Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Chiếc búa sắt 140 triệu năm...

Chiếc búa ước tính được tạo ra từ đầu thời kỳ kỷ Phấn trắng, tức là từ 140 đến 65 triệu năm trước.
Chiếc búa trông có vẻ bình thường này lại làm khó các nhà khoa học. Phần kim loại của chiếc búa có chiều dài 15 cm và đường kính khoảng 3 inches. Nó đã bị chìm trong đá vôi có niên đại 140 triệu năm, cùng với những mảnh đá khác.
             >> Đọc tiếp/Nguồn 
--------------

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Ngôi làng Bát Quái của hậu duệ Gia Cát Lượng

 
Nhiều nhà khoa học chuyên nghiên cứu về môi trường và kiến trúc trên thế giới đang tập trung khảo sát một mô hình thôn trang kỳ bí theo bố cục bát quái ở Trung Quốc. Thôn này có tên là thôn Gia Cát hay Bát Quái, tọa lạc tại thị trấn Lan Khê, tỉnh Triết Giang, được mệnh danh là “Trung Quốc Đệ Nhất Thôn”. Đây cũng chính là trung tâm sinh sống của hậu duệ Khổng Minh Gia Cát Lượng nổi tiếng thời Tam Quốc…
                 >> Đọc tiếp/Nguồn  
----------------

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Internet: Động lực thúc đẩy tự do ngôn luận ở Việt Nam


*  JARNES HOOKWAY 

HÀ NỘI – Phong trao tự do trên mạng Internet hiện đang trở thành động lực thúc đẩy thay đổi tại Việt Nam
Thị trường kinh doanh điện thoại thông minh và máy tính bảng đang bùng nổ tại Việt Namgiữa lúc các phong trào bảo vệ tự do internet ở nước cộng sản độc đảng này đang có xu hướng phát triển.
Việt Namtừng là nước đầu tiên mà thế giới chứng kiến cuộc chiến tranh diễn ra qua màn hình tivi, và hiện nước này đang trở thành điểm nóng đối với thị trường phát triển điện thoại với Internet lưu động. Theo phân tích của hãng Flurry có trụ sở tại San Franscisco thì doanh thu iOS của công ty Apple và Android thuộc Google và máy tính bảng đã tăng gấp ba lần so với năm ngoái tại Việt Nam.
             Đó là tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới chỉ sau Colombia.
Xung quanh Hà Nội, các quán lề đường luôn đông đảo khách ngồi trò chuyện và gấm nhấm ly cà phê cùng với chiếc điện thoại di động hoặc máy tính bảng. Nhưng đồng thời, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia nguy hiểm nhất trên thế giới để sử dụng mạng internet.
Tổ chức Phóng viên Không Biên giới cho biết trong bản báo cáo thường niên rằng hiện có đến 35 blogger và những người sử dụng Internet đang bị cầm tù ở Việt Nam với cáo buộc tội “tuyên truyền chống nhà nước”, trong đó có một số bản án kéo dài lên đến 13 năm tù giam. Số lượng tù nhân đang bị giam giữ tại Việt Namchỉ đứng sau Trung Quốc. Trong một động thái mới nhất, các lãnh đạo Việt Namcho biết họ đang tiến hành các bước nhằm quản lý các dịch vụ nhắn tin trên internet như Viber, WhatsApp và Line.
Một số blogger trong nước hiện đang cố gắng đẩy lùi việc này bằng cách vận động các chiến dịch chống lại việc Việt Nam ứng cử tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào cuối năm nay. Cụ thể, họ chống lại điều 258 trong Bộ Luật Hình sự của Việt Nam, điều mà nhiều người cho rằng chính quyền cố tình hình sự hóa bằng cách cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” hay “lợi dụng quyền tự do dân chủ” (!?). Một số hạn chế Internet khác cũng đang được đưa vào hoạt động, bao gồm một nghị định cấm chia sẻ các bài báo hay bình luận chính trị trên blog có hiệu lực từ ngày 1 tháng Chín vừa qua.
“Chúng tôi không vi phạm bất kỳ điều luật nào. Chúng tôi chỉ muốn có các cuộc tranh luận về Internet, không có gì hơn ngoài việc ấy”, Trịnh Anh Tuấn – một trong những blogger 25 tuổi, cho biết. “Tuy nhiên, Điều 258 hiện ngăn cản chúng tôi làm điều đó”.
Sự lây lan nhanh chóng của Internet, đặc biệt là thông qua điện thoại và máy tính bảng, đang làm cho một số lãnh đạo tại các quốc gia châu Á phải đau đầu. Từ lâu Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều vào công nghệ sàn lọc thông tin được biết với tên “Đại Tường lửa của Trung Quốc” [Great Firewall of China] và hiện đang đẩy mạnh các nỗ lực để ngăn cản không cho người dân lan truyền các tin đồn chính trị. Thái Lan sử dụng Đạo luật Tội phạm Máy tính để truy tố những người chỉ trích hoặc đăng các tài liệu không tốt về chế độ quân chủ tại nước này. Trong tháng Sáu vừa qua, Singapore đã bắt đầu áp đặt các quy định cấp giấy phép mới để quản lý các trang web tin tức tại đơn vị Yahoo ở Singapore và hai công ty truyền thông địa phương khác, yêu cầu họ thực hiện loại bỏ nội dung có thể bị phản đối trong vòng 24 tiếng đồng hồ hoặc bị tuyên phạt 39.000 USD.
Đối với trường hợp của Việt Namthì hình như có vẻ lo lắng nhiều hơn.
Chính phủ Việt Nam cho biết việc hạn chế các trang web [theo Nghị định 72] được thiết lập nhằm bảo vệ sở hữu trí tuệ và hạn chế lây lan những thông tin mà chính phủ mô tả là độc hại. Các giám đốc điều hành ngành công nghiệp tư nhân cho rằng những chính phủ lo lắng các phần mềm ứng dụng trên điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng có thể tranh giành thị phần doanh thu với các công ty viễn thông nhà nước. Tuy nhiên, phát ngôn viên chính phủ đã từ chối bình luận về vấn đề này.
Cho đến nay đã có hơn 100 blogger ký tên vào bản tuyên bố chống lại Điều 258, và họ đang hướng tới việc sử dụng lợi thế Việt Nam ứng cử tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại cuộc bỏ phiếu vào tháng Mười một tới đây như một đòn bẩy để buộc Bộ Chính trị ở Hà Nội nới lỏng việc kiềm soát trên mạng Internet.
“Chúng tôi hy vọng rằng Việt Nam sẽ xem xét hủy bỏ Điều 258 nhằm thể hiện cam kết và đóng góp vào việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền”, nhóm Tuyên bố 258 cho biết.
Ông Tuấn và các thành viên khác trong nhóm nói rằng có thể họ không đạt được nhiều trong các chiến dịch trong thời gian qua. Nhưng một điều chắc chắn rằng hồ sơ về nhân quyền tồi tệ sẽ là một trở ngại lớn để Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Trong số các ứng cử viên năm nay có cả Nga và Trung Quốc. Các thành viên hiện tại bao gồm Libya, Kazakhstan và Congo.
Nhưng đây cũng là một thông điệp nguy hiểm để tuyên truyền. Gần đây hai blogger đã bị công an bắt giữ sau khi họ công khai công bố các nội dung trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
Tuy nhiên, có vài dấu hiệu cho thấy chính phủ có thể sẵn sàng giảm bớt độ nghiêm trọng trong các chiến dịch chống lại những người bất đồng trực tuyến để giữ mặt mũi trên trường quốc tế. Hoa Kỳ và một số chính phủ khác đã mạnh mẽ chỉ trích những hạn chế Internet của Việt Nam, trong khi đó các tập đoàn Internet khổng lồ như Google và Facebook lo lắng rằng việc mở rộng các công cụ kiểm duyệt của chính quyền sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp trên mạng.
Tháng trước, Việt Namđã trả tự do cho một nhân vật bất đồng chính kiến ​​và giảm hạn tù đối một người khác, ông Carlyle Thayer – giáo sư danh dự tại Học viện Quốc phòng Úc và chuyên gia về Việt Nam, cho biết. Ông cho rằng động thái trên có thể giúp Hà Nội bảo đảm một ghế trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc mà họ muốn từ rất lâu, trong khi đó việc này cũng giảm bớt áp lực đến từ phía Hoa Kỳ và một số đối tác thương mại lớn khác.
“Vấn đề nhân quyền sẽ là gót Achilles của Việt Nam, đặc biệt là trong quan hệ với Hoa Kỳ”, ông Thayer nói.
Tuy nhiên, nguy cơ là các lãnh đạo Việt Nam sẽ tiếp tục tấn công những người bất đồng chính kiến [kể cả trên mạng] khi họ cảm thấy tình thế của họ bị đe dọa. Vào ngày 11 tháng Chín vừa qua, một cựu chiến binh 65 tuổi đã trở thành blogger mới nhất bị tuyên án tù dài hạn. Ông Ngô Hào đã bị tuyên án 15 năm tù với cáo buộc “thực hiện các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều khoản của Bộ Luật Hình Việt Nam.
·        Đỗ Đăng Khoa - chuyển ngữ
<©  2013 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info >
--------------------

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Kỳ lạ ngôi làng tự sát của chim

… Hiện tượng chim tự sát như vậy đã kéo dài hơn 100 năm ở Jatinga nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa vén được bức màn bí mật xung quanh nó. Mấy năm gần đây, Viện nghiên cứu động vật Ấn Độ đã lập ra một trung tâm quan sát chim ở gần Jatinga. Họ đã thu thập được hơn 20 loài chim bay đến làng để tự sát. Trung tâm quan sát còn đặt một thư viện về chim và một trại nuôi chim ở đây nữa để nuôi dưỡng những con chim bay đến mà chưa chết.
Chứng kiến hiện tượng này, Salim Ali, nhà nghiên cứu chim hàng đầu Ấn Độ cho biết. “Điều lạ kỳ nhất với tôi về hiện tượng quái gở này chính là việc rất nhiều loài chim có tập quán hoạt động vào ban ngày, nhưng tại sao chúng lại tụ họp vào buổi đêm, thời gian đáng lẽ cũng đang chìm trong giấc ngủ. Vấn đề cần được mổ xẻ dưới nhiều góc độ khoa học khác nhau”…
                 >>  Đọc tiếp/Nguồn  
-------------

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Khi lịch sử bị hiểu sai

Đền thờ Kinh Dương Vương
              Lời giới thiệu của chủ blog Bách Việt: Trên thế giới lịch sử dân tộc bao giờ cũng dài hơn nhiều so với lịch sử quốc gia, thậm chí có những dân tộc biến mất hoặc không còn quốc gia. Mặc khác, hầu hết lịch sử của các dân tộc đều có thời kỳ tiền sử chủ yếu được lưu truyền bằng tuyền thuyết có khi hàng chục ngàn năm. 
Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Điều may mắn là dân tộc Việt vẫn tồn tại với thực thể quốc gia đến ngày nay sau "ngàn năm Bắc thuộc" là một thời gian đủ dài để bị xóa dấu vết. Do đó, sẽ là sai lầm nếu bác bỏ truyền thuyết hoặc tin vào truyền thuyết một cách mù quáng như nó đã và đang diễn ra. Đó là lý do để chủ blog Bách Việt xin mạn phép các tác giả đăng lại nội dung dưới đây với một tiêu đề khác: "Khi lịch sử bị hiểu sai" với mong muốn rằng các nhà nghiên cứu hãy tập trung giải mã những khuất tất bằng chính những công trình nghiên cứu của bản thân, chứ không chỉ dựa vào tư liệu và sử sách của người khác để tô vẽ hoặc bác bỏ truyền thuyết của dân tộc mình.
Kinh Dương Vương, Ông nội của Vua Hùng là sản phẩm văn hóa Tàu - (Ts Trần Trọng Dương) Theo blog Nguyễn Xuân Diện Kinh Dương Vương- ông là ai?
Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, được biết tỉnh Bắc Ninh đã triển khai một dự án khôi phục và tăng quy mô xây dựng khu di tích thờ "Thủy tổ Kinh Dương Vương - ông nội của Vua Hùng", với vốn đầu tư 500 tỷ đồng. Thật là hãi hùng về con số chi phí khổng lồ này, trong khi tình hình kinh tế đang hồi bấn loạn, ngân khố cạn kiệt, nhân tâm đang xáo động.
"Ông nội của Vua Hùng" - chính điều này đã thôi thúc một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cất công, một lần nữa truy tìm nguồn gốc của Kinh Dương Vương. Và thật bàng hoàng: Kinh Dương Vương phải chăng chỉ là một sự cóp nhặt của Ngô Sĩ Liên từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ Trung Hoa? Phải chăng, chúng ta đã và đang, và còn mãi về sau thờ một ông vua giả có nguồn gốc của Tàu?
Như trong bài viết trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng Đại Việt sử ký toàn thư- bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam đề cập đến những sự kiện từ khởi thủy cho đến thế kỷ XVII- là một tư liệu được biên soạn trên tư duy đa nguyên "văn- sử- triết" của thời Trung Đại. Trong đó, bộ sử này đã sưu tập nhiều huyền thoại dân gian của đời sau để bù đắp cho những khuyết thiếu của sử liệu. Trong bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa ra những cứ liệu để làm rõ hơn vấn đề tai hại trên. Đối tượng được đề cập đến ở đây chính là Kinh Dương Vương- một nhân vật được coi là thủy tổ của Việt Nam- phải chăng chỉ là một ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc.
Cổng đền thờ Kinh Dương Vương 
có bốn chữ Hán đắp nổi THỦY TỔ ĐÀI MÔN,
ảnh: Thọ Bình, Bá Kiên, theo tienphong.vn
Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương
Theo như cách trình bày ở Kỷ Hồng Bàng thị trong Toàn thư, Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Vì thế Kinh Dương Vương này được Ngô Sĩ Liên coi như là là vị thủy tổ đầu tiên của người Việt và nước Việt. Chẳng những thế, Kinh Dương Vương còn lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long để sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ- con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống bể. Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV đã bình luận đoạn này như sau: "Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?"[1]. Kể từ sau Ngô Sĩ Liên, phần lớn các bộ lịch sử Việt Nam đều công nhận Kinh Dương vương là thủy tổ của nước Việt. Ví dụ như sách Thiên Nam minh giám (thế kỷ XVII) mở đầu như sau:
"1- Tượng mảng xưa sách trời đã định,
Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
Tày nhường phải đạo mở mang phải thì.
5- Tới Lạc Long nối vì cửu ngũ,
Thói nhưng nhưng no đủ đều vui,
Âu Cơ gặp gỡ kết đôi,
Trổ sinh một bọc trăm trai khác thường.
Xưng Hùng Vương cha truyền con nối,
10- Mười tám đời một mối xa thư,
Cành vàng lá ngọc xởn xơ,
Nước xưng một hiệu năm dư hai nghìn."[2]
Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (ngày nay). Năm 1840, đền cho dựng bia đá "Kinh Dương Vương lăng". Năm 1940, đời vua Bảo Đại, đền làm thêm hai đại tự "Nam Tổ miếu" và "Thần truyền thánh kế". Năm 2000, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã về thăm đền và để lại bút tích gợi ý tỉnh Bắc Ninh có đề xuất lên trung ương nâng cấp cơ sở thờ tự của tổ tiên. Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đã đến thăm đền và để lại những lời kỷ niệm sâu sắc về cội nguồn dân tộc[3]. Năm 2012, các tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm đã xuất bản cuốn sách “Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương” - Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc. Sách tập hợp các tư liệu từ “Đại Việt Sử ký toàn thư”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Thủy Kinh chú”… từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả, nhà sử học. Ngày 25 tháng 2 năm 2013, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức lễ hội kỷ niệm 4892 năm Đức thủy tổ khai sinh mở nước. Đến dự lễ khai hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo một số Bộ, ngành.
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cùng các đại biểu dâng hương tưởng niệm Đức Thủy tổ Kinh Dương Vương. Ảnh: dangcongsan.vn -
Sau lễ dâng hương, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã dự lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương. Theo quy hoạch đã được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, dự án có tổng diện tích gần 40ha, gồm không gian bảo tồn di tích, không gian phát huy giá trị di tích, không gian quản lý và dịch vụ phụ trợ, với nguồn vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng[4]. Như vậy, sau nhiều trăm năm tồn tại, tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương đến nay đã chính thức được sự đồng thuận của nhà nước.
Kinh Dương Vương- từ nhân vật của truyện truyền kỳ Trung Hoa
Tuy nhiên, như ngay ở đầu bài viết, chúng tôi có ý nghi vấn rằng, Kinh Dương Vương chưa chắc đã là một nhân vật lịch sử có thật, mà có thể đó chỉ là một sự nhầm lẫn của Ngô Sĩ Liên khi ông đã sưu tầm một câu chuyện văn học để mở đầu cho một công trình sử học của nước nhà. Chứng cớ nào đề chúng tôi có thể đi đến nghi ngờ như vậy?
Chứng cứ nằm ngay trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”[5]. Nhưng chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái (một tác phẩm văn học sưu tầm những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam) của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?)[6], rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang[7].
Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu sau này. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc có chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường[8]. Truyện có thể tóm tắt như sau: Liễu Nghị là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối, xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ, lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng. Sau hai vợ chồng đều thành tiên[9].
“Liễu Nghị truyện” được coi là một truyện truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện được lưu hành rộng rãi trong dân gian. Đến thời Tống trở đi, truyện Liễu Nghị được Thượng Trọng Hiền chuyển thể sang kịch bản tạp kịch với tên “Động Đình hồ Liễu Nghị truyền thư”[10]. Liễu Nghị đã trở thành một tích truyện rất được ưa thích trong văn hóa diễn xướng của người Trung Quốc. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng đã ra đời, như nhà Tống có Liễu Nghị đại thánh nhạc, nhà Kim có Liễu Nghị truyền thư của Gia Cùng Điệu, triều Nguyên có Liễu Nghị Động Đình long nữ (Nam hí), thời Minh Thanh có Quất bồ ký của Hứa Tự Xương, Long tiêu ký của Hoàng Thuyết, Long cao ký của Dương Ban, Thẩn trung lâu của Lý Ngư, Thừa long giai thoại của Hà Phủ[11].
Cho đến nay, Liễu Nghị truyền thư (còn có tên Thủy tinh cung, Liễu Nghị kỳ duyên) vẫn được người Trung Quốc coi như là một kịch mục kinh điển của hý kịch Trung Hoa. Từ năm 1952, vở kịch này đã nhiều lần được dàn dựng bởi các đạo diễn khác nhau, số lần trình diễn có lẽ là khá nhiều, hiện chưa thể thống kê hết được[12]. Không những thế, tích truyện này đang có xu hướng được áp dụng sang các hoạt động văn hóa khác hiện nay ở Trung Quốc. Ví dụ, người ta lấy đề tài này làm tranh khắc ván, thư họa truyền thống (thủy mặc).
Ngày 17 tháng 7 năm 2004, Bưu cục Quốc gia Trung Quốc đã phát hành seri tem “Dân gian truyền thuyết- Liễu Nghị truyền thư”, gồm 4 con tem với 4 hoạt cảnh: “Long nữ gửi thư”, “Thư gửi Động Đình”, “Cốt nhục đoàn tụ”, và “Nghĩa trọng tình thâm”[13].
Và những nhận định của sử gia đời sau
Đến đây có thể nhận định về nguồn gốc của các mô típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân- Âu Cơ, và coi đó như là nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương- cái triều đại mà người Việt ngày nay coi như là lịch sử đích thực của mình. Nhưng, với một tác phẩm có ảnh hưởng lớn như vậy, các nhà Nho Việt Nam trong nhiều thế kỷ hẳn cũng phải biết đến. Bằng chứng là nhà thơ nổi tiếng Thái Thuận (Tiến sĩ 1475) cũng đã sáng tác bài thơ Liễu Nghị truyền thư. Nhưng đó là chuyện của văn học.
Còn với tư cách là những người viết sử, không ít sử gia thời Trung Đại đã phản đối cách lắp ghép của Ngô Sĩ Liên. Đầu tiên, phải kể đến những nhận định của Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử kí tiền biên. Ông viết: “Nay xét phần Ngoại kỉ chép: Năm Nhâm Tuất thì bắt đầu Giáp Tí là năm nào? Ghi chép tên húy Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân sao riêng lược bỏ Hùng Vương? Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi. Cái lỗi ấy là tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực. Phàm những chuyện lấy từ Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, cũng như Bắc sử lấy ở Kinh Nam Hoa và thiên Hồng Liệt đấy.”[14]
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856 - 1883) viết: “Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân trong ‘Kỉ họ Hồng Bàng, vốn từ thời Thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ”[15] . Chuẩn tâu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và kiên quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”[16].
Qua những trình bày ở trên, độc giả đã phần nào mường tượng ra con đường thu nhận biến đổi tích truyện từ truyện Liễu Nghị đến truyện Kinh Dương. Đây sẽ là những tư liệu thú vị để nghiên cứu về tiếp xúc văn học văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Đồng thời cũng là “mẫu sử liệu” thú vị cho giới nghiên cứu khám nghiệm và giám định. Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới sự ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi[17].
Ts Trần Trọng Dương
----------------------
[1] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.131-133.
[2] Trịnh thị. (1624-1657). Thiên Nam minh giám. tr.4a. (Thư viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh , ký hiệu HNv.006) trang 1a. Tham khảo phần phiên khảo của Hoàng Thị Ngọ, (1994). Nxb Văn học. Hà Nội.
[3] Thọ Bình - Bá Kiên. Đầu năm thăm lăng Kinh Dương Vương ( ông nội vua Hùng ). Theo tienphong.vn
[4] Việt Cường. Bắc Ninh khai hội Kinh Dương Vương. http://vtv.vn
[5] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. sdd. tr.133.
[6] Trần Thế Pháp. (XIV?). Lĩnh Nam chích quái. ký hiệu. A.1200 (Viện NC Hán Nôm), tr.4a-4b.
[7] Nguyễn Thanh Tùng. 2010. Giao lưu tiếp biến văn hoá Trung - Việt trong lịch sử: khảo sát sự tiếp nhận tích truyện Liễu Nghị truyền thư ở Việt Nam thời trung đại. Hội thảo Quốc tế giao lưu Văn hóa Việt Nam Trung Hoa. Tp Hồ Chí Minh.
M. Durrand. 1959. Technique et Pantheon des médiems Vietnamien. BEFEO. Vol.XLV, Paris. [chuyển dẫn Ngô Đức Thịnh. 2009. Đạo mẫu Việt Nam.(Tập 1) Nxb Tôn giáo. Hà Nội. tr.63- 64.
[8] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. Trung Quốc văn học đại từ điển (thượng). Thượng Hải từ thư xuất bản xã. Thượng Hải. tr.277.
[9] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr.409.
Bản dịch tiếng Việt có thể tham khảo : Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kì ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, 1990. – Số 2 (9). - Tr.90-109.
[10] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.
[11] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.
[12] Quý vị có thể copy chữ Hán “柳毅传书” xem các trích đoạn vở kịch này trên http://www.youtube.com
[13] http://www.fhstamp.com/bbs/read.php?tid=784
[14] Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản. Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). Nxb KHXH.H.1997. tr.40.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển I, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu: R.591, tờ 4a- 5b.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), sdd. R.591, tờ 9b-10a.
[17] Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.
 Nguồn: Tia Sáng và đưa lại trên tranhung09.blogsspot.com 
(Theo Trần Kinh Nghị)

--------------

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Buồng chuối 180 nải, thi 'khủng' với lương GĐ CTy Móc Cống

                     * Buồng chuối “khủng” 180 nải
Một buồng chuối “khủng” với 180 nải của gia đình ông Nguyễn Văn Điệp ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã thu hút sự chú ý của người dân địa phương cũng như khách đi đường.
Ông Điệp, ở thôn Bình Chương Nam, xã Hoài Đức, cho biết cây chuối trổ buồng “khủng” thuộc giống chuối Dạ hương. Một người thân trong huyện đã cho ông cây chuối và ông trồng nó kể từ đầu năm 2013.
Đến đầu tháng 5, cây chuối đã bắt đầu trổ buồng và đến nay đã cho ra khoảng 180 nải. Chiều dài buồng chuối khoảng gần 2m và chu vi khoảng bằng vòng tay của một đứa trẻ. Cây chuối này hứa hẹn sẽ cho nhiều nải nữa vì hoa của nó vẫn còn to khỏe.

Từ ngày cây chuối trồ buồng lạ, gia đình ông Điệp trở nên nhộn nhịp bởi được nhiều người đến chiêm ngưỡng buồng chuối.
Ảnh cây chuối lạ:
Khuất Hậu

Khuất Hậu

Khuất Hậu

Khuất Hậu

Khuất Hậu

Khuất Hậu
Nguồn: Internet

"VƯỢT BIÊN” LÊN SAO HỎA LÀ …VỀ NGUỒN (?!)

BVB -Một giả thuyết mới nêu khả năng sự sống bắt đầu trên sao Hỏa rồi được chuyển đến trái đất do thiên thạch. Tại hội nghị khoa học mang tên Gặp gỡ Goldschmidt tại TP Florence (Ý), GS Steven Benner thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Westheimer ở TP Gainnesville của Mỹ đề xuất giả thuyết rằng hành tinh đỏ là nơi tốt nhất để sự sống bắt đầu trước trái đất hàng tỉ năm.
Từ lâu, giới khoa học thắc mắc làm thế nào các nguyên tử có thể kết hợp với nhau để tạo nên thành phần phân tử của 3 cơ thể sống chủ yếu là ribonucleic acid (RNA), deoxyribonucleic acid (DNA) và protein.
Các phân tử kết hợp thành chất liệu di truyền này phức tạp hơn rất nhiều so với hóa chất hữu cơ tiền sinh học có chứa carbon, được cho là đã tồn tại trên trái đất hơn 3 tỉ năm trước, trong đó RNA xuất hiện đầu tiên.
Năng lượng như nhiệt năng và quang năng tác động vào các phân tử hữu cơ không thể tạo ra RNA. Các nhà khoa học cho rằng RNA cần được tạo thành khuôn từ những nguyên tử kết tinh theo dạng bề mặt khoáng chất.
                  >   Phát hiện bằng chững nước từng chảy trên Sao Hỏa  
                 >  Bắt đầu bán vé 1 chiều … lên Sao Hỏa    
Các khoáng chất có tác dụng nhất để tạo khuôn cho RNA đã phân hủy trên bề mặt đại dương ở thời phôi thai của trái đất nhưng theo GS Benner, chúng có rất nhiều trên sao Hỏa. Do đó, ông nêu khả năng sự sống bắt đầu trên sao Hỏa.
Trên thực tế, vấn đề nguồn gốc sự sống bắt nguồn từ sao Hỏa đã từng được bàn luận, nhưng GS Benner nêu thêm ý tưởng về nguồn gốc sao Hỏa của sinh quyển trái đất. Lần này, ông trình bày kết quả nghiên cứu cho thấy các khoáng chất chứa hai nguyên tố boron và molybdenum đóng vai trò then chốt để các nguyên tử kết hợp thành phân tử hình thành sự sống.
GS Bennen giải thích: “Chỉ khi nào mobybdenum trở nên ôxy hóa cực cao nó mới tác động đến cách đời sống ban đầu hình thành. Dạng molybdenum không thể có ở trái đất vào lúc sự sống hình thành vì 3 tỉ năm trước đây, trái đất rất thiếu ôxy nhưng ở sao Hỏa có ôxy rất nhiều.
Mặt khác, ông Benner cho rằng môi trường của sao Hỏa lúc đó khô hơn và đó cũng là điều kiện thích hợp hơn cho sự sống hình thành.
Bao năm qua chúng ta đều tin rằng sự sống của mọi sinh vật, trong đó có loài người, đều bắt nguồn trên Trái Đất. Thế nhưng một nghiên cứu khoa học gần đây lại cho rằng sự sống có thể có nguồn gốc từ trên Sao Hỏa, sau đó theo các tảng thiên thạch rời khỏi Sao Hỏa mà đến Trái Đất.
Kết quả nghiên cứu nói trên được Giáo sư Steven Benner ở Viện Nghiên cứu khoa học và công nghệ Westheimer (Mỹ) trình bày trong Hội thảo Hóa học Địa cầu Goldschmidt 2013 họp tại Florence nước Ý từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 8 vừa qua.
                                                          *           *           *&
Vào thời đại cách đây hàng tỷ năm, so với Trái Đất thì Sao Hỏa có những điều kiện thích hợp hơn cho sự phát triển sự sống. Thời ấy Trái Đất chưa có những yếu tố để tạo nên sự sống, cụ thể là chưa có những khoáng chất để hình thành RNA, tức phân tử gene đầu tiên của sinh vật.
Nhiều năm nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu vấn đề nguyên tử dùng cách nào để hình thành 3 yếu tố quan trọng cấu tạo nên nguồn gốc của sinh vật: RNA (Ribonucleic acid), DNA (Deoxyribonucleic acid) và Protein.
              Các phân tử cấu thành vật chất di truyền thì phức tạp hơn rất nhiều so với các chất hữu cơ nguyên thủy mà Trái Đất tự sinh ra được cách đây 3 tỷ năm. Nếu chỉ đơn giản thêm nhiệt hoặc ánh sáng cho các chất hữu cơ nguyên thủy ấy thì các chất đó chỉ có thể hình thành hắc ín (tar) chứ không phải là RNA.
Hơn thế nữa, trên Trái Đất thời kỳ đầu, khoáng chất có ích nhất cho sự hình thành RNA – đó là các khoáng chất chứa nguyên tố Boron và nguyên tố Môlipđen – đã bị hòa tan hết trong nước biển, bởi lẽ thời ấy toàn bộ bề mặt Trái Đất đều ngập trong biển nước, mà nước thì ăn mòn và hủy hoại RNA.
Trong lúc đó trên Sao Hỏa lại có trữ lượng cực lớn loại khoáng chất đó. Sao Hỏa ngày ấy cũng có nước nhưng không nhiều, chỉ có khoảng một phần cực nhỏ bề mặt Sao Hỏa bị ngập nước.
“Điều đó chứng tỏ trước khi sự sống được thiên thạch (rơi từ Sao Hỏa) chở xuống Trái Đất thì sự sống đã được sinh ra trên hành tinh màu đỏ này”, Giáo sư Benner nói.
Ông cho biết: nguyên tố Boron và Môlipđen chứa trong khoáng chất là hai thành tố quan trọng để nguyên tử tạo nên RNA, thế nhưng như trên đã nói, Trái Đất thời kỳ sơ khai thì không thích hợp cho sự hình thành khoáng chất chứa Boron và Môlipđen.
Benner giải thích tiếp: Chỉ khi nào Môlipđen được ôxy hóa cao độ – tức hình thành ôxyt Môlipđen, thì nó mới có thể ảnh hưởng tới việc hình thành sự sống thời kỳ đầu. Muốn Môlipđen được ôxy hóa cao độ, dĩ nhiên phải có ôxy.
             Nhưng Benner cho biết: Ba tỷ năm trước, Trái Đất thiếu ôxy, vì thế không thể nào ôxy hóa được Môlipđen. Nhưng Sao Hỏa khô hơn, có rất nhiều ôxy, thích hợp hơn cho sự hình thành khoáng chất chứa Boron và ôxyt Môlipđen.
Bởi vậy, cho dù trên Trái Đất có tồn tại một số lượng nhất định khoáng chất chứa Boron và Môlipđen nhưng hình thái hóa học của chúng cũng không thể giúp ích cho sự hình thành RNA.
“Những điều đó nói lên rằng chúng ta thực ra được sinh ra trên Sao Hỏa, nhưng sau đó theo các thiên thạch tới Trái Đất”, GS Benner kết luận.
Nói cách khác, sự sống có nguồn gốc trong đất đá Sao Hỏa, sau đấy do tác động bên ngoài hoặc do núi lửa phun mà một số đất đá ấy trở thành các tảng thiên thạch bay ra khỏi Sao Hỏa và một số rơi xuống Trái Đất.
Hiện nay có khoảng 1 tỷ tấn nham thạch bay lơ lửng trong khoảng không gian giữa Sao Hỏa và Trái Đất, khi bị các tiểu hành tinh va phải, chúng vỡ ra thành các thiên thạch và rơi xuống Trái Đất chúng ta.
Dù sao Benner vẫn thừa nhận Trái Đất là hành tinh thích hợp hơn cho sự sinh tồn của các loài sinh vật. Ông nói: “Giả thử tổ tiên Sao Hỏa mà chúng ta phỏng đoán bây giờ hãy còn ở trên ấy thì chúng ta chẳng có chuyện gì để nói cả”.
 
             Boron là nguyên tố hóa học ký hiệu B, số nguyên tử 5, tiếng Việt gọi là Bo. Môlipđen là tên tiếng Việt của nguyên tố hóa học ký hiệu Mo, số nguyên tử 42, tên La-tinh là Molybdenum.
Phải chăng là do thấy được tính chất quan trọng của Sao Hỏa trong sự hình thành nguồn gốc loài người mà ông Obama sau khi nhậm chức Tổng thống đã thay đổi phương hướng nghiên cứu của Cơ quan NASA, chuyển trọng tâm từ Mặt Trăng sang Sao Hỏa?
Quả thật là các tàu vũ trụ-robot do NASA phóng lên đang đào bới Sao Hỏa, như tàu Curiosity, đã phát hiện thấy Sao Hỏa có nước và có dấu vết của chất hữu cơ. Nếu loài người buộc phải đi khỏi Trái Đất thì nơi họ đến có lẽ chỉ có thể là Sao Hỏa.
Hiện nay đã có hàng nghìn người tình nguyện đăng ký tham dự chuyến đi một lần lên Sao Hỏa sinh sống (có đi, không có về), trong đó có cả một số người Việt Nam.
                                                         *             *             *
Công dân của 140 quốc gia trên khắp thế giới muốn đến sao Hỏa, với hy vọng tạo những nơi trú ngụ đầu tiên của con người tại hành tinh này.
Nhà tổ chức cho biết 202.586 người đã gửi những đoạn video giải thích lý do tại sao họ muốn được chọn cho dự án trị giá hơn 6 tỷ USD này. Để bù đắp vào nguồn kinh phí này, những nhà tổ chức dự định tạo một sự kiện truyền thông hoành tráng như thế vận hội Olympic.
Ông Paul Romer, đại sứ của dự án này cho biết nhiệm vụ đến sao Hỏa có thể là sự kiện truyền thông lớn nhất trên thế giới.
Theo các nhà tổ chức, những khu dân cư trên sao Hỏa sẽ cho chúng ta biết nhiều về nguồn gốc của năng lượng mặt trời, nguồn gốc sự sống và vị trí của chúng ta trong vũ trụ rộng lớn. Theo Websitecủa dự án này thì việc di chuyển đến sao Hỏa chỉ có thể thực hiện được một chiều vì những điều kiện cất cánh trở về trái đất từ hành tinh đỏ hiện không có và đòi hỏi nguồn kinh phí quá cao.
Doanh nhân Hà Lan Bas Lansdorp, nhà tài trợ của dự án cho biết những cá nhân mà họ tìm kiếm để đến sao Hỏa phải là những người khỏe mạnh, thông minh và có các kỹ năng cần thiết để có thể hoạt động theo nhóm.
Trong số các ứng viên, có 47.654 người từ Mỹ và 8.497 người Anh. Tất cả các ứng viên phải vượt qua bốn thử thách. Vòng bốn sẽ là một cuộc thi quốc tế dành cho các ứng viên và chỉ có bốn người được chọn để trở thành những người đầu tiên định cư trên hành tinh đỏ vào năm 2023.
Dự án nhằm xây dựng một nhóm bốn người từ những lục địa khác nhau để sống và tập luyện với nhau trong khoảng thời gian bảy năm trước khi con tàu có người lái đầu tiên đến sao Hỏa ra mắt vào năm 2022.
(Nguồn: khoahoc.com, tin180 và BBC)
------------------

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Tới thăm các “tam giác ma quỷ” bí ẩn trên Trái đất

…Tam giác Bermuda là vùng biển rộng lớn ở phía Tây Đại Tây Dương, gồm 3 đỉnh tam giác là quần đảo Bermuda ở phía Bắc; thành phố Miami bang Florida (Mỹ) ở Tây-Nam và đảo Puerto Rico ở phía Nam.
Điển hình là sự cố “Chuyến bay 19” diễn ra ngày 5/12/1945. Theo đó, một toán 5 chiếc máy bay ném ngư lôi TBM Avenger của Mỹ khi đang được huấn luyện thì đột nhiên biến mất trên vùng biển thuộc Tam giác quỷ. Trước khi biến mất, những phi công đã gửi tín hiệu radio về căn cứ với những mô tả đáng kinh sợ như “nước trắng”, “đại dương trông không như bình thường”…
Chưa hết, ngay sau khi đội bay TBM Avenger biến mất, một chiếc máy bay đã được phái đi từ căn cứ quân sự Mỹ để giải cứu. Nhưng cũng chỉ 23 phút sau khi cất cánh, chiếc máy bay này cũng “bặt vô âm tín”…
                  >> Đọc tiếp/Nguồn  
-----------------

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

ĐỪNG ĐEM CÔNG NGHIỆP 'GIẾT CHẾT' CÔNG NGHỆ !

 * Gs.Ts NGUYỄN VĂN LUẬT
   BVB - Trong sản xuất lúa, những công nghệ sau luôn kế thừa và phát triển công nghệ trước; luôn có sự đan xen, hòa nhập, hỗ trợ để cùng phát triển. Trong quá trình phát triển, công nghệ sản xuất lúa công nghiệp hình thành ngay trong thời kỳ công nghệ truyền thống. Cũng tương tự như vậy đối với công nghệ cao, chứ cái mới có không phá sạch tan tành cái có trước. Tìm hiểu các công nghệ sản xuất trong quá trình phát triển của nó mới có thể kết hợp hài hòa trong quy trình sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời có thể thấy được hướng phát triển tới.
Trước khi trình bầy một số hiểu biết của tôi về ba loại công nghệ, cũng có thể nói là ba nền sản xuất lúa của nước ta, xin được giới thiệu một số thông tin liên quan. Ở một hội nghị quốc tế về lúa gạo tổ chức năm 2004 ở TP Hồ Chí Minh, có một khẩu hiệu dán la liệt trong và ngoài hành lang Hội nghị: “Chúng ta không sản xuất lúa bằng kinh nghiệm” (We do not practce agriculture based on experiences). Với tư cách chủ tọa một phiên họp, tôi đã thảo luận với Ban Tổ chức: Khẩu hiệu này vừa không đủ, vừa không đúng. Ít nhất phải bổ sung bằng  từ, và là “Chúng ta không làm nông nghiệp chỉ  (not only) dựa vào kinh nghiệm”; để đầy đủ hơn thì phải thêm: “.. mà cần áp dụng công nghệ mới thích hợp” (but adaptive new technology). Đại biểu một số nước tán thành, nhưng tôi cũng chấp nhận đề nghị của BTC, chỉ trong phạm vi “Lobby”, không đưa ra Hội thảo.
Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh dứt khoát không đồng ý với đề xuất đúc thành vàng khối những cổ vật như kim ngọc bảo tỷ, ấn, kiếm.. bằng vàng để bổ sung vào ngân khố, và phân tích những cổ vật này không riêng gì của chế độ phong kiến, mà còn là tài sản của nhân dân, là sản phẩm đúc kết từ trí tuệ của những người thợ Việt Nam (báo Văn nghệ ngày 20 tháng 7, 2013). Có lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nghệ An, một cán bộ lãnh đạo huyện hí hửng báo cáo đã phá sạch đình chùa tàn tích cũ để xây trường học, trạm xá, trụ sở khang trang. Bác hỏi “Bọ mạ (bố mẹ) cháu còn không?”. Người cán bộ cảm động trả lời: Dạ, bọ mạ cháu còn sống và đã vào hợp tác xã nông nghiệp”. Bác nói: “Về giết hết đi, cũng là cũ kỹ mà!”… Qua câu chuyện này, Bác đã cho địa phương một bài học sâu sắc!.  

Công nghệ sản xuất lúa truyền thống
           Công nghệ trồng lúa xưa là công nghệ cổ truyền, hay truyền thống, đã gắn liền với nền văn minh lúa nước; đã đóng góp quyết định vào việc duy trì và phát triển dân tộc ta từ hàng ngàn năm trước đây. Công nghệ trồng lúa truyền thống dùng tập đoàn giống lúa cổ truyền, cũng chính là công nghệ sản xuất “lúa hữu cơ”  ngày nay, ký được hợp đồng tiêu thụ thì giá cao hơn lúa thường rất đáng kể, có khi gần ngàn USD/ tấn gạo!. Bởi vì công nghệ sản xuất lúa này chỉ dùng năng lượng tái tạo, hay dùng phân hữu cơ, dùng sức kéo trâu bò, chất dinh dưỡng chủ yếu dựa vào đất có sẵn. Nông dân xưa khai thác tiềm năng về chất dinh dưỡng từ  đất cần cho lúa bằng làm đất (hòn đất nỏ là rỏ phân; ải thâm không bằng dầm ngấu..), hay nuôi thả bèo hoa dâu. Dùng giống lúa cao cây dài ngày, tuy năng suất hạt thấp, chỉ đạt khoảng 3 tấn thóc 1 ha, nhưng để lại một khối lượng rơm rạ rất lớn, gấp đôi thóc lúan!. Những công nghệ như làm nấm rơm, làm ván ép từ vỏ trấu và rơm rạ.. lại có thể tăng thu nhập rất đáng kể từ sản phẩm phụ của nghề trồng lúa.
Vùng ven biển luân canh lúa – tôm đang phát triển, đồng thời manh nha công nghệ sản xuất lúa hữu cơ với giống và kỹ thuật thích hợp. Vì giá trị kinh tế vụ tôm thường hơn lúa nhiều, mà kỹ thuật nuôi tôm để có mùa tôm trúng lại kị phân bón hóa học, thuốc sát trùng. Người nông dân trồng lúa ở vùng này có thể  trở nên khá giả và giầu có khi  có điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường của hệ canh tác lúa /tôm, cá.
             Tên gọi giống lúa bản địa được đặt bởi người nông dân tự chọn và sử dụng. Thật là thú vị vì ý nghĩa của mỗi tên giống lúa có thể hiện được bản tính của người nông dân thân thiện với môi trường, sáng tạo, đôn hậu, chân chất, hình tượng và minh triết. Vài ví dụ: Nàng hương là  cô tiên thơm tho; Nàng thơm Chợ Đào là lúa thơm đặc sản được sản xuất  ở vùng Chợ Đào; Cù lựa là giống lúa được lựa bởi ông nông dân tên Cù ở Bán đảo Cà Mau; Ba sào – giống lúa có thân dài bằng ba sào tre; Huyết giồng, hạt gạo màu đỏ đẹp như huyết con rồng; Một bụi – giống lúa lựa từ một bụi; Nếp ba cô – giống lúa nếp do 3 cô thôn nữ lựa ra..

Công nghệ sản xuất lúa công nghiệp
            Công nghệ trồng lúa hiện nay nằm trong thời kỳ công nghiệp hóa là công nghệ trồng lúa công nghiệp với các giống lúa mới. Các giống lúa mới cao sản ngắn ngày  ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vựa lúa lớn nhất của cả nước, khởi đầu là từ Viện Lúa Quốc tế với ký hiệu IR. Kế thừa và phát triển các giống lúa IR, từ thập kỷ 80, chúng ta đã tự lai tạo ngày một nhiều giống lúa mới. Từ thập kỷ 90 đến nay, phần lớn giống lúa được dùng là do ta lai tạo và được nông dân sử dụng trên khoảng 90% diện tích lúa.. Tuy nhiên, có những giống lúa IR như IR 50404, IR64 vẫn được dùng rộng rãi, cũng do nông dân tự giữ lại, các nhà khoa học giúp nông dân giữ được bản chất của giống để không bị hoái hóa..
Trước mỗi vụ lúa, cơ quan chức năng đều có khuyến cáo cơ cấu giống lúa .  Cục Trồng trọt vừa khuyến cáo cho vùng Nam bộ: Nhóm giống lúa chủ lực (diện tích trên 30.000 ha/ vụ): OM 4900, OM 6976, OM 6162, OM 5451, OM 7347, OM 2517, OM 2395, ML 48, VNĐ 95-20, Jasmine 85, và IR 50404. Đồng thời cũng giới thiệu những giống lúa “kế cận” được dùng trên diện tích hẹp hơn, được gọi là “nhóm giống bổ xung”, rồi giống triển vọng. Cơ sở khoa học và thực tế của cơ cấu giống lúa được giới thiệu là những tổng kết sản xuất ở địa phương và kết quả nghiên cứu thí nghiệm ở các viện, trường đại học. Viện Lúa ĐBSCL, từ hơn ba thập kỷ đã tổ chức đều đặn hàng vụ, gần đây là mấy hàng năm, đón tiếp 600 – 800 nông dân và cán bộ kỹ thuật ở trong và ngoài vùng cùng ra đồng bình chọn được hàng chục giống ưa chuộng trong hàng trăm  giống lúa thử nghiệm. Những giống được nhiều ngưới quan tâm là giống lúa chịu mặn tới 0,04% (bình thường là 0,03%) như OM9577 và  OM9684, ST5.. đã được sử dụng trên hàng mấy vạn ha. Giống lúa dễ làm như IR50404, nhưng chất lượng gạo cao hơn, 85 ngày, là giống OM10424, đã được trồng thử trên mấy ngàn ha, thấy né được mặn huyện Long Phú, Sóc Trăng; và ở vùng ngọt huyện Bình Minh, Vĩnh Long, đều đã đạt 7 tấn thóc/ha và cao hơn.
Cốt lõi của công nghệ trồng lúa công nghiệp là cơ khí hóa nghề trồng lúa, trong phong trào phấn đấu đến năm 2020 nước ta đạt các tiêu chí của nước công nghiệp. So với trước đây, từ sau giải phóng, nhất là sau đổi mới, năng suất và sản lượng lúa tăng rất nhanh, gấp 4, gấp 5 lần hơn công nghệ truyền thống. Đồng thời, năng lượng không tái tạo từ dầu hỏa, như phân hóa học, thuốc sát trùng, săng dầu, ..  được sử dụng ngày một nhiều gây ra những hậu quả xấu về môi trường, về sức khỏe con người, nhất là đối với nông dân.
Bà con nông dân, với sự hỗ trợ của nhiều ngành, nhiều cấp và các nhà khoa học, các doanh nghiệp, đã phát huy tiềm năng của cơ cấu giống lúa mới hợp lý, trên cơ sở các điều kiện canh tác lúa ngày một cải thiện, nhất là điều kiện về tiêu tưới. Kết quả là, kỷ lục mới trong sản xuất lúa gạo năm nào cũng lập được, vì năng suất và sản lượng lúa năm sau luôn cao hơn năm trước từ vài thập kỷ qua. Năm 2012, tổng sản lượng lúa đang vươn nhanh tới mốc 45 triệu tấn, lượng gạo xuất khẩu đạt: 7,6 triệu tấn! Tuy nhiên, bà con nông dân vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, vì phải đầu tư cao hơn vào sản xuất, nên thu nhập thuần không tương xứng..

Công nghệ cao sản xuất lúa
            Công nghệ cao sản xuất lúa kế tiếp và sẽ thay thế dần từng hoạt động sản xuất, từng khâu canh tác trong công nghệ sản xuất lúa công nghiệp. Tuy ở nước ta mới manh nha, nhưng đã tỏ ra nhiều triển vọng. Về công nghệ sinh học có chế phẩm sinh học nấm xanh nấm trắng trừ sâu, được bà con nông dân ở ĐBSCL và nhiều nơi đã tham gia vào khâu cuối của dây truyền sản xuất chế phẩm, để sử dụng trừ sâu cho mình và làm thương phẩm. Kỹ thuật di truyền, một công nghệ cao đang được áp dụng trong tạo chọn giống lúa chống hạn, chịu mặn, kháng sâu bệnh. Đã có những giống lúa cho gạo được coi như thực phẩm chức năng, vì hàm lượng đam cao, tăng hàm lượng ba chất vi dinh dưỡng vitamin A, sắt, iod gây mờ mắt, bướu cổ, thiếu máu..Sử dụng tia lade trong khâu san phẳng mặt ruộng lúa đã thực nghiệm ở An Giang, Bặc Liêu. Vật liệu nano đã được dùng trong sản xuất thử nghiệm phân hóa học và thuốc sát trùng với lượng rất  ít mà hiệu quả lại rất cao, giảm được giá thành rõ rệt..Khi tham quan các nước phát triển trồng lúa, như Nhật, Ý, Úc.., tôi đã thấy họ sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) vào việc theo dõi lúa sinh trưởng phát triển, theo dõi tình hình sâu bệnh; họ thực hiện “Nông nghiệp chính xác” bằng một hệ thống phân tích hàm lượng nước và chất dinh dưỡng trong đất ở từng khu vực. Khi cần tưới, cần bón, sẽ hiển thị trên máy tính (computer), “nông dân trí thức” sẽ ấn nút, một hệ thống dẫn nước có pha phân hóa học sẽ tự động tưới bón cho từng khu vực theo định lượng do máy móc làm.     
Khi công nghệ cao “thâm nhập” vào các khâu canh tác, các hoạt động sản xuất lúa như nhiều nước đang làm thì nền sản xuất lúa ở nước ta sẽ có một bước nhẩy vọt tựa như bước nhẩy rất ấn tượng từ công nghệ sản xuất lúa truyền thống sang công nghiệp hóa, nhưng lợi ích hướng vào nông dân nhiều hơn..
           Ba công nghệ sản xuất lúa mô tả sơ lược trên đan xen, hòa nhập, kế thừa, bổ xung, làm cho nền sản xuất lúa của chúng ta sẽ phát triển không ngừng! Công nghệ là kinh nghiệm, là kỹ thuật truyền thống, được đúc rút từ mồ hôi, nước mắt của nhà nông, xin đừng qúa thiên về công nghiệp sản xuất lúa chạy theo năng suất, sản lượng cao mà 'giết chết' công nghệ. 
 24/07/2013
NVL
----------------

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

'Lộn kiếp' - Có hay không?

… Tiến sĩ Stephenson thuộc trường Đại học Louisana (Mỹ) khi nghiên cứu về vấn đề này cho rằng, khắp nơi trên thế giới có những trường hợp lộn kiếp thường xảy ra khi trẻ mới lên 3 - 5 tuổi. Chúng bắt đầu kể về cuộc sống kiếp trước của mình làm cha mẹ và người thân rất hoang mang, trừ ở Ấn Độ, nơi mà luật Luân hồi được nhiều người biết đến và người ta phản ứng rất bình tĩnh trong gia đình có một đứa bé lộn kiếp. Tuy nhiên, từ 7 - 8 tuổi trở lên đứa trẻ bắt đầu quên những ký ức về kiếp trước cho đến khi quên hẳn, nhưng cũng có trường hợp ký ức về kiếp trước còn tồn tại lâu dài.
…Một số nhà khoa học cho rằng, bằng chứng luân hồi là kết quả của kí ức chọn lọc, trí nhớ sai hay một số hiện tượng tâm lý đặc biệt như đa nhân cách, nhân cách phân ly và kí ức ẩn giấu.
Đơn cử một cặp trùng lặp rất thú vị giữa Napoléon và Hitle: Chẳng hạn, Napoléon sinh năm 1760, Hitle sinh năm 1889 chênh nhau 129 năm. Đặc biệt, rất nhiều sự kiện trùng và chênh nhau đúng 129 năm như: Napoléon nắm quyền năm 1804, Hitle năm 1933 chênh 129 năm. Napoléon chiếm Viên (Áo) năm 1809, Hitle năm 1938 chênh 129 năm. Napoléon chiếm Nga năm 1912, Hitle chiếm Nga 1941; Napoléon thua Nga 1816, Hitle thua Liên Xô 1945. Napoléon và Hitle đều nắm quyền binh năm 44 tuổi, đánh chiếm Viên năm 49 tuổi, đánh chiếm Nga năm 52 tuổi và đều vỡ mộng bá chủ ở tuổi 56...

----------------

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Kinh tế Tri thức ở Việt Nam

… Trong những năm qua kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, kinh tế tri thức là khái niệm không dễ hiểu vì dựa trên hai khái niệm trừu tượng là kinh tế và tri thức, và do vậy đã được hiểu nhiều ít khác nhau[2]. Bài viết này bắt đầu bằng việc trao đổi một cách hiểu người viết cho là gần với bản chất của kinh tế tri thức. 
… CNTT&TT là hạ tầng cơ sở để thực hiện hầu hết các hoạt động của kinh tế tri thức, là phương tiện hữu hiệu hỗ trợ cho ba trụ cột nêu ở trên về giáo dục và đào tạo, hệ thống cách tân, môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho việc sáng tạo và sử dụng tri thức. Thách thức trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở CNTT&TT là chuyện thời sự của ta hiện nay khi Nhà nước đang đặt mục tiêu tăng tốc để trở thành một nước mạnh về CNTT&TT. 
Đang và sẽ sớm có nhiều bàn luận về thách thức này, nên ta không phân tích gì ở đây, chỉ nêu hai thí dụ cho thấy CNTT&TT có thể ảnh hưởng ra sao trong nền kinh tế tri thức, đồng thời cũng cho thấy những thách thức trong việc đưa CNTT&TT vào hỗ trợ những hoạt động kinh tế như vậy…
                    >>  Đọc tiếp/Nguồn   
------------------

Một số tồn tại của nền khoa học Việt Nam

… Thực trạng hiện nay là giới trẻ không muốn theo đuổi sự nghiệp khoa học vì không nhìn thấy tương lai phát triển và ổn định cuộc sống. Để thu hút tinh hoa giới trẻ chọn con đường khoa học Nhà nước, phải có những chính sách đãi ngộ đảm bảo cho các cán bộ khoa học có nguồn thu nhập và sinh hoạt ổn định. Cần phải quy định mức lương khởi điểm của nghiên cứu viên bằng 5 lần mức lương tối thiểu và Nhà nước phải xây nhà hay hỗ trợ kinh phí cho cán bộ khoa học mua hay thuê nhà. Không tạo ra được một tương lai ổn định cho các nhà khoa học trẻ thì chúng ta sẽ tìm nguồn nhân lực cao ở đâu. Tương lai ổn định này không thể thực hiện qua việc thực hiện các đề tài khoa học, trái với thông lệ quốc tế (không trả lương qua đề tài) và là nguồn gốc của nhiều tiêu cực. Nếu không có những chính sách đãi ngộ đột phá thì chắc chắn chúng ta sẽ không có đủ nguồn nhân lực làm khoa học và kỹ thuật trong tương lai…
                         >> Đọc tiêp/Nguồn   
---------------

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

CUỘC SỐNG SỐ

           
 * MAI XUÂN HIỆP      
            Chừng dăm năm trở lại đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trên toàn cầu, cuộc sống số đã đi sâu một cách thiết thực vào đời sống của hàng triệu triệu người trên trái đất.
Ở các nước tiên tiến người ta áp dụng kỹ thuật số vào cuộc sống con người rất tài tình, mọi thông tin về cá nhân đều được lưu trọn trong một “file”, người ta chỉ cần nhắp chuột “enter” là ra ngay về dữ kiện một con người từ ngày tháng năm sinh, cha mẹ, quê hương bản quán cho đến nhóm máu, màu da, nhận dạng, số tài khoản và số lượng tiền hiện có. Để tiện ích họ nén thông tin đó trong sổ hộ chiếu hoặc trên một chiếc thẻ để rồi khi đi đâu đó hoặc chỉ cần “quẹt” qua máy soi là biết đúng sai. Nó còn siêu hiện đại đến mức nhận tiền qua thẻ ATM chỉ cần đưa đầu ngón tay vào điểm tín hiệu, máy nhận ra sự chính xác ‘chủ nhân’ qua vân tay, không cần mã khóa, password.
Thấy người nghĩ đến mình. Ở VN ta, nay không những không bị coi là xứ còn lạc hậu về công nghệ thông tin, mà còn được xếp ở tốp ‘hiếm’ trong các nước đi tắt đón đầu về sử dụng công nghệ tin học. Thế mà, tuy trước mặt mỗi vị đại biểu Quốc hội đều có máy tính mạng LAN rất sang, nhưng vẫn phải bỏ phiếu bằng tay…?! Mỗi lần các kỳ Quốc hội họp là không biết bao nhiêu ý kiến đòi đổi mới “giấy chứng nhận” về một con người “Hộ khẩu - CMND” lại được dư luận tung lên mạng và báo chí. Có người biện dẫn nguồn gốc chuyện hộ khẩu có từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc, cái thời cổ đại - xa xưa lắm rồi nên loại bỏ trong đời sống hiện đại ngày nay. Có người thì cho rằng “cách quản lý như hiện nay làm hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đồng thời cũng không phù hợp với những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định”. Nhiều đề xuất phải thay sổ hộ khẩu bằng thẻ xanh, thẻ hồng, thẻ an sinh, thẻ cá nhân như những nước khác. Nhưng qua những đợt “phong trào” ý kiến rầm rộ như vậy, khi Nhà nước chưa có hình thức nào thay đổi thì cuốn sổ hộ khẩu và Chứng minh nhân dân (CMND) vẫn là một trong những vật rất quan trọng trong đời sống mỗi con người Việt Nam. Tuy nhiên, theo trào lưu phát triển chung, có lẽ rồi đây những công cụ quản lý này sẽ được thay thế bằng các hình thức khác.
            … Một thời gian chưa xác định được, cuộc sống số ngự trị toàn xã hội. Mỗi con người đều được mã hóa bằng một con số in trên một tấm giấy người ta gọi là “thẻ”,với những “mã vạch” đen, trắng, dài, ngắn khác nhau. Trong đó nó lưu trữ đầy đủ các thông tin của một con người như mong muốn của người sản sinh và sử dụng nó.Bắt đầu từ ngay sau khi sinh ra, con người được hệ thống điện toán của bệnh viện cập nhật thông tin vào hệ thống lưu trữ của Nhà nước bao gồm ngành Tư pháp và An ninh – cảnh sát các thông tin về: chủng tộc, mẫu ADN, vân tay, màu da, màu mắt, màu tóc, nhóm máu, chiều cao, cân nặng, cha mẹ, quê quán.v.v.. và v.v… nói chung là tuột tuồn tuột những gì liên quan đến sinh linh bé nhỏ đó vào một “file” cá nhân, đồng thời lưu vào một chiếc thẻ từ. Và điều quan trọng là cũng ngay từ đó nó có ngay một chìa khóa là “mã số” mà theo công nghệ thông tin gọi là password. Nếu không có cái password đó thì người khác chẳng thể khai thác và sử dụng được cái thẻ đó.    Rồi ngày tháng trôi qua, đứa bé lớn lên, đi học. Mọi dữ kiện của nó đều được người lớn cập nhật thường xuyên. Như bệnh án thì: đã mắc bệnh gì, do bác sỹ nào điều trị, điều trị bằng thuốc và phương pháp gì, kết quả ra sao. Rồi lúc nào thì đến trường và quá trình học tập ở các trường như thế nào. Lớn hơn nữa thì kết hôn với ai, có đặc điểm chủng tộc, mẫu ADN, vân tay, màu da, nhóm máu, chiều cao, cha mẹ, quê quán.v.v.. và v.v.. như thế nào và quan trọng nhất là phải biết password của nhau để sử dụng khi cấp bách nếu vợ chồng có độ tin tưởng nhau tuyệt đối. Công danh, sự nghiệp cũng là những thông tin được đưa vào đây. Quá trình học tập, công tác, các bằng cấp, khen thường kỷ luật đều được mã hóa nạp vào thẻ. Nhất là lý lịch nghề nghiệp thì rất tiện lợi, nó sẽ lưu giữ bằng thông tin, hình ảnh những thành quả công hiến của con người ấy cho xã hội, nhất là các công trình khoa học, văn hóa nghệ thuật…Khi cần thiết người sử dụng chỉ cần đưa thẻ vào máy tính và mở khóa là có thể xem và công bố cho những người xung quanh biết về mình.  
Về mặt Nhà nước để quản lý tài chính, chống tiêu cực, tham nhũng…tài khoản cá nhân cũng được mã hóa để các cơ quan hoặc các công ty trả lương hàng tháng, người sử dụng cũng dùng thẻ này để mua sắm cho bản thân họ. Việc sử dụng tiền trong tài khoản cũng rất tiện ích, thuận lợi nhất là bảo vệ được an toàn tài sản của mình, vì thẻ có vào tay người khác mà không có password thì cũng “bó tay”. Sau mỗi lần chi xài hệ thống máy tính cũng hiện lên trong màn hình hoặc in ra giấy cho mình biết số tiền còn - hết trong tài khoản. Loại thẻ này gọn nhẹ, rất tiện dụng trong di chuyển, nhất là từ quốc gia này sang quốc gia khác. Khi qua cửa khẩu ta chỉ cần “quét” một cái vào máy quét là barie mở cho ta đi liền. Nên các thương gia và những người thường đi nước ngoài rất yêu thích nó.
             Khi ốm đau, bệnh tật hoặc tại nạn phải vào bệnh viện, nhân viên bệnh viện hoặc bác sỹ có đọc nhanh các thông tin về bệnh sử của người đó để có thể truyền nhận loại máu gì, cho ra phương thức điều trị phù hợp nhất, tránh được phản ứng phụ khi bệnh nhân có các tiền sự bệnh trái ngược với căn bệnh hiện trạng. Tấm thẻ còn được sử dụng như một chiếc khoá từ để bảo vệ ngôi nhà của bạn. Khi ra vào căn nhà thân thương của mình bạn chỉ cần “quét” thẻ qua khe hở của lỗ khóa, của sẽ tự động cho bạn vào nhà và khóa lại chắc chắn. Bạn yên tâm ăn no, ngủ say mà không sợ kẻ nào đột nhập vì đã có hệ thống điện toán với các phương án phòng thủ, tấn công bảo vệ an toàn cho căn nhà của bạn. Các hình thức thẻ được thế giới loài người triệt để sử dụng vì những tiện ích của nó. Người sử dụng cảm thấy rất thoải mái và thích thú, vì tuy nhỏ nhắn nhưng nó chứa đựng an toàn nhiều thông tin của mình, nhất là những điều thầm kín muốn giấu giếm.  
            Ngày qua ngày, toàn thế giới hội nhập, các nước nghèo chậm phát triển cũng phấn đấu đầu tư phát triển phong cách quản lý này theo các nước giàu. Người ta có thể đi khắp thế giới mà không phải mang theo nhiều loại giấy tờ phiền phức, cũng như có thể dùng tiền khác mệnh giá mà không phải đổi khi muốn sử dụng. Chỉ cần “quẹt” thẻ vào máy tính là giải quyết được mọi vấn đề. Công nghệ quản lý thẻ thật là ưu việt. Nó phát triển nhanh như vũ bão và giữ quyền thống soái trên tất cả mọi loại giấy tờ. Cũng từ khi công nghệ thẻ phát triển, ngành công nghiệp sản xuất giấy in, giấy viết dần suy thoái cùng với ngành công nghiệp sản xuất bút viết các loại. Bởi vì con người chỉ dùng máy tính, kể cả việc ký tên trên các loại văn bản. Tài nguyên thiên nhiên được bảo tồn, cây rừng xanh tươi do ngành sản xuất giấy không còn. Xã hội loài người hãnh diện về nền kinh tế công nghệ thẻ của mình. Các loại giấy tờ như hộ khẩu, CMND, giấy khai sinh đã trở thành quá khứ, nằm trong bảo tàng để thế hệ mai sai biết có một thời nó đã được nâng niu, giữ gìn cẩn trọng.
            Tuy nhiên, thời “hoàng kim” của Thẻ  cũng chỉ duy trì trong một thời gian nhất định, trong đời sống của con người chiếc thẻ cũng bộc lộ ra nhiều yếu điểm của mình, vì là “vật ngoài thân” nên cũng có lúc bị rơi mất hoặc hư hỏng khi gặp sự cố, mà việc phục hồi lại mất thời gian và phức tạp.Cả xã hội lại một lần nữa lên tiếng đòi phải cải cách, cho rằng thẻ không còn phù hợp nữa, phải có sự thay đổi phương thức để quản lý một con người khác hơn, hữu hiệu hơn.Thế rồi các nhà khoa học, các nhà cải cách lại thi nhau nghiên cứu các phương án, cuối cùng thì cũng cho ra đời một loại vật dụng mới  mới tiện dụng gấp nhiều lần thẻ, đó là con “chíp” điện tử có thể gắn được cơ thể con người.
            Để áp dụng biện pháp này, người ta tạo ra những con “chíp” tí hon với những mã số, mã vạch rồi lưu tuốt tuồn tuột những thống tin như chiếc thẻ từ đã có. Chỉ khác là con “chíp” này bé hơn nhiều lần chiếc thẻ kia, được người ta rạch da rồi gắn nó vào. Thường thì người ta gắn phía trên cổ tay phải đối với người thuận tay phải và cổ tay trái nếu người đó thuận tay trái hoặc bất kỳ chỗ nào trên cơ thể tùy theo ý thích của người sử dụng . Với con “chíp” này người sử dụng thấy sung sướng và thoải mái hơn nhiều so với dùng thẻ, vì nó là “vật trong thân” không rơi rớt, mất mát, và vì con "chíp" này tiến bộ hơn, nó có thể hiểu và thực hiện các yêu cầu theo giọng nói của con người. Muốn sử dụng vào việc gì, người ta chỉ cần đưa tay nơi có gắn con "chíp" vào rồi ra lệnh là máy tính tự đọc và điều khiển các dụng cụ thi hành các mệnh lệnh một cách nhanh chóng, chính xác. Cả thế giới loài người thỏa mãn nhu cầu khi có công nghệ "chíp", các kỳ họp quốc hội, làm luật… không thấy ai còn đòi cải cách nữa. Đại biểu quốc hội, đại biểu các hội nghị của các nhà nước khi biểu quyết vấn đề gì chỉ cần đưa tay nơi có con "chíp" vào máy quét dạng scan là xong. Con "chíp" trở thành công cụ quản lý hữu hiệu nhất trên đời. Mọi người tung hô tán thưởng và không còn phàn nàn gì nữa.
            Ngày tháng tiếp tục trôi nhanh, những trục trặc trong cuộc sống của "chíp" bắt đầu xuất hiện xuất phát từ những chuyện cỏn con. Chuyện rằng, sau khi bù khú với bạn bè, người đàn ông đó ra mở cửa xe hơi để về nhà. Nhưng do quá chén, toàn thân thấm đẫm rượu bia. Khi đưa tay nơi gắn "chíp" vào chỗ khóa và ra lệnh “Vừng ơi! mở ra” thì cánh cửa xe hơi đã không thực hiện theo mệnh lệnh của ông ta vì lời nói thì lè nhè, còn mã khóa làn da và máu đã bị rượu oxy hoá không còn đúng theo chương trình đã cài đặt nữa. Vậy là anh ta phải vẫy taxi nhờ chở về. Nhưng trước khi xe taxi chạy anh phải đưa con "chíp" vào máy tính của xe để ghi nhận nơi xuất phát và tính tiền khi anh xuống xe. Máy tính cũng không đọc được nên anh ta đành phải xuống xe đi bộ. Thất thểu trên quãng đường dài, mệt quá anh ngồi xuống và ngủ bên vỉa hè. Đội tuần tra phát hiện và đưa anh về bót cảnh sát. Tại đây khi đưa "chíp" nơi tay anh vào máy đọc thì máy tính không chấp nhận do dữ liệu bị nhiễu. Đồn cảnh sát  tạm giữ anh ta cho tới khi tỉnh rượu. Khi anh ta tỉnh dậy, phải tắm rửa sạch hết mùi rượu và thật tỉnh táo thì con "chíp" của anh mới bắt đầu làm việc và anh mới được tha về. Trường hợp khác cũng đáng thương, một chị phụ nữ do sơ suất bị thương ở cổ tay nơi gắn con "chíp" đã không tài nào mở được cửa nhà, không dùng được điện thoại gọi cho người thân nên đành phải ngồi ngoài cả buổi, tới tối người thân về đưa đến trung tâm điện toán để chạy lại chương trình. Đặc biệt hơn, con "chíp" hiện đại này còn được cài đặt rất chặt chẽ về thông số của vợ hoặc chồng, để đảm bảo thực hiện chế độ hôn nhân “một vợ - một chồng”. Nên một mặt xã hội đã bớt đi nhiều vụ xi-can-đan “ông ăn chả - bà ăn nem” do "chíp" không chấp nhận người lạ, nên chủ nhân nó “đẩy nhau” vì phải cho "chíp" đọc và chấp nhận thông số trước khi “làm việc”. Nhưng mặt khác cũng nhiều đôi vợ chồng phải chia ly do "chíp" không đọc được thông điệp của họ khi có nhu cầu ân ái... vì những trục trặc kỹ thuật.
            … Rồi một ngày kia hệ thống máy tính toàn cầu do một lỗi rất nhỏ mà không khôi phục được, làm hàng tỷ người người ngơ ngác không biết mình là ai, ở đâu, đi đâu, về đâu. Mọi thông tin về một con người đã bị xóa sạch trong tích tắc, chẳng có gì để có thể “hóa thạch” để mà tìm kiếm. Cả thể giới loạn lạc.
Tôi giật mình thức dậy, nhớ lại giấc mơ cúa mình, mới thấy càng trân trọng nâng niu tấm giấy khai sinh, CMND và cuốn hộ khẩu giản đơn của mình. Mặc dù đi theo nó là những thủ tục lích kích, nhưng thà như thế còn hơn sống trong cảnh “mất thông tin” – vô gia cư.
M.X.H
---------------