ người thân và thấy buồn không?"
            Xơ Loan nói: "Chúng tôi bận rộn nên không có thời gian để buồn".
Rồi  sơ Mai Anh kể: "Các  xơ  đây nhiều lần bị các bệnh nhân đuổi đánh chạy vòng vòng khắp bệnh viện mà cũng chẳng ai buồn bực, giận hờn gì...". Tôi nghe kể vậy cũng thấy bất ngờ, hỏi: "Họ vô ơn thế sao?".
Xơ Loan dịu dàng giải thích: "Không phải đâu, thuốc chữa bệnh làm cho trong người của bệnh nhân phong nóng nảy, bứt rứt, nên nhiều khi  họ không tự kiểm soát được hành vi của mình... Chúng tôi không những không giận họ mà con rất thương, buổi chiều đi nhà thờ còn xin chúa tha tội  cho những con người tội nghiệp đó...".
            Tôi đã có một buổi tối đáng nhớ cùng các  xơ ở bệnh viện Bến Sắn.
Ngày hôm sau tôi đưa các em lên diễn vở "LHBT". Vở diễn rất thành công, bởi khán giả là những người trong cuộc. Khi kết thúc vở diễn, đại diện của bệnh nhân lên phát biểu cảm ơn, giọng ông ấy ghẹn ngào:
- Chúng tôi tưởng chỉ có các thầy thuốc và các xơ  ở đây thương chúng tôi thôi... Không ngờ các anh chị em văn nghệ sĩ cũng dành tình thương cho chúng tôi..."   
             Câu chuyện  chúng tôi diễn ở bệnh viện Bến Sắn và hình ảnh các  xơ ở đó không bao giờ nhạt phai trong kí ức của tôi.
Sau này, tôi được biết: Nguồn gốc bệnh viện phong Bến Sắn từ một Khu Điều trị Phong Bến Sắn, được thành lập năm 1959 do Soeur Rose – người Pháp và Soeur Mathilde Thanh quản lý, trực tiếp chăm sóc bệnh nhân (nay ở huỵen Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Sau ngày đất nước thống nhất, Nhà nước tiếp quản. Từ năm 1976 được giao cho Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh. Khu Điều trị phong có cơ sở chính là Trại phong Bến Sắn với diện tích là 96 hec-ta và ba cơ sở phụ: Thanh Bình, Bình Minh, Phước Tân. Nhiệm vụ chính của Khu Điều trị là giúp bệnh nhân và con em họ phòng ngừa, chữa trị và phục hồi về mặt y tế, đồng thời động viên giúp đỡ họ ổn định tinh thần, tạo điều kiện cho họ có cơ hội làm ra của cải vật chất để sống tự lập và cùng đóng góp cho xã hội.
Với phương châm điều trị dứt bệnh và giúp cho người bệnh có thể hội nhập cộng đồng, đơn vị đã cố gắng tạo điều kiện để các trại viên khỏe phát triển kinh tế gia đình như chăn nuôi, trồng trọt... Con em của họ đều khỏe mạnh và đi học ở các trường bên ngoài, có em đã vào Đại học, Trung học chuyên nghiệp và một số em sau khi tốt nghiệp đã trở về phục vụ ở Khu Điều trị. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế nên phần lớn trại viên vẫn phải nhận trợ cấp từ Nhà nước và các tổ chức xã hội.
 Ban giám đốc và các xơ ở đây đã ngỏ lời tâm sự rằng: Bệnh phong là một bệnh xã hội. Để có một cách nhìn đúng đắn về căn bệnh này đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, mỗi người trong chúng ta cần ý thức giúp người bệnh phong về nhiều phương diện mà cụ thể là: Y tế, tinh thần, kinh tế xã hội... khi đó người bệnh phong mới được sống với đầy đủ quyền lợi, trách nhiệm và nhân phẩm của họ. Chúng tôi rất mong nhận được nhiều hơn nữa sự giúp đỡ của các cấp chính quyền, các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước. Hãy cùng với chúng tôi góp một chút công sức, tinh thần và vật chất để phần nào bù đắp những bất hạnh, nỗi đau của người bệnh phong, giúp họ được sống như bao con người bình thường trong xã hội…
            Vậy mà đã 28 năm trôi qua với  biết bao thăng trầm thời cuộc, đầu tháng 8./2013 mới rồi, tôi đã tới bệnh viện da liễu Thành phố Hồ Chí Minh để đi nhờ xe lên thăm lại bệnh viện phong Bến Sắn ở Bình Dương. Cảnh vật nơi đây đã hoàn toàn thay đổi: Nhà cửa khang trang, vườn hoa,  cây cảnh được chăm sóc tốt tươi. Một số người quen trước đây tôi không còn được gặp lại. Chú tư Quang giám đốc đã về sống ở Nghệ An, xơ hai Loan, Phó giám đốc đã mất,  xơ Mai Anh đã chuyển ra Nghệ An công tác... Ở đây cảnh vật và con người có sự thay đổi lớn. Nhưng có một thứ vô cùng quí giá không hề thay đổi là tấm lòng của các  xơ dành cho những bệnh nhân phong.  Những cán bộ quản lý, hộ lý và các Ma-xơ ở đây sống dạm bạc, không chạy theo đồng tiền, không ham tuyên truyền, thành tích, họ thực tâm theo dòng tu Hiến Thân vì những bệnh nhân phong. Khi tiếp xúc với các xơ từ 28 năm trước, xơ Loan và các xơ đã tâm sự: “Chuyện kể cho Kim Chi nghe để tâm tình thôi, đừng viết gì, đừng đi khen với ai, chúng tôi làm từ thiện là từ thiện, không muốn ai khen hoặc báo chí đưa tin”.
Biết vậy, bao năm nay tôi cứ giữ những ấn tượng đẹp về họ. Có điều, lâu nay đọc báo viết, báo mạng, nghe-nhìn qua các đài, thấy người đời kêu về “y đức” hiện nay xuống cấp quá. Người ta bất nhẫn vì đồng tiền mà ‘nhân bản xét nghiệm máu’; người ta vô trách nhiệm tiêm vắc-xin để những đứa trẻ sơ sinh chết oan uổng; người ta bỏ mặc lời kêu cứu khẩn cầu của bệnh nhân khi họ không có ‘phong bì’ nhét túi; người ta bán thuốc quá đát, thuốc giả cho người bệnh để vơ vét lợi nhuận; cả lãnh đạo Bộ y tế và các bác sĩ cùng vô cảm khi có 3 trẻ bị chết do tiêm nhầm thuốc hoặc thuốc quá hạn dùng…; người ta ta ép bệnh nhân và người  nhà bệnh nhân chịu những khoản phí tổn dịch vụ bệnh viện quá đắt và vô lý…Giá như họ có được chút tấm lòng như các xơ ở bệnh viện phong Bến Sắn!                     
            Bất giác tôi nghĩ "Phải chi những người lãnh đạo Việt Nam, những đảng viên cộng sản có chức, có quyền cũng thật lòng yêu dân như các xơ yêu bệnh nhân phong nhỉ...!".
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10-8-2013
                          Ns. K.C
(Tác giả gửi bản tháo và ảnh đến BVB)
-------------------

CŨNG LÀ “LỠ BƯỚC SANG NGANG” ?

* MINH DIỆN
           Vào ngày này 58 năm trước, 2-9-1955, tờ báo Trăm Hoa ra đời, đặt Tòa soạn tại 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đó là tờ báo tư nhân hiếm hoi xuất bản vào đúng ngày Quốc khánh năm thứ 10 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do nhà giáo, nhà văn Nguyễn Mạnh Phác, tức Trúc Đường, làm chủ nhiệm, và nhà thơ Nguyễn Bính, em trai ông, làm chủ bút. Tờ Trăm Hoa chỉ tồn tại được hơn tám tháng, phát hành được 31 số báo, đến giữa tháng 5-1956 phải đình bản vì lỗ vốn và cũng do một sắc lệnh...Hơn 5 tháng sau, 20-10-1956, tờ Trăm Hoa tiếp tục xuất bản (hay còn gọi “Trăm hoa mới”), dời tòa soạn về 17 Lê Văn Hưu, do Nguyễn Bính làm chủ nhiệm và cũng là chủ bút. Nhưng Trăm Hoa này mệnh cỏn yểu hơn, chỉ ra được 16 số , đến đầu  tháng 6-1957, Nguyễn Bính phải tuyên bố “làm đám ma cho báo Trăm Hoa”.
Hai tờ báo Trăm Hoa đều “Sớm nở tối tàn”, và nhà  thơ Nguyễn Bính phải ngậm ngùi rời Hà Nội về Nam Định, nơi ông sinh ra, sống lay lắt mười năm, và ngày 9-2-1967, tức 30 tết Bính Ngọ ông qua đời khi vừa tròn 49 tuổi .
              Kể từ ngày ấy, ngoài vài bài thơ đã dân gian hóa như “Lỡ bước sang ngang” , “Chân quê”, “Cô hàng xóm”..., tác phẩm của Nguyễn Bính hầu như chìm vào quên lãng. Tên tuổi  tờ báo Trăm Hoa và  tên tuổi  nhà thơ ít người nhắc tới.
               Đến  giữa thập kỷ 80 thế kỷ trước, sau khi Tổng bí thư  Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ sỹ” nhiều tác phẩm của Nguyễn Bính mới được xuất bản, đồng thời với  những bài viết ca ngợi  ông. Tuy nhiên  các bài viết rất dè dặt khi nói về số phận của tờ báo Trăm Hoa và cái chết bi thương của nhà thơ Nguyễn Bính.

               Những người rất thân ông, từng là nạn nhân trong vụ Nhân văn-Giai phẩm  như Trần Lê Văn, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Hoài Việt thì e ngại. Đọc  “Cát bụi chân ai” và “Chiều chiều” thấy nhà văn lão thành Tô Hoài nói lấp lửng, úp mở vài điều. Còn Chu Văn, thì tả chân dung Nguyễn Bính  khá chi li và tỏ ra quý mến và ưu ái ông : “ Nguyễn Bính về Nam Hà, tuổi gần năm mươi, gầy , đen, tóc cắt ngắn gần như trọc. Anh ăn mặc thật giản dị: Một cái áo sơ mi màu nâu, một quần ka ki bạc màu, và đôi dép cao su. Toàn bộ hình thức ấy không gợi một vẻ gì một nhà thơ lớn trước đây - sau này người ta gọi là “thi nhân tiền chiến”. Anh cười đôi mắt nâu, sắc sảo, ánh hơi lạnh, và nụ cười khô, hàm răng ám khói thuốc lào” (nguồn Tuyển tập Nguyễn Bính , NXB Văn học,1986, trang 191)
                Năm 2010 nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân có một bài viết khá công phu về tuần báo Trăm Hoa, qua đó giúp mọi người hiểu được phần nào nguyên nhân “sớm nở tối tàn” của báo Trăm Hoa và chuyện Nguyễn Bính phải ngậm ngùi rời Hà Nội về Nam Định, chết cô đơn giữa quê hương mình, nhưng trong bài đó, ông  không nói về quãng đời phiêu lưu trước đó của nhà thơ.
               Nhân dịp Quốc Khánh năm nay, tôi ra Phú Quốc, tình cờ thấy một tảng đá trong khu vườn Resort trên bờ biển khắc bài thơ (theo kiểu  thư pháp) “Cánh buồm nâu” của Nguyễn Bính:
                      “Hôm nay dưới bến xuôi đò
                      Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
                       Anh đi đấy, anh về đâu?
                       Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm...”
              Người chủ Resort nói ông khắc bài thơ của Nguyễn Bính lên đá vì Nguyễn Bính đã từng đến Phú Quốc với nhà thơ Đông Hố trước cách mạng tháng Tám 1945. Không biết chi tiết đó có đúng không, nhưng  quả thật  đứng  bên tảng đá thơ thơ ấy, nhìn biển hoàng hôn, một người chằng phải là nhà thơ như tôi cũng cảm thấy nao lòng. Tôi có cảm giác cánh buồm nâu kia như hình dáng nhà thơ Nguyễn Bính thấp thoáng trên biển hoàng hôn về nơi vô định, như số phận  long đong của ông. Từ cảm xúc đó tôi ngồi trước máy vi tính viết về ông,như một kẻ ngoại đạo “múa rừu qua mắt thợ” là các nhà thơ .
                 Nguyễn Bính  tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh ngày 13-2-1918, tức 3 tháng Giêng năm Mậu Ngọ, cầm tinh con ngựa, là con  cụ Nguyễn Đạo Bình,một nhà nho ở thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Người  cầm tinh con Ngựa, mạng Thiên Thượng Hỏa lại sinh vào tháng Dần, đầu mùa xuân, là người tài ba xuất chúng, tính cương trực, tự cao, thích phiêu lưu, công việc hay đổ vỡ vì nóng nảy, tình duyên trắc trở và số phận đắng cay! Có lẽ cái “lá số tử vi” ấy một phần nào đúng khi đối chiếu với cuộc đời  của Nguyễn Bính.
                Mẹ ông, bà Bủi Thị Miện (vợ ông Nguyễn Đạo Bình) sinh được ba người con là Nguyễn Mạnh Phác, Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính. Nguyễn Bính chưa được ba tháng tuổi thỉ bà Miện bị rắn độc cắn và mất khi mới 24 tuổi. Bà cả Giần chị gái bà Miện, phải bế cháu đi bú nhờ khắp làng :
                             “Còn tôi sống sót là may
                       Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ!”
                  Sau này Nguyễn Bính đã viết hai câu thơ đó khi nghĩ về thân phận mồ côi của mình.
                 Ông Nguyễn Đạo Bình lấy vợ khác, ba anh em Nguyễn Bính được cậu ruột là  Bùi Trình Khiêm mang về nuôi. Cụ Bùi Trình Khiêm vốn dòng tộc khoa bảng, bản tính nhân hậu, độ lượng và rất nghiêm cẩn gìn giữ nền nếp gia phong. Cụ có người con trai là nhà văn Bùi Hạnh Cẩn  nên  cũng hướng các cháu đi theo con đường văn nghiệp. Nguyễn Mạnh Phác học hết thành trung , đi dạy học,  sau theo nghiệp văn, với bút danh Trúc Đường,  Nguyễn Ngọc Thụ cũng có thời viết báo. Còn Nguyễn Bính  là thần đồng thơ từ lúc còn nhỏ.
                    Năm 13 tuổi Nguyễn Bính đã đoạt giài nhất trong cuộc thi hát trống quân ở hội làng. Bài hát có đoạn:
                       Anh đố em này:
                       Làng ta chưa vợ mấy người?
                       Chưa chồng mấy ả,em thời biết không
                       Đố ai đi khắp tây đông
                       Làm sao kiềm nổi tấm chồng như chúng anh đây?
                       Làm sao như rượu mới say
                       Như giăng mới mọc như cây mới trồng…
            
                   Nguyễn Mạnh Phác lên Hà Đông dạy học tư, đưa Nguyễn Bính theo, kèm cặp em , đặc biệt  về văn học Pháp qua những tác phẩm của Victor Hugo, G.Mopasxang, Louis Aragon, Joachim du Belley, Jacques Brel... Nguyễn Bính từ đó  gắn bó với anh trai cả về văn chương và cuộc sống. “Lỡ bước sang ngang” chính là bài thơ Nguyễn Bính viết về mối tình  của  anh trai với  người Nguyễn Bính đã gọi là chị dâu, nhưng không thành, một mối tình đẹp như mơ đầy ngang trái:
                          “Hôm nay xác pháo đầy đường
                          Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng
                          Chuyến này chị bước sang ngang
                          Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây”
                       Nguyễn Bính trưởng thành sớm và thơ  ông càng vượt lên trước tuổi.   Năm 1932-1933,  mới mười bốn, mười lăm tuổi, Nguyễn Bính đã theo bạn lên tận vùng Đồng Hỷ, Thái Nguyên, si tình  như một người trưởng thành:
                           “Da trời ai nhuộm mà lam
                           Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai”
                            Hay:
                           “Hỡi cô con gái hái mơ già
                           Cô chửa về ư? Đường thì xa
                            Mà cái thoi ngày như sắp tắt
                            Hay cô ở lại về cùng ta?”
                       Năm 1937, mười chín tuổi , Nguyễn Bính đoạt giải khuyến khích thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, ba năm sau , bước vào tuổi hai hai, thơ ông   nổi như cồn  từ Bắc chí Nam.
                      Cũng như nhiều văn nghệ sỹ khác thời ấy, Nguyễn Bính muốn vào đàng trong tìm hồn thơ ở sông Hương, núi Ngự  cố đô Huế. Nguyễn Mạnh Phác  chiều lòng em,  bán chiếc máy chụp ảnh là thứ rất quý giá bấy giờ, và về quê bán luôn  những tảng đá xanh lát thềm nhà   lấy tiền làm lộ phí cho Nguyễn Bính.
                 Từ Huế , Nguyễn Bính gửi thơ cho Nguyễn Mạnh Phác in báo, cũng là gửi tâm tư mình cho anh chị:
                          “Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió
                           Xuân này em chị vẫn tha hương
                           Vẫn ăn cái tết ngoài thiên hạ
                           Son sắt say hoài rượu bốn phương”
                           ......
                           “Thời chưa gặp đỏ, nằm xuông mãi
                           Xuông cả ân tình rượu cũng xuông
                           Trước mặt bút nghiên , sầu tịch mịch
                           Quanh mình chăn chiếu rộn tang thương”
                     Năm 1943, Nguyễn Bính đi biệt vào miền Tây Nam Bộ , kết bạn vong niên với nhà thơ Đông Hồ và Kiên Giang.
                    Cuộc khởi tháng 8- 1945 thành công,rồi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Đông Hổ, Kiên Giang, Nguyễn Bính  hòa vào dòng thác cách mạng do Hồ Chủ tịch đứng đầu.
                  Bấy giờ ở Sài Gòn chính phủ “Nam kỳ tự trị” của thủ tường Nguyễn Văn Thịnh treo giải cho người nào đưa được nhà thơ Nguyễn Bính dinh tê, sẽ thưởng 1000 đồng bạc Đông Dương. Nếu Nguyễn Bính tự vào thành cũng được thưởng món tiền đó, ngoài ra còn được bảo đảm cuộc sống sung túc. Một ngàn đồng Đông Dương lúc đó mua được xe hơi, nhả lẩu , bằng cả một cơ nghiệp. Có người  viết thư khuyên Nguyễn Bính nên bỏ Việt Minh theo chính phủ Nam kỳ tự trị,  sống sung sướng và tự do sáng tác. Tổ chức cách mạnh đâm nghi Nguyễn Bính “rẽ bước sang ngang”. Ông đã trả lời thẳng thắn bằng hai câu thơ :
                             “Mình không bỏ Sở sang Tề
                           Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi!”
                  Thái độ dứt khoát ấy còn thể hiện bằng việc Nguyễn Bính  gia nhập Vệ quốc đoàn.  Tướng  Trần Văn Trà và  Nguyễn Văn Vịnh, những người rất thích thơ Nguyễn Bính,  đã nói với Bảo Định Giang: “ Đối đãi đàng hoàng,chăm sóc chu đáo tác giả Lỡ bước sang ngang”. Cả bí thư khu ủy Lê Duẩn cũng quý mến Nguyễn Bính. Ông đã mai mối cho Nguyễn Bính lấy Nguyễn Hồng Châu, một cán bộ phụ nữ miền Nam  xinh đẹp, và hai người đã sinh được người con gái đặt tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu.
                 Nguyễn Bính quấn khăn rằn, khoác  súng trường, đeo nóp cùng những người lính  chinh chiến từ  rừng U Minh đất mũi miền Tây, đến Đồng Tháp Mười miền Đông . Ông chung võng, chung chăm, chung mảnh khăn rằn cùng người lính. Mổ hôi , nước mắt và máu của quân dân Nam Bộ hòa vào thơ ông , vừa đằm thắm nghĩa tình, vừa hào sảng , đẫm sắc thái phương Nam.  Ông theo chân các chiến sỹ Tiểu đoàn cơ động 307, tham gia trận  Mộc Hóa, La Bang và bài  thơ  “Tiểu đoàn 307”, ông sáng tác năm 1949, đăng trên báo Tổ Quốc , Khu 8, được nhạc sỹ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc thành một bài hát nổi tiếng  sống mãi cùng năm tháng:

                           “Ai đã từng đi qua sông Cửu Long giang
                            Cửu Long giang sóng trào nước soáy
                            Ai đã từng nghe tiếng tiểu đoàn
                            Tiếng Tiểu đoản ba trăm lẻ bảy
                             Buổi xuất quân tiểu đoàn năm ấy
                             Cả tiểu đoàn thề dưới sao vàng
                             Người chiến sỹ tiếc gì máu rơi
                             Buổi xuất quân tiểu đoàn năm ấy
                             Nguyện một lòng giữ vững non sông...”
                 Năm 1954, Nguyễn Bình tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève.Ông cũng như cán bộ chiến sỹ miền Nam tập kết đinh ninh rằng hai năm sẽ có hiệp thương thống nhất, nhưng rồi niềm tin ấy tắt ngấm. Cảnh “ngày Bắc , đêm Nam” day dứt, khắc khoải,  rất sâu đậm trong bài thơ “ Gửi vợ miền Nam” của Nguyễn Bính:
                             “Thư một bức ngàn lời tâm huyết
                             Đêm canh dài thức viết cho em
                             Bồi hồi máu ứ trong tim
                             Chảy theo ngòi bút hiện lên thư này”
                             .....
                             “Ai chia cắt kẻ Nam người Bắc
                             Mảnh trăng tròn ai cắt làm đôi?
                               Ai làm máu đổ lệ rơi
                             Ai đang lấp ngõ, ai xui phá cầu?”
                 Nỗi khắc khoải dần nguôi ngoai, và  Nguyễn Bính bị cuốn vào công cuộc xây dựng miền Bắc. Cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ bấy giờ, Nguyễn Bính đặt niềm tin vào  chế độ mới, tiếng thơ của ông có vẻ  gượng gạo giữa một “dàn tụng ca” nhuần nhuyễn của Tố Hữu, Huy Cân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên...
                               “Từng lớp người vĩ đại
                                Cuồn cuộn đi trong một biển cờ
                                 Đi giữa lòng ngưỡng mộ
                                 Đi giữa tiếng hoan hô
                                 Những bước chân chiến thắng
                                 Rầm rập vang rền nẻo cố đô
                                  Người Hà Nội vỗ tay trào nước mắt
                                 Ôi! Tám năm đằng đẵng mong chờ”
                  Và:
                                “Đường dài nghĩa nặng tình sâu
                               Ăn cơm Trung Quốc đi tàu Liên Xô”
                  Có lẽ Nguyễn Bính sẽ được ưu ái chả kém gì các nhà văn miền Nam tập kết như Nguyễn Văn Bổng, Bảo Định Giang, Đoàn Giỏi nếu ông cứ khai thác cái mạch thơ ấy, và nhất là đừng đụng chạm đến Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Hoài Thanh .  Nhưng với tính cách  tự do phóng túng và kiêu kỳ khinh bạc của mình , Nguyễn Bính không chịu cúi luồn. Ông bỏ cơ quan nhà nước là Nhà xuất bản Văn Nghệ , ra làm báo tư nhân, để được viết, được đăng những gì mình muốn.
               Tờ Trăm  Hoa mới  của Nguyễn Bính  đã đánh thẳng vào cái thói cửa quyền, bè phái, sùng bái cá nhân, nịnh bợ trong giới văn nghệ, làm cho đời sống văn học bị độc tôn hóa , phiến diện hóa, ém nhẹm thông tin hóa, mà tiêu biểu là việc trao “Giải thưởng văn học 1954- 1955”. Giải thưởng văn học đó bị  Nguyễn Bính cho là sai lầm nghiêm trọng, là một nỗi nhục, và ông đề nghị xét lại toàn bộ giải thưởng , cụ thể : Đưa  tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu từ giải nhất xuống giải nhì , bỏ giải nhì  tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu đi,  loại tập  ca dao của Nguyễn Hiêm, tập Thơ chiến sỹ, tập bút ký “Nam bộ mến yêu”, kịch bản “ Việt ơi”, truyện ngắn” Cái lu” ra khỏi giải , đưa tập thơ “Chú Hai Neo” và tập thơ của Tú Mỡ  từ giải nhì xuống giải khuyến khích, xét lại  truyện “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc  có nên để giải nhất hay đưa xuống  giải nhì và  đưa vào giải  những tác phẩm có giá trị của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm.
              Có lẽ chưa có bài viết nào cụ thể về tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu, bằng bài viết Nguyễn Bính . Thời bấy giờ, với cái dáng sừng sững như cây cổ thụ giữa rừng của Xuân Diện , mà Nguyễn Bính dám nói bốp chát như dao chém đá thì quả thật  đáng phục.  Ông Viết : “ Bản thảo tập thơ Ngôi Sao đã đưa cho nhà xuất bản Văn Nghệ xem. Toàn thể anh em văn nghệ công tác ở nhà xuất bản đều thấy là dở quá. (Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Bính...)không đồng ý cho in. Quyển đó cứ bỏ lay bỏ lắt 4-5 tháng. Nhưng cấp trên cứ dục in. Túng thế anh em đành lựa một số bài không đến nỗi tồi lắm đưa sang nhà in Quốc gia (lúc ấy còn coi cả việc phát hành sách báo)thì bên ấy cũng không chịu in. Vì lẽ “Thơ Xuân Diệu không có độc giả”. Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên , sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in 1.500 quyển. Khi in ra , tập Ngôi sao đã bị dư luận chỉ trích rất nhiều. Điều đó thiết tưởng thường vụ Hội Phải biết rõ hơn ai hết. Xin nói thêm rằng hồi cho in tập Ngôi sao, là hồi  nhà xuất bản Văn nghệ cùng đóng chung một căn nhà với thường vụ Hội (51 Trần Hưng Đạo) , thường vụ Hội mặc dù có bưng tai bịt mắt đến đâu chăng nữa chắc cũng phải nghe dư luận ở những anh em cùng chung một nhà ở, cùng chung một bàn ăn, đối với tập Ngôi Sao. Vậy mà đến lúc chấm giải vẫn cứ để cho nó được giải. Mà lại giải nhì. Như thế thì hiền như bụt cũng phải thắc măc”
              Nguyễn Bính  vạch ra lý do tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu được giải nhì vì: “ Ông Xuân Diệu trong Ban giám khảo đưa tác phẩm mình dự thi, tự chấm giải cho mình. Ông Huy Cận trong Ban giám khảo với Xuân Diệu là một. Ông Hoài Thanh trong Ban giám khảo lại là vụ trưởng vụ nghệ thuật là  cấp dưới của ông thứ trưởng Huy Cận”
                 Nguyễn Bính phẫn nộ: “ Anh em không thể ngờ Ban giám khảo lại có thể khinh  thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy”
               Chao ôi thế mà những bài thơ trong tập Ngôi Sao của Xuân Diệu xuất hiện nhan nhản trong sách giáo khoa thì có giết người không!
                Về tập thơ  Việt Bắc của Tố Hữu đoạt giải nhất, Nguyễn Bính  táo tợn viết bằng giọng châm biếm rất sâu sắc: “  Khi bắt đầu đặt giải thưởng Văn học toàn quốc 1954-1955, anh em văn nghệ sỹ gặp nhau thường hay nói đùa một câu : Giải thưởng này cái gì thì không biết, chứ tập thơ Việt Bắc thì chém chết cũng được giải nhất rồi. Tất nhiên chúng ta  đều hiểu rằng câu nói đó không phải là một câu tán dương. Anh em nhớ mãi cái cuộc tranh luận về quyển thơ Việt Bắc, chưa ngã ngũ ra sao, thì các ông lãnh đạo Hội đã vội vàng đưa ra mấy bài “bịt lỗ châu mai”lại. Anh em không thể nào quên cái câu ông Hoài Thanh phát biểu : “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Ông Hoài Thanh đã mang cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu . Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải... Sở dĩ anh em biết trước  thế nào tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu cũng đoạt giải nhất bởi anh em không còn lạ gì cái tệ sùng bái cá nhân của một số cá nhân lãnh đạo Hội Văn nghệ”
                 Cái tội Nguyễn Bính cả gan xúc phạm đến Tố Hữu, Hoài Thanh và anh em nhà Huy Cận, Xuân Diệu đã là tội tày đình. Nhưng người ta chưa đụng tới Nguyễn Bính,thậm chí còn muốn sử dụng ông làm một thứ vũ khí sắc bén để đánh nhóm Nhân Văn- Giai Phẩm.
                 Còn nhớ, khi  tờ Trăm Hoa cũ của Nguyễn Mạnh Phác và Nguyễn Bính chỉ ra được 31 số rồi phải đình bản vì : “ Phải mua giấy giá cao hơn so với giá cung cấp dành cho các báo nhà nước và đoàn thể, các cơ sở phát hành lớn của hệ thống “hiệu sách nhân dân” không bán các báo tư nhân, ngoài ra còn một trở ngại đáng kể là cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương thường gây trở ngại cho phóng viên và người phát hành các báo tư nhân” nên lỗ vốn, hết tiền. Thì ngay lúc đó lại  người  giúp tiền cho Nguyễn  Bính ra tờ Trăm Hoa mới. Người đó là ai?
Trong “Cát bụi chân ai”, Tô Hoải đã trả lời câu hỏi đó : “ Cấp trên đã có sáng kiến lấy giấy và tiền nhà của  xuất bản Văn Nghệ  dúp Trăm Hoa, và  giao nhiêm vụ cho Tô Hoài  thuyết phụ tờ báo tư nhân nhưng có tiếng nói chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân Văn giai phẩm”. Qủa là một đòn hiểm của các nhà lãnh đạo!
                 Kết quả theo nhận định của Tô Hoài : “ Tờ Trăm Hoa có một vẻ khác. Không về bè với Nhân văn giai phẩm, nhưng chẳng đi với ai. Cấp trên nhận xét từng số, từng bài, cho là chưa đủ hơi sức hỗ trợ cấn thiết”.
               Tô Hoài đem nhận xét ấy bàn lại với Nguyễn Bính. Nguyễn Bính bảo Tô Hoài : “ Trăm Hoa thế mới là báo của Nguyễn Bính chứ. Nếu không thì mày làm quách cho xong”.
                Cấp trên cùa Tô Hoài nhận ra đã đầu tư nhầm chỗ.  Nguyễn Bính không ra đòn thẳng tay đánh Nhân Văn-Giai Phẩm, ngược  còn bênh những văn nghệ sỹ bị nạn như  Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Quang Dũng, Hoàng Cầm , Thụy An...  
               Trên tờ Trăm Hoa số 4, ông đăng bài ký tên  Lưu Thủy, có đoạn  : “ Biết bao nhiêu bài thơ, chưa nói đến văn, dở òm và nhạt phèo của Xuân Diện, của Nguyễn Đình Thi, của Huy Cận ...vẫn được in một cách vô tội vạ. Trong khi một bông hoa của chị Thụy An bị vùi dập. Vì cái tinh thần bè phái đương nghự trị trong đầu một số ông phụ trách báo , sách văn nghệ và văn hóa đại chúng, và trên hết là cái tinh thần bè phái ở ngay trong cơ quan lãnh đạo Hội. Tất cả rắc rối ( hạn chế tài năng của cá nhân, kìm hãm tiến triển của phong trào, thiếu đoàn kết, gây phản ứng) do đó mà ra cả”
               Về chính trị, Nguyễn Bính  muốn : “ Đem những lời trung thực cùa ta để xây dựng chế đội ngày thêm tươi đẹp, chúng ta sẽ không bị câm ,và nhất định không bao giờ để phải bị câm!” Ông viết trên Trăm Hoa số 5 : “ Phải nói rằng một trong những nguyên nhân mắc phải sai lầm là mũi nhọn chuyên chính đã chĩa vào ta và bạn. Máu và nước mắt đã chảy dài trong cuộc chiến tranh cách mạng. Máu và nước mắt của một số người lại chảy trong cải cách ruộng đất. Nỗi đau khổ của một số đồng bào nông dân , của một số đảng viên bị xử trí oan không phải là không chính đáng”
              Tưởng có thể biến Nguyễn Bính thành một lính xung kích, nào ngờ Nguyễn Bính ngang ngạnh như thế. Cấp trên của Tô Hoài quyết định ra đòn với Nguyễn Bính. Cái tội phỉ báng Tố Hữu, Xuân Diệu được cộng vào. Người  chấm dứt sáng kiến tài trợ tiền , giấy cho Trăm Hoa và đày Nguyễn Bính về Nam Hà.
               Một buổi tối,Nguyễn Bính cùng anh là Trúc Đường đặt một mâm rượu ở nhà hàng Lục Quốc , mời Tô Hoài tới dự. Nguyễn Bính nâng ly rượi lên, mắt ầng ậng nước, nói với Tô Hoài : “Hôm nay ăn cỗ đám ma Trăm Hoa!” ( Theo Cát bụi chân ai)
              Nguyễn Bính về Ty văn hóa  Nam Hà, nơi  nhà văn đồng hương Chu Văn, làm Trường ty.
               Năm 1986, khi viết lời bạt cho Tuyển tập Nguyễn Bính ,  ChuVăn ca ngợi nhà thơ đồng hương như một bậc thiên tài, và ông như  cố nhân của Nguyễn Bính. Nhưng trong “ Chiều chiều” của Tô Hoài, thì Nguyễn Bính về Ty văn hóa  Nam Hà trước sau chỉ là một nhân viên ngoài biên chế”.  Trưởng ty Chu văn được giao đặc trách “ chăm sóc” Nguyễn Bính thì  : “ Những ai đã công tác cùng Nguyễn Bính ở Ty văn hóa Nam Định có thể biết Chu Văn đã quần Nguyễn Bính như thế nào”.(nguồn  Chiều chiều, trang 228)
              Ông Chu Văn cư xử thế nảo chả cần phải nói hết ra, nhưng về cái chết của nhà thơ Nguyễn Bính, ông  bảo có điềm báo trước. Ông kể : “ Cuối năm 1965 , nhằm kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, người mà Nguyễn Bính vốn coi như “ Tổ sư”của mình trong lĩnh vực làm thơ, báo Xuân Bính Ngọ ra số đặc biệt với nhiều bài thơ về Nguyễn Du. Hôm duyệt bài bào Tết, Nguyễn Bính cười thật tươi, tay cầm một xấp giấy mỏng, khoe : “ Chỉ trong một đêm , tôi đã viết được một bài tập Kiều, vịnh cụ Tiên Điền”. Nguyễn Bính không cho ai xem mà chờ đến lúc đông đủ anh em mới trịnh trọng giở những trang giấy được viết thật công phu, chữ đẹp như xếp, rồi hắng giọng ngân nga: “Kính tặng cụ Nguyễn Du và Truyện Kiều”:
                                      Cào thơm lần giở trước đèn
                            Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa
                                     Trăm năm trong cõi người ta
                             Một thiên tuyệt bút gọi là để sau
                                   Khen tài nhả ngọc phun châu
                             Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
                                 Mấy lời ký chú đinh ninh
                             Rằng tài nên trọng mà tình nên thương
                                  Khen rằng giá đáng Trịnh Đường
                             Thì treo giải nhất , chi nhường cho ai
                                  Gẫm câu người ấy, báu này
                             Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào
                                 Nặng vì chút nghĩa xưa sau
                             Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay
                                  Thương vui bởi tại lòng này
                              Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời
                                   Lòng thơ lai láng bồi hồi
                               Tưởng người nên lại thấy người về đây...
                   Cả hội đồng duyệt bài số báo Tết hôm ấy , cùng lặng đi. Một bài tập Kiều thật hay. Nhưng nghe ra ... đây tuy đề tặng cụ Tiên Điền mà cứ như tâm sự cùa Nguyễn Bính , tổng kết cái cuộc đời thơ tài hoa long đong lận đận của mình”
                Thực ra Nguyễn Bính chỉ là một nhân viên ngoài biến chế làm gì  được nằm trong hội đồng duyệt báo Tết mà cười với chả tươi. Khi ông Chu Văn và những người lãnh đạo duyệt báo , thì Nguyễn Bính đang bệnh nặng, nằm co ro một mình trong căn phòng trống gió lùa hun hút. Ông cố gắng đạp xe về quê Đại Hoàng ăn tết với vợ con nhưng không nổi, phải rẽ vào nhà một người bạn ở Lý nhân, và chết ở đó.
                  Nhà văn Vũ Bão kể về cái chết đau lòng của nhà thơ Nguyễn Bính như sau: “ Khi làm báo Hà Nam, tôi và Nguyễn Bính có một người bạn chung là Đỗ Văn Hứa, người thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Anh này làm nghề bốc thuốc đông y nhưng cũng viết báo, làm thơ lấy bút hiệu là Tân Thanh. Đặc biệt anh rất yêu thơ Nguyễn Bính nên mỗi lần về Ty văn hóa Hà Nam họp , Tân Thanh lại khẩn khoản  mời Nguyễn Bính về nhà mình chơi. Được cái cô Sang-vợ Tân Thanh-là người rất mến khách, mỗi lần chúng tôi về nhà, cô tiếp đón niềm nở.
                 Mùng 4 Tết, tôi mới được nghỉ, đạp xe đi thăm đây đó. Mười giờ sáng tôi tới nhà Tân Thanh, ở Mạc Hạ. Vừa nhìn thấy tôi dắt xe vào trong sân, cô Sang đã nói ngay: “ Bác Vũ ơi, bác Bính mất rồi! Tôi đứng sững lại: “Ai nói với cô?” Cô Sang nói tiếp: “Tuần trước , bác ấy đạp xe về nhà em. Trời trở gió, vừa vào tới nhà, bác ấy đã bảo nhà em đưa bác ấy đi bệnh viện. Thời may, bệnh viện huyện lại sơ tán ngay ở xã em. Bác ấy bị thổ ra máu. Nằm ở bệnh viện huyện ba ngày, sức khỏe hơi đỡ, lại về nhà em lấy xe đạp tính về Đại Hoàng ăn tết với vợ con. Hôm ấy đã là 29 Tết rồi. Thấy bác còn mệt, chúng em sợ bác không đủ sức về Đại Hoàng nên cố giữ bác lại ăn tết cùng chúng em. Sáng 30, nhà em sang chỗ hàng xóm  chia thịt lợn mang về cái đùi và một ít lòng, tiết canh để hai anh em ăn cơm. Bác Bính bảo nhà em cứ ở nhà ăn với bác bát cơm cái đã. Nể bác nhà em ngồi nán lại ăn cơm. Bác Bính có thói quen ăn xong là đi rửa tay. Bác vắt khăn lên vai, lò dò bước xuống cầu ao. Bỗng chúng em nghe tiếng bác gọi “ Tân Thanh”. Nhà em chạy vội ra sân, thấy bác Bính đang gục xuống gốc mít, cạnh hố vôi. Nhà em xốc bác lên, tựa người bác vào ngực mình. Miệng bác đầy máu, bác thổ ra huyết. Nhà em chạy đi gọi anh Huê và anh Đáp, nhờ họ cáng bác lên bệnh viện. Y sỹ khám cho bác ấy  xong mới cho nhà em biết bác ấy mất rồi. Nhà em ra Bưu điện gọi điện bào tin cho bác Trúc Đường và Ty văn hoa”
               Đó là 30 Tết Bính Ngọ, nhằm ngày 9-2-1967, Nguyễn Bính vừa tròn 49 tuổi.
              Nguyễn Bính làm thơ từ lúc thiếu thời, và trải hơn ba mươi năm theo nghiệp thơ. Ông sống hết mình cho thi ca, và thơ ông là âm thanh chau chuốt nhất được chắt lọc từ mảnh đất màu mỡ thấm đẫm chất dân ca vừa giản dị vừa đằm thắm lại vô cùng cao sang của làng quê Việt Nam. Ông yêu tự do như một chàng lãng tử, tâm hồn  luôn bị ám ảnh vì lỡ bước sang ngang, số phận  đen bạc như hai tờ báo Trăm Hoa sớm nở tối tàn mà  nhà thơ Xuân Sách đã vẽ thành chân dung ông: “Hai lần lỡ bước sang ngang. Thương con bướm đậu trên dàn mồng tơi. Trăm hoa thân rã cánh rời. Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ!”.
              Ôi, “Trăm hoa thân rã cánh ròi” – thăng trầm, biến trải, cám cảnh!  Nhớ tới Nguyễn Bính năm xưa với ước vọng làm báo mà đành chịu thân phận èo uột của tờ Trăm Hoa (khó mà đua nở) với “hai lần lỡ bước sang ngang”. Lại nghĩ, làm báo thời nay sướng thật; nhà nước bao cấp cho cả nghìn tờ báo, đài phát thanh, truyền hình bằng nguồn “kinh phí khủng”, sống khỏe. Nếu bị lỗ ư? - Có ngay bù lỗ! Khó khăn gì ư? - Có Đảng, nhà nước lo! Viết gì ư? - Có chỉ đạo sát sao hàng tuần, hàng ngày, cả nội dung từng ván đề, vụ việc… 
             Chỉ hiềm một nỗi, với công nghệ tinh xảo, hiện đại của thời @, bùng nổ thông tin toàn cầu, thế giới phẳng, nhưng các trang mạng xã hội vẫn không được quyền thoải mái hòa nhập cộng đồng, chịu cảnh phập phù đi tìm con đường “tự do ngôn luận”, quyền truy cập, trao đổi thông tin. Xem ra, nay không chỉ Trăm Hoa, mà nhờ sóng trời (mạng Internet) đã khai thông tầm giao lưu cho cả hàng Chục Triệu Hoa blog đang nở, thế mà không hiểu vì những lý do gì, người ta vẫn coi đó là điều lo ngại, coi như ‘thế lực thù địch’...Đã là thời đại nào mà người  ta lại cảnh giác và sợ Internet đến thế? Họ còn, tìm mọi cách ‘xịt thuốc diệt cỏ’ vào những vườn hoa mạng xã hội đầy sắc hương mà chẳng càn đếm xỉa đến sự phát triển khoa học công nghệ cao, chẳng cần biết đến dân chủ, nhân quyền (!?).  Chẳng lẽ thân phận mạng xã hội nay cũng là “lỡ bước sang ngang”? Dịp lế Quốc Khánh, lại nhớ câu trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh tố cáo chế độ thực dân Pháp: “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân…”. Có gì đau nhói trong lòng!
2-9-2013
M.D
----------------