Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Những "cơn sóng" trái chiều ở biển Đông

 
… Những căng thẳng mới đây cho thấy sự cần thiết của việc đạt được một Bộ Qui tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính chất ràng buộc. Chỉ có điều, trong nội bộ ASEAN xuất hiện 2 xu hướng: một ủng hộ phương án COC “tối thiểu” và một ủng hộ phương án COC “tối đa”. Đối với những người ủng hộ của  COC “tối thiểu”, ưu tiên hàng đầu là tham gia một loạt các cuộc đàm phán nhằm thiết lập một loạt thỏa thuận có tính ràng buộc sẽ chi phối cung cách ứng xử các bên và giải quyết tranh chấp có ít nhất 3 bên can dự.
Một COC như vậy sẽ là phần mở rộng hợp lý của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, trong đó kêu gọi giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp, từ bỏ đe dọa và sử dụng vũ lực trong việc thúc đẩy tuyên bố chủ quyền. Nó cũng sẽ phù hợp với "Nguyên tắc 6 điểm" mà Indonesia đề xuất, trong đó nhấn mạnh việc giải quyết các tranh chấp biển đảo dựa trên luật pháp quốc tế, cụ thể là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)…
                  >> Đọc tiếp/Nguồn  
-----------------

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

COC VÀ CON ‘BÀI CÀO’ 16+4


 * BÙI VĂN BỒNG
           Mới đây, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho rằng Trung Quốc đã lên kế hoạch chiếm bãi cạn Scarborough nhằm mở rộng lãnh thổ của mình trước khi Bộ qui tắc ứng xử trên biển (COC) được ký kết. Ông Rosario cũng thúc giục các nước ASEAN đẩy nhanh tốc độ đàm phán về COC. 
Rằng: “Chúng tôi cho rằng Trung Quốc đang tìm cách đi trước COC. Theo chúng tôi, họ đã lên kế hoạch hành động và cố gắng hoàn thành trước khi họ ngồi xuống bàn đàm phán về COC”, ông DelRosario trả lời phỏng vấn hãng Reuters tại văn phòng của ông ở Manila. “Kiểu hành động đó đe dọa hòa bình và ổn định của khu vực. Nếu ngày hôm nay Philippineslà mục tiêu, ngày mai một quốc gia khác sẽ trở thành mục tiêu. Vì thế cần coi đây là vấn đề của cả khu vực”, ông del Rosario nói.
                   > Xây dựng COC càng sớm càng tốt  
             Đáp lại, người phát ngôn Trung Quốc Hồng Lỗi cho rằng Philippines “chuyện bé xé ra to” về vấn đề Scarborough, khu vực "thuộc chủ quyền không thể tách rời của Trung Quốc".
Bài trên trang mạng hoangsa.danang.gov.vn khẳng định: Về thực chất, bề ngoài, Trung Quốc tuyên bố đồng ý đàm phán với ASEAN về Bộ qui tắc ứng xử trên biển Đông (COC), nhưng bên cạnh đó, Bắc Kinh lại có một loạt hành động thể hiện mục đích mở rộng vùng kiểm soát trên Biển Đông. Phải chăng, Trung Quốc đang có một mưu đồ gì đó?
Hôm 7/9, tờ Philstar dẫn lời một quan chức an ninh cấp cao Philippinescho rằng Trung Quốc đang đẩy nhanh kế hoạch chiếm và kiểm soát thêm các vùng biển của Philippinestrên Biển Đông. Ông này cũng cho rằng đây là một phần trong kế hoạch hải quân trung và dài hạn của Bắc Kinh nhằm chiếm quyền kiểm soát toàn bộ Biển Đông. “Trong khi chính phủ chúng ta đang cố gắng giải quyết cuộc tranh chấp hàng hải với Trung Quốc qua con đường trọng tài quốc tế, hải quân nước này lại thực hiện kế hoạch chiếm thêm các mỏm đá và bãi cạn trên Biển Đông”, vị quan chức này nói.
Những hành động trên của Trung Quốc diễn ra trong lúc nước này mặc dù nhất trí đàm phán về Bộ qui tắc ứng xử trên biển (COC) nhưng không tỏ ra sốt sắng lắm. Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cho rằng không nên vội vàng với "Bộ qui tắc ứng xử trên biển Đông" do bộ qui tắc này liên quan tới nhiều quốc gia và phải mất rất nhiều công sức mới đạt được (!?). Bản chất lừa mị, tráo trở của Trung Quốc ngày càng bộc lộ rõ qua những động thái 'tiền hậu bất nhất', qua những sự kiện và phát biểu công khai mới nảy sinh, cho thấy Trung Quốc đang cố trì hoãn, thậm chí tìm cách 'đánh bài chuồn' không ký COC.
Nhiều “nỗ lực” cho “lưỡi bò” liếm rộng trên biển Đông, Trung Quốc đang tìm cách đi trước COC. Bộ qui tắc ứng xử sẽ là văn bản giúp giảm các mâu thuẫn, phòng ngừa xung đột giữa các bên và không để Biển Đông quay trở lại thời kì các bên hành xử đầy khiêu khích. Do đó, Bắc Kinh đang thúc đẩy một “kế hoạch hành động khẳng định chủ quyền”. Trung Quốc sẽ “chộp lấy” càng nhiều diện tích trên Biển Đông càng tốt và sau đó nhất trí với một bộ qui tắc ứng xử đảm bảo tính hợp pháp cho những vùng mà nước này chiếm được. 
Trong khi đó, đối với Việt Nam, thì Trung Quốc vẫn coi con số ‘bài cào’ 16_4 (16 chữ, 4 tốt) để buộc Việt Nam bất cứ trong tình huống nào cũng phải “hết sức bình tĩnh, không manh động” phản đối, tỏ thái độ “bất khả kính” với Trung Quốc!  Việc gì mà phải né sợ Trung Quốc “triệt để” đến mức ấy.
Nhưng, bàn tay che sao được mặt trời. Sự thực vẫn là sự thực, không dễ che đậy, ém nhẹm, giấu giếm, cố tình nói trại ra tự dối lòng mình. Cái con số 16 và con số 4 cộng lại là con số “bài cào”, tức là giản ước cho 10 thì bằng 0 (chỉ là con số không). Trung Quốc tự vạch ra khẩu hiệu quan hệ Việt-Trung theo phương châm “16 chữ ” trên tinh thần “4 tốt”. Lãnh đạo Việt Nam ta gật đầu nhận con “bài cào” đó, cứ tưởng ngon lành là “ông anh” láng giềng hữu hảo, tốt bụng thật lòng, cứ theo đó mà hô khẩu hiệu mạnh vào, không biết mệt. Nhưng, họ nói vậy mà đâu có làm. Họ không coi cái thứ “bài cào” do họ phát ra là gì. Thậm chí họ còn cười khẩy: “Hỉ hảo lắm a…, ta lừa như vậy mà VN cũng tin! Hỉ hảo!”.
Nhưng khi Việt Nam cố gắng “gương mẫu” giữ lời hứa, thì Trung Quốc cũng chẳng bao giờ thèm đếm xỉa, “mặc xác mày, việc tao, tao cứ làm!”. Đã nhiều năm, Việt Nam kiên trì “hữu hảo” đến mức cấm tiệt các báo “không được đụng đến Trung Quốc, không nêu Hoàng Sa, Trường Sa, không ai được nói đến chủ quyền…” lên mặt báo. Báo in, coi như bị tắc tị, bí rì. Báo mạng mà đưa lên là bị nhắc nhở, bị chặn ngay, thậm chí còn bị nghi ngờ liên quan "thế lực thù địch”. Người dân vì thấy bức xúc, vì lòng yêu nước, đi biểu tình cho dù tôn trọng trật tự và rất ôn hòa lên tiếng biểu thị thái độ chống sự xâm lấn của Trung Quốc cũng bị ngăn chặn, bị tống giam, đe dọa. Người ta đưa người yêu nước biểu tình vì chủ quyền dân tộc vào trại “phục hồi nhân phẩm”, như thế là mất nhân phẩm à, sao phải "phục hồi"? Người ta còn “gương mẫu cao độ” đến mức bắt người dân phải chịu “khổ nhục kế”, đem lòng tự trọng ra thế chấp đổi lấy hòa bình, mong đạt được cái tổng số "bài cào" 16 + 4...
Cả thời gian quá dài rồi, những bó “lạt mềm buộc chặt ấy”, tưởng như “đem đại nghĩa thắng hung tàn” thành công, lại bị Trung Quốc ra mặt coi thường, tráo trở và phản thùng. Thực tế cho thấy, cả “16 chữ” vẫn nguyên đấy, không thực thiđược gì cả. Rõ ràng phương châm “16 chữ" nay đã thành vô phương, vắt óc suy nghĩ vẫn không thấy cái mớ xà bần do TQ cào đống lại: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Hở ra là nhà cầm quyền Bắc Kinh chớp cơ hội lấn chiếm, tranh giành biển-đảo, làm sao mà có “láng giềng hữu nghị”? Còn “hợp tác toàn diện” cái kiểu gì mà chọn nơi địa thế có lợi về chiến lược, chiến thuật quân sự, nơi địa thế “đắc lợi” để qua đó lợi dụng đưa người Trung Quốc vào thật nhiều, không ít "lính Tàu mặc thường phục" đã lấy vợ người Việt tai nới "dự án đầu tư", chiếm cứ các vùng trọng yếu, các vị trí địa lý trọng điểm trên lãnh thổ Việt Nam?
Không dừng lại ở đó, nhiều năm qua Trung Quốc không ngừng “chơi hiểm” với Việt Nam, thực hiện “hợp tác toàn diện” và “láng giềng tốt” kiểu Tàu. Họ tìm mọi cách coi đường biên giới Việt – Trung như bờ rào rách, đưa người qua lại tự nhiên như đi chợ, rồi hàng gian hàng giả, thực phẩm độc hại gây ung thư, tiền giả tuồn sang; rồi lừa đảo mua bán chụp giật đẩy nông dân vào cảnh khốn cùng; lại tung tiền mua móng trâu, mắt trâu, lá vải, đọt cà phê, râu ngô non, rễ hồi, con sâm đất, khuyến khích nuôi ốc bưu vàng, nuôi đỉa, nuôi chuột với chủ đích phá hoại sản xuất, làm rối loạn thương trường, phá hoại môi trường, gieo rắc mầm dịch bệnh? Phá ngang, phách lối, trịch thượng như vậy, làm ăn cái kiểu chụp giật và hại nhau thẳng thừng như vậy, làm sao mà “ổn định lâu dài”? Còn “hướng tới tương lai” nào? Một tương lai mờ mịt với dân Việt là chiến tranh và nước mất nhà tan? Tương lai súng nổ rầm trời, khói lửa mịt mù, bom rung pháo dội, tang thương chết chóc, máu đỏ cả sông biển do chiến tranh, rồi cả đất nước Việt Nam thành tỉnh Quảng Nam của Trung Quốc là cái thứ “hướng tới tương lai” hay sao?
Thế còn “4 tốt” là láng giềng, bạn bè, đồng chí, đối tác. Sao đẻ ra những thứ làm mồi câu có vẻ thơm tho, ngon lành như thế để lừa mị sự cả tin và nết chân thật của người Việt Nam?
Trong khi Việt Nam cứ lo chăm đắp, giương cao khẩu hiệu con “bài cào”, thì Trung Quốc hung hăng tuyên bố chủ quyền bằng những ngắt khúc bút chỉ “đường Lưỡi Bò”, bắt ngư dân Việt, đưa tàu ngư chính, tàu hải giám đi vào tận thềm lục địa, vùng nội thủy của Việt Nam như trong “ao nhà”, cắt cáp tàu Bình Minh 2, nhiều đoàn tàu đánh cá lớn bé được Hải Giàm hộ tống ngang nhiên xâm phạm Trường Sa, phá ngang hội nghị ASEAN bàn về biển Đông, mời thầu 9 lô dầu mỏ trong thềm lục địa của Việt Nam, thành lập chính quyền, quân đội cho cái gọi là “thành phố Tam Sa”, rầm rộ đẩy xuất bến ồ ạt 23.000 tàu đánh cá vơ vét, công khai “lấy thịt đè người” trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam…Mới đây lại tổ chức nhiều đợt diễn tập bắn đạn thật có thực binh khu vực quần đảo Trường Sa, xây dựng khu du lịch biển, sân bay và gia tăng củng cố chính quyền, hợp thức hóa dân sự “thành phố Tam Sa”.
Rõ ràng, chúng ta càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Cho dù Bộ ngoại giao có nói cả triệu lần kháng nghị miệng, rồi công hàm “cực lực lên án” thì Trung Quốc vẫn coi như tiếng ong, tiếng ve, tiếng mèo kêu, gà cục tác, chẳng xem ra gì cả!
Thế nên, cái “vòng kim cô” do ai đó bày ra lâu nay thít chật cứng đến nghẹt thở đối với tuyên truyền, công luận, cả biểu tình… cũng phải dần dần được giãn ra. Nay đã thấy, từ chỗ không cho một chữ biển-đảo, Trường Sa, Hoàng Sa, hải quân… xuất hiện trên báo, mới đây nhiều tờ báo đã được dễ thở hơn khi đăng các bài viết về chủ quyền biển –đảo sau khi Luật Biển được quốc hội thông qua và hàng loạt hành động xâm phạm chủ quyền, khiêu khích, chửi bới VN...của Trung Quốc một cách có hệ thống. Riêng tờ báo được coi là “đại thận trọng” như báo Quân đội nhân dân gần đây đã có các bài: Đường lưỡi bò không có cơ sở pháp lý; Chứng cứ pháp lý về Trường Sa, Hoàng Sa; Bản đồ cổ không có Hoàng Sa, Trường Sa thu hút khách tham quan; Tính pháp lý đã rõ ràng, …Đồng thời, người ta cũng thấy các blog, các trang mạng viết về “khu vực cấm” này cũng ít bị quấy nhiễu như trước..
Bản chất và âm mưu bành trướng bá quyền của Trung Quốc đã rõ mồn một như thế, chẳng lẽ che tai, bịt mắt được mãi hay sao? Nếu biết “đem trí nhân thay cường bạo” thì hãy nhanh chóng phổ biến rộng rãi về Công ước quốc tế, về Luật biển, về những cơ sở và lý lẽ vững chắc trong việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập tự do cho nhân dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế. Hãy tổ chức gặp gỡ, hội nghị, hội thảo đa phương, mời các nhà khoa học, các nhà lịch sử trên thế giới, các chính khách ngoại giao vì công lý tham gia cùng chung tay góp sức vì hòa bình và ổn định để phát triển. Hãy tập hợp các loại bản bản đồ, chứng cứ pháp lý và phổ quát rộng cho cả thế giới biết và khởi kiện lên Tòa án Quốc tế, phải yêu cầu Liên hợp quốc can thiệp. Còn rất nhiều việc “không dùng vũ lực”, tránh xảy ra xung đột vũ trang mà Việt Nam phải làm, cần làm gấp. Được như thế thật là đáng mừng, đáng được an ủi và yên lòng dân.
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chỉnh phủ đã có cuộc trao đổi với phóng viên Infonet. Ông Trục nói rằng: Bộ ngoại giao và nhiều học giả bác lại những luận điệu của Trung Quốc, nhưng cũng chưa đủ để người dân hiểu rõ, hiểu sâu, hiểu đúng bản chất vấn đề Biển Đông. Trước tình hình đó, mỗi người dân phải làm gì, cần có biện pháp gì, định hướng như thế nào để cùng Nhà nước có được giải pháp cho vấn đề Biển Đông một cách thích hợp và có hiêu quả nhất?
Tình hình hiện nay đang thôi thúc chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về Biển Đông để cộng đồng trong nước, quốc tế và đặc biệt là người dân Trung Quốc hiểu rõ bản chất vấn đề Biển Đông. Nhân dân Việt Nam có truyền thông yêu nước, luôn luôn có ý thức bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, dám hy sinh tất cả vì sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền thiêng liêng của quốc gia, dân tộc…. Chính vì thế, trước những vi phạm trắng trợn chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển trong thời gian qua, họ đã lên tiếng và đã có những hành động thiết thực, bổ ích đáng được trân trọng, khích lệ và cần nhân rộng.
Vấn đề Biển Đông là vấn đề rất phức tạp, nhất là trong tình hình hiện nay. Trong khi đó nhận thức của người dân về Biển Đông mới chỉ được “đánh thức”, nhưng vẫn chưa hoàn toàn “tỉnh”. Cần phải phát động các phong trào hướng ra biển đảo một cách thiết thực và sinh động , vì đây là vận mệnh dân tộc, vấn đề mất còn chủ quyền quốc gia.
Việt Nam cần biết tự chủ, tự quyết, tự  bỏ đi cái "vòng kim cô" cứng nhắc bất lợi cho dân cho nước để cho người dân nước Việt Nam ta được tự do nói hết lòng mình, giãi bày tâm tư nguyện vọng, rộng đường tranh đấu chống thói xấu và cái ác, chống thù trong giặc ngoài, không bị "trỗi dậy hòa bình" nó lừa gạt mà sinh hậu họa khôn lường!
BVB
------------------

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

VỀ LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC

Lế hội Đền Trạng (Trạng Trình) ở Tiên Lãng - Hải Phòng
…Ngay từ đầu thế kỷ 20, người Nhật đã chúng tỏ sự khôn ngoan, mạnh mẽ và lòng dũng cảm trong các chiến công đánh bại hai đế quốc Nga và Tàu.
Trong Thế chiến II người Nhật tuy thất trận nhưng lòng dũng cảm phi thường của họ khiến cả thế giới đều thán phục. Sau hai trái bom nguyên tử, thay vì họ lụn bại, phải xuất khẩu dân mình đi làm cu li hay nô lệ tình dục cho người nước khác hay cho phép người nước khác vào xứ mình lột truồng phụ nữ để tuyển “vợ”,  để huênh hoang về số ngoại tệ thu được hàng năm, thì họ đã đứng dậy, chỉ mất vài ba mươi năm để trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì của thế giới. Sau trận động đất hồi tháng 3 năm ngoái họ đã khiến cả thế giới phải cúi chào và khâm phục tinh thần kỷ luật và lòng tự trọng của họ…
Chừng nào niềm tự hào dân tộc còn tồn tại trong lòng người dân một nước thì quốc gia đó, dân tộc đó mới có thể tồn tại được. Lòng tự hào dân tộc chính là chỗ dựa tinh thần của dân tộc đó. Mất lòng tự hào dân tộc, con người ta sẽ dễ dàng làm mọi điều ô nhục mà tự cho là vinh. Mất niềm tự hào dân tộc, lòng người nhanh chóng tan rã vì không còn giá trị nào để kết dính họ lại với nhau. Họ không thấy đất nước mình, dân tộc mình có điều gì hay đáng tự hào để yêu thương và bênh vực…
Nói về bốn ngàn năm văn hiến của đất nước đâu phải là để tự sướng. Trong một ngàn năm độc lập vừa qua, tiền nhân ta đã nói điều đó nhiều lần, đã tự hào về điều đó nhiều lần. Chính lịch sử và tinh thần văn hóa (văn hiến) đó của dân tộc đã giúp người dân Đại Việt biết mình là ai, và giúp phân biệt ta với Tàu: “Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác” (Bình Ngô đại cáo), và có thể dõng dạc lên tiếng “tuyên ngôn”: “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư”.
Lòng tự hào dân tộc không làm ai tự sướng hay ngủ quên cả. Nhìn vào người Nhật thì thấy rõ lòng tự hào cao ngất của dân tộc họ. Họ có tự sướng hay ngủ quên gì đâu…
                 >> Đọc tiếp/Nguồn   
----------------

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

ĐỘC LẬP PHẢI ĐI LIỀN VỚI TỰ CHỦ, TỰ QUYẾT DÂN TỘC

   
* BÙI VĂN BỒNG
               Nhìn lại lịch sử từ ngày 2-9-1945 đến nay, 68 năm rồi, dù đã Tuyên ngôn độc lập, nhưng Việt Nam ta chưa hề có độc lập dân tộc thực sự theo đúng nguyên nghĩa của từ. Đến tận thời điểm này, đất nước Việt Nam đâu đã được yên lành để sống trong một quốc gia hoàn toàn được độc lập, tự do? Mới giành độc lập được 20 ngày thì ngày 23-9-1945, thực dân Pháp (với đồng minh Anh-Ấn, cùng Tàu Tưởng, Nhật) đã quay trở lại xâm lược nước ta.
Câu nói trong Tuyên ngôn của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để gìn giữ quyền tự do, độc lập”. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta…”. Nay, ai coi thường, thậm chí vì “16 chữ vàng, 4 tốt’ mà ngăn chặn lòng yêu nước là đi ngược lại lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng nhờ ‘lòng yêu nước nồng nàn’, suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dân và quân ta đã giành nhiều thắng lợi, quân đội ta từ chỗ chỉ có 34 chiến sĩ tuyên thệ dưới bóng đa Tân Trào, đã lên cấp đại đoàn, nhiều đại đoàn:

 “Tiền, gạo của dân
       súng đạn cũng nhờ dân
Đâu dễ quên
những "đồng tiền kháng chiến”
Chắt chiu từ xương máu đồng bào
Từ mồ hôi chát mặn khát khao
Từ nước mắt cay nồng bom lửa…
Đoàn quân lớn lên từ không đến có                                
Từ nhỏ nhoi thành cao lớn phi thường
Cũng nhờ mỗi củ khoai hạt lúa
Nhờ hòn than giấu lửa suốt mùa mưa”…
                           (“Nhìn lại dấu xưa” – Bùi Văn Bồng)
            Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, kết thúc cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng kế đó toàn dân ta lại phải lao vào cuộc chiến mới vì nền độc lập,  cả dân tộc lại phải dồn hết tâm sức suốt gần 20 năm mới giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng tiếp đến, tưởng được như lời tuyên bố mừng rỡ của cố TBT Lê Duẩn “đất nước ta từ nay vĩnh viễn sạch bóng quân xâm lược”, thì ngay sau đó lại chiến tranh biên giới Tây Nam, con em người dân Việt lại phải đổ biết bao máu xương làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, rồi nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, lại rối tinh rối mù bất ổn bởi tranh chấp biển Đông và tình trạng người Trung Quốc thâm nhập, tung hoành khắp mọi miền đất nước.
Từ khi nước ta giành được độc lập dân tộc, Trung Quốc luôn luôn rình rập, chớp mọi thời cơ đánh chiếm các quần đảo thuộc chủ quyền cuat Việt Nam. Năm 1946, quân Tàu Tưởng đánh chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, vì sợ Pháp lại không dám đánh tiếp. Năm 1956, Pháp vừa rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc đã cho quân xâm chiếm một số đảo phía Đông của Hoàng Sa. Mỹ nhảy vào miền Nam, Trung Quốc thấy mất thời cơ, đành co lại. Năm 1973, Mỹ vừa rút quân khỏi Việt Nam thì ngày 19-1-1974, Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa…
Để đánh Việt Nam từ phía Tây Nam, Trung Quốc đã dựng lên chế độ diệt chủng Polpot, mượn tay Polpot đánh dọc toàn tuyến biên giới Tây Nam, bắt đi hơn 500 người dân rồi chiếm đảo Thổ Chu, lăm le chiếm đảo Phú Quốc, lại có kế hoạch diệt hết người Khmer để đưa người Trung Quốc vào chiếm luôn Campuchia làm bàn đạp chiếm toàn Đông Dương, áp sát Thái Lan, Mianma và tràn xuống Đông Nam Á. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc xua quân xâm lược toàn tuyến 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm một phần thuộc quần đảo Trường Sa.
Năm 1989, toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam rút về nước. Năm 1990, thấy “trên đà thắng lợi”, Trung Quốc bày ra ‘cái bẫy’ Hội nghị Thành Đô (TQ) để tiếp tục chính sách chi phối Việt Nam theo kiểu mới và cxoi như Đảng CSVN bị vướng bẫy. Đi dự hội nghị Thành Đô là sự “ngoan ngoãn tự băng bó vết thương” để sang mà nghe kẻ thù tiếp tục bóp nghẹt, chặt chém theo kiểu “đấm xong, nay xoa để còn đấm tiếp” cho đến khi ngã gục.
Thực chất Hội nghị Thành Đô 1990 là cách chạy tội của Trung Quốc khi đã là chủ mưu gây ra nạn diệt chủng ở Campuchia và gây ra chiến tranh biên giới phía Bắc, xâm chiếm Hoàng Sa, gây ra cuộc hải chiến rồi chiếm một số đảo, bãi đá ngầm ở Trường Sa. Nhưng cái chính là TQ bày ra Hội nghị Thành Đô với chủ đích vừa xoa dịu, vừa “cài bẫy”,  dùng lời lẽ ngon ngọt dụ dỗ Việt Nan để thực hiện “chiến lược xâm lược mềm”, “trỗi dậy hòa bình”, phá vỡ sự nghiệp đổi mới của Việt Nam, từng bước làm suy yếu Việt Nam, buộc VN phụ thuộc nhiều hơn vào TQ để đạt mục đích cuối cùng là xâm lược nước ta lần nữa. Đã quá thừa minh chứng để nhận diện bộ mặt thật của Trung Quốc. Hội nghị Thành Đô là thế, nhưng sau Hội nghị này, thấy Trung Quốc không tôn trọng Việt Nam, can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ, nói mà không làm, lại liên tiếp gây căng thẳng để ép Việt Nam từ nhiều phía, thiết nghĩ rất cần nhanh chóng nhận diện mà cảnh giác. Cũng cần chỉ thẳng ra rằng, “diễn biến hòa bình”, “thế lực thù địch” không ai khác mà chính là Trung Quốc.
Suốt hơn 20 năm qua, cái mồi câu “16 chữ vàng” và “4 tốt” cứ nhấp nhứ dần để chi phối Việt Nam về mọi mặt, từ chính trị đến kinh tế, ngoại giao và cả an ninh trật tự, văn hóa xã hội. với mưu đồ bành trướng, bá quyền, Trung Quốc muốn chiếm Việt Nam và cả Đông Dương để thực hiện mục đích thành lập tỉnh Quảng Nam. Ý đồ lăm le này càng thêm rõ suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhưng cho đến nay, từ lâu Trung Quốc đã có tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, còn tình Quảng Nam đầy mưu mô và tham vọng vẫn còn để dành, vẫn bỏ ngỏ để rồi “hãy đợi đấy!”.
Khổ một nỗi là Đảng ta vì qua tin “ông bạn vàng”, “đàn anh” tốt, “cộng sản lớn”, mải miết bám theo “đoàn kết, hữu nghị, anh em, cùng lý tưởng cộng sản” mà từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ rồi cho đến nay vẫn chưa thoát ra được kịch bản, đạo diễn của Trung Quốc về những lĩnh vực trọng yếu và những tình huống mang tính bước ngoặt lịch sử. Tại sao mỗi lần nghe theo Trung Quốc là một lần thất bại, kể cả can thiệp về nhân sự, loại bỏ những người trong nguồn quy hoạch lãnh đạo có đức có tài, có chính kiến, đã nhiều lần bị trả giá quá đắt, mà cái tư tưởng “phủ phục thiên triều” vẫn chưa dứt ra được?
Không nhận diện ra tốt-xấu, phải-trái, không đánh giá được đâu là bạn, đâu là thù, không phân biệt đâu là mưu mô và đâu là“sự giúp đỡ chí tình”, hàm ơn vô lý, chính là sự tự sát. Không nhận diện đâu là cộng sản chân chính, đâu là vỏ bọc, giả hiệu thì còn “chạy việt dã vô cự ly”đến hết hơi rồi chịu gục ngã. Một nước đã Tuyên bố độc lập, thế nhưng do thiếu tính tự chủ, tin vào thứ Chủ nghĩa xã hội trá hình kiểu Tàu, trở thành con bài của Mao-ít, để rồi cung cúc đi theo, nghe xúi giục làm theo, trả giá biết bao lần mà nay chưa kiên quyết thể hiện tự chủ của một nước độc lập, cuối cùng chỉ chuốc lấy sự trì trệ và những mất mát, tang thương không lường hết được.
            Đến lúc này mà còn ráng sức bơi ngược dòng, trung thành với những cam kết hoàn toàn do sự áp đặt rõ nhất và thâm hiểm nhất từ Hội nghị Thành Đô ngay trong dịp kỷ niệm 2-9-1990, những cài bẫy “16 chữ vàng, 4 tốt”, “chống diễn biến hòa bình”, "cùng lý tường, cùng ý thức hệ"…của Trung Quốc từ hơn 20 năm trước, rõ ràng là sự mắc mưu “Trung Cộng”, dẫn tới nguy cơ đưa đất nước vào kết cục bi thảm dưới bàn tay của Chủ nghĩa bành trướng mang đậm bán chất Đế quốc Đại Hán. Độc lập mà không biết tự chủ thì coi như độc lập chỉ là thứ hình thức không đủ trang sức, không có nghĩa lý gì! Cho nên rất cần tỉnh táo, cảnh giác cao độ, tránh được sự sai khiến, áp dặt để thực sự tự chủ tự quyết là điều không đơn giản. 
             Cũng là bài cũ, trò lường gạt ‘Cái gậy và củ cà rốt’, nhưng cái gạy thủ sẵn từ lâu của Trung Quốc nay đã to hơn, chắc hơn, không cần giấu sau lưng nữa, đã công khai huơ lên mấy lần đe dọa và rập rình đập chết “con mồi”, trong khi đó củ cà rốt có khắc số 16 CV+ 4T nay đã thối, teo quắt, chẳng lẽ ta cứ bài cũ mà làm theo? Để "xâm lược mềm", Trung quốc không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào, kể cả dùng tiền dụ dỗ, như một sự bố thí. Mới đây, một chuyện hết sức kỳ cục đã xảy ra vào tháng 7-2013: Tướng Vũ Đông Lập, Cục trưởng Cục Quản lý biên phòng thuộc Bộ Công an Trung Quốc trong chuyến sang thăm và làm việc tại Việt Nam, đã thưởng “nóng” cho Đồn Biên phòng Móng Cái của Việt Nam 50 triệu đồng, dĩ nhiên là đồng Việt Nam. Nếu đồn biên phòng Mõng Cái có chút tự tôn, tự trọng dân tộc thì không nhận khoản tiền đó. 

            Cần có bản lĩnh Việt Nam, ý chí Việt Nam và mưu trí Việt Nam đã được hun đúc suốt hơn 4.000 năm lịch sử, khẳng định được quyền tự chủ trong công cuộc gìn giữ nền độc lập, tự do, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Những hoạt động mang danh “hữu nghị” như: Thanh niên hữu nghị hai nước, biên giới hữu nghị, tuần tra chung trên biên giới và biển, hội chợ hữu nghị, giao lưu văn hóa hữu nghị…có là thực lòng, được bao nhiêu thực chất? Phải chăng, đó chỉ là những “đường lượn chiến thuật” ngoắt ngoéo của sâu đục thân đang làm héo mòn dần ý chí, năng lực, quyền tự chủ của Việt Nam, đang mang theo niềm tự hào 68 năm độc lập dân tộc?
               Một diều cần nhìn nhận, đánh giá chuẩn xác từ thực tế chính tri.-xã hội hiện nay: Đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ đã làm được đầy đủ lời khẳng định, vừa là lời dạy này của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay chưa? Bác nói:: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” (!?). 
               Vững tin vào nhân dân, vững tin ở lòng yêu nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tổng lực sức mạnh nội tại  (nội lực) của đất nước, có bản lĩnh và ý chí tự chủ và tự quyết dân tộc, thì nền độc lập, tự do mới trường tồn, lãnh thổ, lãnh hải được giữ vững. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ  "Đất nước' đã viết:
... "Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng năm 
Ta đã lớn rồi, chín đầy hy vọng
Hãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng của nắng
Hỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi..

Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi đừng rơi
Đừng tự do, đừng hoài nghi nữa
Hãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủ
Hãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dân
Nhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùng
Thế vô tận của nghìn năm giết giặc
Lửa đã cháy hồng hào mặt đất
Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù!

- Không bao giờ xương máu phải bơ vơ
Ôi sông núi nghi ngàn dặm đất
Có nghe tiếng chúng con: Xin có mặt
Nguyện làm người xung kích của quê hương
Đây tiếng hát chúng con:
Tiếng hát xuống đường!".
_ (NKĐ).
BVB
-------------

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Lịch sử, mắt xích yếu trong yêu sách biển của Bắc Kinh

* MOHAN MALIK 
Người dịch: Huỳnh Phan
Yêu sách của Bắc Kinh đối với gần như toàn bộ biển Đông hiện nay được tô vẽ trong các hộ chiếu mới và bản đồ chính thức của Trung Quốc (TQ). Lãnh đạo TQ và người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhấn mạnh với mức hung hăng ngày càng tăng rằng các đảo, đá, và các rạn san hô là “lãnh thổ từ thời xa xưa” của TQ. Thông thường, đối với chủ quyền và ranh giới biển thì các yêu sách lãnh thổ chồng lấn phải được giải quyết thông qua việc vận dụng kết hợp luật tập quán quốc tế, phán quyết trước Tòa án Quốc tế hoặc Tòa án Quốc tế về Luật Biển, hoặc trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Trong khi TQ đã phê chuẩn UNCLOS và Công ước này nói chung không chấp nhận bỏ các yêu sách “dựa trên lịch sử”, nhưng đó lại đúng là loại yêu sách mà Bắc Kinh đưa ra lúc này lúc khác. Hôm 4 tháng 9 năm 2012, Ngoại trưởng TQ, ông Dương Khiết Trì, nói với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rằng có “rất nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lý cho thấy rằng TQ có chủ quyền đối với các đảo ở biển Đông và các vùng biển liền kề”. 
Xét về mặt “bằng chứng pháp lý”, đại đa số các chuyên gia pháp lý quốc tế đều kết luận rằng yêu sách sở hữu (danh nghĩa) lịch sử của TQ đối với biển Đông, bao hàm thẩm quyền chủ quyền đầy đủ và đồng ý cho các nước khác đi ngang qua là không hợp lệ và không hợp pháp. Các bằng chứng lịch sử, nếu có, thậm chí còn kém thuyết phục. Có nhiều mâu thuẫn trong việc TQ sử dụng lịch sử để biện minh cho yêu sách của họ đối với các đảo và rạn đá ở biển Đông, không ít trong số đó là sự khẳng định đầy tranh cãi của họ về các tương đồng với việc bành trướng đế quốc chủ nghĩa của Hoa Kì và các cường quốc châu Âu trong thế kỉ XVIII và XIX. Biện minh cho những nỗ lực của TQ mở rộng biên giới biển của họ qua việc yêu sách các đảo và rạn đá xa bờ, Cổ Khánh Quốc (Jia Qingguo), giáo sư trường Đại học Quan hệ Quốc tế Bắc Kinh, cho rằng TQ chỉ đơn thuần theo gương phương Tây. “Hoa Kỳ thì có đảo Guamở châu Á ở rất xa đất Mỹ và người Pháp thì có các đảo ở Nam Thái Bình Dương, vì vậy chẳng có điều gì mới cả”, Cổ Khánh Quốc nói với AFP mới đây.
Phân tích sâu xa về các “bằng chứng lịch sử” làm cơ sở cho các yêu sách của TQ cho thấy rằng lịch sử thật ra không đứng về phía TQ. Nếu có thì yêu sách của TQ đối với quần đảo Trường Sa trên cơ sở lịch sử bị mắc mứu ở chỗ là không có đế chế nào của khu vực trước đây đã thực thi chủ quyền. Ở châu Á thời tiền hiện đại, các đế chế có đặc điểm là có các đường biên giới không xác định, không được bảo vệ, và thường thay đổi. Khái niệm về quyền bá chủ (suzerainty) chiếm ưu thế. Không giống như một nhà nước – dân tộc (nation-state), biên giới của đế chế TQ vừa không được vẽ cẩn thận vừa không bố phòng mà giống như các vòng tròn hay các khu vực, giảm dần từ trung tâm của nền văn minh ra đến vùng ngoại vi của người man di xa lạ. Quan trọng hơn, trong các tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng Ấn Độ, Miến Điện và Việt Nam, Bắc Kinh luôn luôn giữ lập trường cho rằng ranh giới trên bộ của họ chưa bao giờ được xác định, phân giới cắm mốc. Nhưng bây giờ, khi nói đến các đảo, bãi ngầm, và các rạn đá trong vùng biển Đông, Bắc Kinh lại tuyên bố khác đi. Nói cách khác, TQ tuyên bố rằng ranh giới trên bộ của họ chưa bao giờ được xác định và phân giới trong lịch sử trái ngược hẳn với lập trường rằng biên giới trên biển của TQ luôn luôn xác định và có phân giới rạch ròi. Mâu thuẫn cơ bản trong lập trường của TQ về biên giới trên bộ và biên giới trên biển nằm ở đây, nên nó không đứng vững được. Trên thực tế, chính những nỗ lực hồi giữa thế kỷ XX nhằm chuyển đổi các đường biên giới không xác định của các nền văn minh và vương triều xưa kia hưởng quyền bá chủ thành các đường biên giới xác định rạch ròi, giới hạn, và có phân giới của các nhà nước – dân tộc hiện đại thưc thi chủ quyền nằm ở trung tâm của các tranh chấp lãnh thổ và biển của TQ với các nước láng giềng. Nói một cách đơn giản, chủ quyền là một khái niệm hậu đế quốc gắn với nhà nước-dân tộc, không phải với các đế chế xưa kia.
Khái niệm về chủ quyền không phải là một khái niệm của TQ hoặc của châu Á mà là một khái niệm của châu Âu bắt nguồn với việc ký kết Hiệp ước Westphalia năm 1648. Chủ yếu là một khái niệm cho đất liền và mãi cho tới giữa thế kỷ XX mới áp dụng cho các nhà nước – dân tộc ở châu Á và châu Phi. Hệ thống nhà nước Westphalia dựa trên khái niệm về sự bình đẳng pháp lý hay chủ quyền quốc gia đối với biên giới xác định rõ ràng ngoài cùng phân biệt chính nó không những với chế độ phong kiến cũ ở châu Âu mà còn với các hình thức quyền bá chủ khác đã tồn tại vào thời điểm đó ở châu Á – Ba Tư, TQ và Ấn Độ. Trước khi có Hiệp ước Westphalia, các vương triều và đế chế ở châu Âu và các nơi khác không thể tuyên bố hoặc thực thi chủ quyền.
Lịch sử, như được biết đến, được viết bởi người chiến thắng, không phải bởi kẻ bại trận. Biên giới hiện tại của TQ phần lớn phản ánh những ranh giới được thiết lập trong thời hoàng kim của chủ nghĩa bành trướng nhà Thanh (Mãn Châu) thế kỷ XVIII, mà qua thời gian đã được kiên cố hoá thành biên giới quốc gia cố định (ngoại trừ Ngoại Mông, chủ yếu vì Liên Xô) theo sự áp đặt của hệ thống nhà nước – dân tộc Westphalia trên toàn châu Á trong thế kỷ XIX và XX. Tuy nhiên, lịch sử chính thống của TQ ngày nay thường bóp méo giai đoạn lịch sử phức tạp này, tuyên bố rằng người Mông, Tạng, Mãn, và Hán đều là người TQ, trong khi thật ra Vạn Lý Trường Thành được các triều đại TQ xây lên để bảo vệ Trung Hoa Hán tộc trước sự xâm lấn thường xuyên của người Mông Cổ và các bộ tộc Mãn Châu phía Bắc, bức tường thành này thực sự thể hiện vòng an ninh bên ngoài của đế chế Trung Hoa Hán tộc. Trong khi hầu hết các nhà sử học coi sự càn quét của các đoàn quân Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo trong những năm đầu thế kỷ XIII như một sự kiện phá hoại lớn đe dọa sự sống còn của các nền văn minh xưa ở Ấn Độ, Ba Tư, và các nước khác, người TQ lại cỗ võ một cách có ý thức huyền thoại cho rằng ông ta thực sự là người “TQ”, và do đó tất cả các khu vực mà người Mông Cổ (nhà Nguyên) đã từng chiếm đóng hoặc chinh phục (như Tây Tạng và phần lớn Trung và Nội Á) đều thuộc về TQ bằng cách vận dụng khái niệm về chủ quyền của phương Tây hồi thế kỷ XVI trở ngược lại cho châu Á thế kỷ XII. Các yêu sách của TQ đối với Đài Loan và biển Đông cũng dựa trên cơ sở là cả hai đều là bộ phận của đế chế Mãn Châu. (Trên thực tế, trong các bản đồ nhà Thanh hay Mãn Châu, chính đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được mô tả như là ranh giới cuối cùng phía nam của TQ). Trong phiên bản lịch sử này, bất kỳ lãnh thổ nào bị “người TQ” chinh phục trong quá khứ vẫn cứ luôn là của TQ, bất chấp cuộc chinh phục xảy ra vào lúc nào.
Việc viết và viết lại lịch sử từ góc độ dân tộc chủ nghĩa như thế để tăng cường sự đoàn kết dân tộc và tính chính đáng của chế độ đã được các nhà lãnh đạo của TQ cả phe Quốc dân đảng lẫn Cộng sản dành ưu tiên cao nhất. Lãnh đạo Đảng Cộng sản TQ tự xử sự một cách có ý thức như là người thừa kế di sản của đế chế TQ, thường sử dụng các biểu tượng và lối ăn nói của đế chế. Từ sách giáo khoa tiểu học cho đến các bộ phim truyền hình về lịch sử, hệ thống thông tin do nhà nước kiểm soát nhồi nhét các thế hệ người TQ về sự oai phong, vĩ đại của Trung Hoa đế chế. Như nhà Hán học Úc Geremie Barmé chỉ ra: “Trong nhiều thập kỷ, nền giáo dục và tuyên truyền TQ đã nhấn mạnh vai trò của lịch sử trong sự phát triển của nhà nước – dân tộc TQ … Trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao đã bị vứt bỏ hết chỉ còn cái tên thì vai trò của lịch sử trong tương lai của TQ vẫn kiên định”. Cứ như vậy đến nỗi lịch sử đã được các viện nghiên cứu, các phương tiện truyền thông và các cơ quan giáo dục do nhà nước điều khiển thêu dệt thành một công cụ lãnh đạo nhà nước (còn được gọi là “xâm lược bản đồ”).
TQ sử dụng chuyện dân gian, thần thoại, truyền thuyết, cũng như lịch sử để cổ suý yêu sách lãnh thổ trên bộ và trên biển lớn hơn. Sách giáo khoa TQ thuyết giáo khái niệm Vương triều Trung tâm (Trung Hoa) như là nền văn minh lâu đời nhất và tiên tiến nhất nằm ngay tại trung tâm của vũ trụ, bao quanh bởi các nước nhỏ hơn bị Hoa hóa một phần trong khu vực Đông và Đông Nam Á, các nước này phải liên tục cúi đầu thần phục họ. Phiên bản lịch sử TQ thường cố tình làm lu mờ sự phân biệt giữa những cái không gì khác hơn là ảnh hưởng bá quyền, mối quan hệ triều cống, quyền bá chủ với sự kiểm soát thực tế. Tán đồng quan điểm cho rằng những ai làm chủ được quá khứ sẽ khống chế hiện tại và vạch hướng cho tương lai, Bắc Kinh luôn luôn đặt cược rất cao vào “con bài lịch sử” (thường là một cách giải thích xét lại lịch sử) trong các nỗ lực ngoại giao của mình nhằm đạt được mục tiêu của chính sách đối ngoại, nhất là để bắt các nước khác nhượng bộ lãnh thổ và ngoại giao. Hầu như tất cả các nước tiếp giáp, lúc này hay lúc khác, đều bị sức mạnh vũ lực của TQ đụng đến – Mông Cổ, Tây Tạng, Miến Điện, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Việt Nam, Philippines, và Đài Loan – và đều là đối tượng cho lịch sử xét lại của TQ. Như Martin Jacques lưu ý trong cuốn When ChinaRules the World (Khi TQ thống trị thế giới) “Chủ nghĩa Hoa vi trung đế quốc định hình và là nền tảng cho chủ nghĩa dân tộc TQ hiện đại”. Nếu không được kiểm soát, sự kiêu căng đế quốc hoặc lòng luyến tiếc quay về quá khứ có thể có những hậu quả không thể đoán trước cho hòa bình và ổn định khu vực.
Nếu ý tưởng về chủ quyền quốc gia xuất hiện ở châu Âu thế kỷ XVII và hệ thống đó bắt nguồn từ Hiệp ước Westphalia, thì ý tưởng về chủ quyền trên biển chủ yếu là khái niệm do Mỹ đặt ra giữa thế kỷ XX mà TQ đã vơ vào để mở rộng biên giới biển của mình. Như Jacques lưu ý, “Ý tưởng về chủ quyền trên biển là một phát minh tương đối gần đây, bắt đầu từ năm 1945 khi Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ có ý định thực hiện chủ quyền đối với lãnh hải của họ”. Trong thực tế, Công ước LHQ về Luật Biển thể hiện nỗ lực quốc tế nổi trội nhất nhằm áp dụng các khái niệm về chủ quyền trên đất liền vào lĩnh vực biển trên toàn thế giới – tuy vậy điều quan trọng là nó bác bỏ ý tưởng biện minh bằng quyền lịch sử. Vì vậy, mặc dù Bắc Kinh yêu sách khoảng 80% biển Đông là “vùng nước lịch sử” (và hiện đang tìm cách nâng yêu sách này lên thành một “lợi ích cốti” ngang với các yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan và Tây Tạng), nói theo lịch sử, nếu TQ có quyền yêu sách biển Đông tới mức nào thì Mexico cũng có quyền yêu sách sử dụng độc quyền vịnh Mexico, hoặc Iran đòi Vịnh Ba Tư, hay Ấn Độ đòi Ấn Độ Dương đến mức đó. Nói cách khác, chẳng có chủ quyền gì cả. Theo quan điểm pháp lý, “việc tên gọi ‘biển Nam Trung Hoa’ được sử dụng nhiều không [có ý] trao chủ quyền lịch sử cho TQ“. Các nước sử dụng lịch sử để yêu sách chủ quyền đối với các đảo đều có sự đồng ý của nước khác và có cách giải thích lịch sử được các bên chấp nhận – cả hai yếu tố này đều không có ở Biển Đông.
 Các đế chế xưa hoặc giành được quyền kiểm soát vùng lãnh thổ thông qua xâm lược, thôn tính hay đồng hóa hoặc để mất chúng vào tay đối thủ có binh lực hoặc khả năng cai quản nhà nước ưu việt hơn. Mở rộng và thu hẹp lãnh thổ là chuẩn mực, được xác định bởi sự hùng mạnh hay sự suy yếu của một vương triều hay đế chế. Ý tưởng “lãnh thổ thiêng liêng” là phi lịch sử bởi vì việc kiểm soát lãnh thổ thì dựa trên việc nước nào tóm được hoặc lấy cắp những gì thuộc nước khác cuối cùng. Biên giới của nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Minh khi nở khi co suốt trong lịch sử. Một Trung Hoa đế chế hùng mạnh, giống như nước Nga Sa hoàng, là kẻ bành trướng ở vùng Nội Á và Đông Dương mỗi khi cơ hội xuất hiện và sức mạnh cho phép. Việc bành trướng lãnh thổ dần dần qua nhiều thế kỷ dưới hai triều đại không Trung Hoa là Mông Cổ và Mãn Châu mở rộng sự kiểm soát của triều đình TQ đối với Tây Tạng và nhiều vùng đất ở Trung Á (nay là Tân Cương), Đài Loan và Đông Nam Á. Trên thực tế, TQ hiện đại là một “nhà nước-đế chế” đội lốt một nhà nước-dân tộc.
Ngay cả khi người ta phải chấp nhận lập luận “yêu sách lịch sử” của Bắc Kinh cho một thời điểm thì vấn đề lại là đế chế Trung Hoa không phải là đế chế duy nhất ở châu Á thời tiền hiện đại và trên thế giới. Còn có các đế chế và vương triều khác nữa. Nhiều nước có thể đưa ra “yêu sách lịch sử” có cùng giá trị như thế đối với những vùng đất hiện nay không phải là phần lãnh thổ của họ mà đang đặt dưới sự kiểm soát của TQ (ví dụ , vùng Cam Đa (Gando) ở tỉnh Cát Lâm, TQ thuộc về Triều Tiên) . Trước thế kỷ XX, ở châu Á không có nhà nước – dân tộc có chủ quyền với biên giới thuộc thẩm quyền và trong tầm kiểm soát được xác định về mặt pháp lý rõ ràng. Nếu các yêu sách của TQ biện minh được trên cơ sở lịch sử, thì các yêu sách lịch sử của Việt NamPhilippines dựa trên lịch sử cũng biện minh được. Ví dụ, các sinh viên lịch sử châu Á đều biết rằng dân MaLaysia có liên hệ đến người Philippineshiện nay nên yêu sách của họ đối với Đài Loan sẽ thuyết phục hơn nhiều so với Bắc Kinh. Bởi vì Đài Loan ban đầu được định cư bởi con cháu những người Malay-Polynesian – tổ tiên của các nhóm thổ dân ngày nay – họ từng sống ở vùng đồng bằng thấp ven biển. Nhà quan sát Châu Á nổi bật Philip Bowring lập luận rằng “[s]ự kiện TQ có những ghi chép lịch sử lâu dài không làm mất hiệu lực lịch sử các quốc gia khác thể hiện qua các hiện vật, ngôn ngữ, dòng giống và các quan hệ di truyền, các bằng chứng về giao thương và đi lại”.
Trừ khi tán đồng khái niệm về ngoại lệ của TQ, “yêu sách lịch sử” của TQ đế chế có giá trị giống như những vương triều và đế chế khác trong khu vực Đông Nam và Nam Á. Vấn đề với lịch sử là vạch ra lằn ranh ở đâu, lúc nào, tại sao thế, và quan trọng hơn là phiên bản lịch sử của nước nào là chính xác. TQ đưa ra yêu sách về quyền sở hữu đối với thuộc địa của đế chế Mông Cổ và Mãn Châu sẽ tương tự như Ấn Độ đưa ra yêu sách đối với Afghanistan, Bangladesh, Miến Điện, Malaysia (Srivijaya), Nepal, Pakistan và Sri Lanka trên cơ sở rằng tất cả các nước này đều bộ phận hoặc của đế chế Maurya, Chola hoặc của đế chế Moghul và đế quốc Ấn Độ thuộc Anh. Suốt từ thể kỷ X tới thế kỷ XIII, một số vị vua của Pallava và Chola ở miền nam Ấn Độ đã tập hợp lực lượng hải quân và quân đội lớn lật đổ các vương triều lân cận và thực hiện các cuộc tấn công trừng phạt đối với các nước trong khu vực vịnh Bengal . Họ cũng đã ra biển để chinh phục nhiều khu vực thuộc những vùng đất mà bây giờ là Sri Lanka, MalaysiaIndonesia. Trong nghiên cứu về văn hóa chiến lược Ấn Độ, George Tanham nhận xét: “Trong cái thực sự là một cuộc chiến về thương mại giữa TQ, Ấn Độ và châu Âu, người Cholas đã khá thành công trong các can dự cả về hải quân lẫn đất đai và đã cai trị nhiều phần của Đông Nam Á trong một thời gian ngắn”.
Các yêu sách của TQ ở biển Đông cũng đánh dấu một sự chuyển đổi lớn khỏi định hướng địa chính trị lâu đời đối với cường quốc lục địa. Với việc tuyên bố có một truyền thống mạnh mẽ về đi biển, TQ đề cập nhiều cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương và Châu Phi đầu thế kỷ XV. Nhưng, như Bowring chỉ ra rằng ”Trong lĩnh vực hàng hải bên ngoài vùng nước ven biển thì người TQ thực sự là kẻ đi sau. Trong nhiều thế kỷ, các bậc thầy của các đại dương là dân Malay-Polynesian, những người từng thuộc địa hóa phần lớn thế giới, từ Đài Loan đến New Zealand và Hawaii về phía nam và phía đông , rồi Madagascar về phía tây. Các chum đồng đã được giao thương với Palawan, ngay phía nam của Scarborough vào thời của Khổng Tử. Khi những nhà tu Phật giáo TQ như Pháp Hiển (Faxian) đi Sri Lanka và Ấn Độ vào thế kỷ V, họ đã đi trên tàu do người MaLaysia sở hữu và điều khiển. Tàu từ vùng mà nay là Philippines đã giao thương với Phù Nam, một nước hiện nay là miền Nam Việt Nam, cả ngàn năm trước nhà Nguyên”.
Và cuối cùng, cái gọi là “yêu sách lịch sử” của TQ đối với biển Đông thực sự không phải là “hàng thế kỷ”. Các yêu sách này chỉ bắt đầu từ năm 1947, lúc chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch vẽ ra cái gọi là “đường 11 đoạn” trên bản đồ biển Đông của TQ, bao quanh quần đảo Trường Sa và các chuỗi đảo khác mà Quốc Dân Đảng cầm quyền tuyên bố thuộc chủ quyền TQ. Chính Tưởng Giới Thạch, khi nói rằng đã xem phát xít Đức như một mô hình cho TQ, đã bị cuốn hút bởi ý tưởng Nazi (Quốc xã) về một Lebensraum (“không gian sống”) mở rộng cho dân tộc Trung Hoa. Ông đã không có cơ hội để tự mình thành kẻ theo chủ nghĩa bành trướng bởi vì người Nhật buộc ông vào thế phòng thủ, nhưng những người vẽ bản đồ của chế độ Quốc dân đảng đã vẽ đường chữ U 11 đoạn trong cố gắng để mở rộng “không gian sống” của TQ ở biển Đông chẳng bao lâu sau khi Nhật thua trận trong Thế chiến II. Rõ ràng, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cũng đã tức giận về các bản đồ thời Thế chiến II của Nhật Bản cho thấy toàn bộ biển Đông như một cái hồ của Nhật Bản. Lần đầu tiên chính phủ TQ cho tàu hoạt động đi vào vùng biển Đông là vào năm 1947 với chuyến đi của các tàu Trung Hoa Dân Quốc Trung Kiện (Zhongjian), Trung Nghiệp (Zhongye) Thái Bình (Taiping và Vĩnh Hưng(Yongxing.) Mãi đến nhiều năm sau đó họ mới bắt đầu việc khảo sát. Sau khi Đảng Cộng sản TQ chiến thắng trong cuộc nội chiến vào năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiếp nhận cú xâm lược bản đồ này, chỉnh lại khái niệm của Tưởng Giới Thạch thành “đường 9 đoạn” sau khi xóa hai đoạn ở Vịnh Bắc Bộ năm 1953 thể hiện cả những chỗ mà chính phủ THDQ chưa từng đến. Cho mãi tới năm 2005 , bản đồ bãi cạn Scarborough do Hải quân PLA công bố chỉ là một bản sao y từng dữ liệu một của bản đồ Hải quân Mỹ (cảm ơn Barney Moreland đã cung cấp cho tác giả thông tin này).
Từ khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc, TQ đã vẽ lại bản đồ của họ, xác định lại biên giới, tạo dựng bằng chứng lịch sử, sử dụng vũ lực để tạo ra các thực thể lãnh thổ mới, đặt tên lại các đảo, và tìm cách áp đặt phiên bản lịch sử của mình lên các vùng biển trong khu vực. Nặm 1972 họ thông qua “Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải”, tuyên bố chủ quyền 4/5 biển Đông, tiếp sau là những cuộc đụng độ vũ trang với hải quân Philippines và Việt Nam trong suốt những năm 1990. Gần đây hơn, họ phái một số lượng lớn tàu cá và tàu hải giám đến vùng biển tranh chấp theo cái tương tự như cuộc “chiến tranh nhân dân trên vùng biển quốc tế” đã làm tăng căng thẳng nhiều hơn. Trích lời bình luận Sujit Dutta, “chủ thuyết phục hồi lãnh thổ không suy giảm của TQ dựa trên … lý thuyết rằng vùng ngoại vi phải được chiếm cứ để đảm bảo an toàn cho vùng lõi. [Điều này] là một khái niệm cơ bản thời đế chế đã được phe dân tộc chủ nghĩa TQ – cả Quốc Dân Đảng lẫn Cộng sản – quốc tế hóa. Những nỗ lực của chế độ [hiện nay] để vươn tới biên giới địa lý theo họ tưởng tượng thường có cơ sở lịch sử ít ỏi và tiếp tục có hậu quả chiến lược bất ổn cao”.
Rõ ràng, một lý do mà dân Đông Nam Á cảm thấy khó chấp nhận yêu sách lãnh thổ của TQ là điều đó sẽ có nghĩa là chấp nhận ý niệm về sự ưu việt của chủng tộc Hán hơn các chủng tộc và đế chế châu Á khác. Jay Batongbacal thuộc trường Đại học luật Philippines nói: “Một cách trực giác, chấp nhận đường 9 đoạn là một sự chối bỏ tương ứng về bản sắc và lịch sử thật sự của tổ tiên người Việt Nam, Philippines, và Malaysia, thực chất đó là việc hồi sinh trong thời hiện đại sự phỉ báng các sắc dân không TQ là ‘man di’ không được hưởng sự tôn trọng và phẩm giá ngang bằng với tư cách là các dân tộc”.
Tóm lại, các đế chế và vương triều không bao giờ thực thi chủ quyền. “Vấn đề lịch sử” là rất phức tạp và không thừa nhận cách giải thích dễ dãi. Nếu yêu sách lịch sử có giá trị nào đó thì Mông Cổ có thể yêu sách tất cả các khu vực của châu Á đơn giản là vì họ đã từng chinh phục các vùng đất của châu lục này. Hoàn toàn không có cơ sở lịch sử để hậu thuẫn bất cứ yêu sách nào trong những yêu sách đường nhiều đoạn đó, nhất là xét rằng các vùng lãnh thổ của đế chế TQ chưa bao giờ được phân định biên giới kỹ càng như các nhà nước – dân tộc mà chỉ tồn tại như các vùng ảnh hưởng từ một trung tâm văn minh giảm dần đi. Đây là lập trường mà TQ đương đại bắt đầu xác lập vào thập niên 1960 khi đàm phán biên giới trên trên bộ với nhiều láng giềng. Nhưng đó không phải là lập trường của họ hiện nay trong các cuộc chạm trán về bản đồ, ngoại giao và quân sự mức thấp để xác định biên giới.
Việc diễn giải lại liên tục lịch sử để đẩy mạnh các yêu sách chính trị, lãnh thổ trên bộ và trên biển hiện đại, kết hợp với khả năng của giới lãnh đạo Cộng sản kích động hay dập tắt “các cao trào dân tộc chủ nghĩa” giống như tắt mở một khoá nước trong những thời điểm có căng thẳng với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Philippines, khiến Bắc Kinh khó trấn an các nước láng giềng rằng “sự trỗi dậy hòa bình” của họ là hoàn toàn hòa bình. Chấp nhận phiên bản lịch sử của TQ được xem như tương đương với chối bỏ lịch sử của các nước khác và ý niệm bình đẳng về chủ quyền của các nhà nước – dân tộc. Do có sáu bên yêu sách các đảo san hô vòng, đảo thường, đảo đá, và các mỏ dầu ở biển Đông, các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, tự bản chất, là những tranh chấp đa phương đòi hỏi phân xử qua trọng tài quốc tế. Nhưng việc Bắc Kinh một mực đòi theo cách tiếp cận song phương để giải quyết tranh chấp chủ yếu dựa vào niềm tin rằng Bắc Kinh có thể thành công do sức mạnh tương đối lấn lướt của TQ và sự chia rẽ của ASEAN. Tuyên bố của TQ về “chủ quyền không thể tranh cãi đối với biển Đông” có nguồn gốc vào cuối thập niên 1940 – chứ không phải trong lịch sử xa xưa – đặt ra một thách thức đối với tất cả các quốc gia biển.
Mohan Malik là giáo sư thuộc Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương về Nghiên cứu An ninh, Honolulu. Đây là những quan điểm cá nhân của tác giả và không phản ánh quan điểm của Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương. Một phiên bản trước, ngắn hơn xuất hiện trong World Affairs, tháng5 / 6 năm 2013. Gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Carleton Cramer, Carlyle Thayer, Justin Nankivell, Denny Roy và Barney Moreland vì nhừng  ý kiến và góp ý vô giá.
(Nguồn:  Ba Sàm  )
---------------

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Việt Nam sẽ thay thế toàn bộ Mig-21 bằng JAS-39 Gripen

… Hiện JAS 39 Gripen đã có 5 biến thể. Tốc độ tối đa của nó là 2 Mach (gần 2500km/h). Về trang bị vũ khí, JAS 39 Gripen lắp 1 pháo Mauser BK-27-27mm, 6 tên lửa AIM-9 Sidewinder IRIS-T cùng  4 tên lửa AIM-120 hoặc MICA hay Meteor.
JAS 39 Gripen cũng lắp được tên lửa AGM-65 Maverick cùng nhiều loại bom điều khiển laser, rocket…
Gripen được thiết kế để trở thành loại máy bay chiến đấu có khả năng thao diễn cao, linh động, hiệu quả và khả năng tồn tại cao. Tên định danh JAS là viết tắt của Jakt (Không đối không), Tấn công (Không đối đất), và Spaning (Trinh sát), thể hiện rằng Gripen là một máy bay đa nhiệm vụ có thể đảm nhận các loại phi vụ. Gripen được đặt tên sau một cuộc thi công khai năm 1982. Con sư tử đầu chim là huy hiệu trên logo của Saab và thích hợp với các đặc tính đa nhiệm vụ của chiếc máy bay này. Hơn nữa, sư tử đầu chim là con vật biểu tượng của Södermanland, một tỉnh cận kề nơi đóng trụ sở chính của SaabAB (Linköping, Östergötland)….
                  >> Đọc tiếp/Nguồn  
---------------

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Trung Quốc 'leo thang'...

1- Biển Đông nổi sóng đánh thức lòng yêu nước của mỗi người”
Đúng như Bác Hồ từng nói: Khi hòa bình lòng yêu nước được cất trong rương trong hòm, khi đất nước hữu sự, lòng yêu nước ấy được thể hiện, bùng lên mạnh mẽ…
Mặc dù ít được chú ý bởi giới phân tích nước ngoài nhưng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gần đây rõ ràng đã phát đi tín hiệu thể hiện mong muốn làm dịu nhẹ các cuộc tranh chấp ở Biển Đông và biển Hoa Đông…
              >> Đọc tiếp/Nguồn  
---------------

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

Trung Quốc ngang ngược...


… Giới phân tích nghi nhận thêm là Trung Quốc không còn tôn trọng tình trạng nguyên thủy trong vùng biển đảo có tranh chấp chủ quyền.
Năm 2012, hải quân Trung Quốc đã ngang nhiên đánh chiếm bãi đá ngầm Scarborough của Philippinesmà họ gọi là Hoàng Nham.
Năm nay, Trung Quốc phô trương chương trình du lịch tại Tây Sa tức là đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cùng lúc đó, trên các trang mạng quân sự, Trung Quốc cố ý cho thấy một góc của một hàng không mẫu hạm mới trong một công xưởng gần Thượng Hải. Chuyên gia của tạp chí quốc phòng Anh Jane’s nghĩ rằng đây là một đoạn vỏ tàu nhưng cũng có thể là mẫu mô hình.
Tham vọng và những động thái xác định tham vọng này của Trung Quốc đã gây lo ngại cho nhiều nước trong khu vực và mở đầu cho một kế hoạch võ trang khẩn cấp để phòng thủ biển đảo.

                         >> Đọc tiếp/Nguồn  
----------------

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Tréo ngoe như ông Tập !?

 
… Tuyên bố của ông Tập Cận Bình ngày 30/7 về việc xây dựng TQ thành cường quốc về biển, nội dung đó không có gì khác so với những điều TQ trước đây vẫn nói. Trước đây TQ từng nhiều lần nói rằng họ muốn thúc đẩy, phát triển thành cường quốc về biển, biển đối với họ ngày càng có vị trí quan trọng trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ. 
Ông Tập Cận Bình nêu ra phương châm này với ngôn từ mạnh mẽ hơn, rõ ràng hơn so với những gì lãnh đạo TQ trước đây đã nói: "Chủ quyền thuộc TQ, gác tranh chấp, cùng hợp tác". Động thái này cần hết sức đáng lưu ý trong tình hình hiện nay. Điều đó cho thấy chiến lược độc chiếm Biển Đông thành ao nhà của TQ vẫn không có gì thay đổi, thậm chí đang được đẩy mạnh. Trong 17 năm qua, tôi theo dõi thấy rằng có lúc này lúc khác TQ không nhắc tới vế “chủ quyền thuộc TQ”, chỉ nhắc vế gác tranh chấp cùng khai thác, thậm chí có lúc chỉ nhắc “cùng khai thác”…
                       >>  Đọc tiếp/Nguồn   
----------------

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

“TỰ TRÓI” GIỮA BIỂN ĐÔNG?

* BÙI VĂN BỒNG
Việc Trung Quốc chuẩn bị xua hàng chục nghìn tàu cá ‘vơ vét’ hải sản  trên Biển Đông đang gây dư luận ở khu vực và trên thế giới. Theo tin từ Nam Phương Nhật báo, khoảng 9.007 tàu đánh cá của tỉnh Hải Namđã kết thúc giai đoạn sửa chữa và  sẽ  tiến vào Biển Đông trong vài ngày tới.
Tờ báo còn loan tin các tàu thuyền trên vùng biển duyên hải Quảng Đông (Trung Quốc) rất dày đặc nên sẽ có nhiều tàu cá ra biển đánh bắt ngay khi lệnh cấm kết thúc. Kế hoạch xâm lấn Biển Đông này một lần nữa cho thấy những tuyên bố “thực hiện đúng DOC” và “đang thúc đẩy ký kết COC” từ các quan chức của chính quyền Bắc Kinh không đi đôi với hành động của họ, nhất là khi chỉ còn một tháng nữa, Trung Quốc và ASEAN sẽ tiếp tục có cuộc họp cấp cao để đàm phán về việc ký kết Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông.
            >> Trung Quốc với phương châm…
            >>  Bản đồ không có Hoàng Sa, Trường Sa   
             >> Trong lộ trình…
           Trước đó, bắt đầu từ tháng 7/2013 Trung Quốc chính thức thống nhất 4 lực lượng công vụ bán vũ trang trên biển thành Cảnh sát biển Trung Quốc với số lượng hùng hậu nhất từ trước đến nay và được trang bị vũ khí, phương tiện mạnh hơn để thực hiện cái gọi là tuần tra, chấp pháp ở các vùng biển tranh chấp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông. Trong mấy tháng qua hàng trăm chiếc tàu tuần tra của các lực lượng này đã được sơn lại, một số tàu được trang bị vũ khí hạng nặng và tất cả nhân viên thay đồng phục Cảnh sát biển - một lực lượng bán quân sự. Trung Quốc đã sơn lại toàn bộ các tàu Hải giám, Ngư chính, Hải quan và Cảnh sát biển thành một loại thống nhất, Cảnh sát biển Trung Quốc, sơn trắng, 1 sọc đỏ đậm 4 sọc xanh lam nghiêng trên thân tàu cho "hợp tiêu chuẩn quốc tế. Một phần của chiến lược nguy hiểm này, trong năm nay Trung Quốc bắt đầu thực thi các quy định mới (vô lý, phi pháp và do Bắc Kinh tự đặt ra) cho phép tàu Cảnh sát biển Trung Quốc hộ tống, hoặc trục xuất tàu nước ngoài trên hầu hết các khu vực thuộc Biển Đông.
Một động thái khác, theo Reuters, hai tập đoàn dầu khí của Trung Quốc này sẽ khai thác lô 35/10 tại Bể Sông Hồng trên Biển Đông với tổng diện tích 3.427km 2 và nằm ở độ sâu từ 80-110m dưới mực nước biển. Trong đó, Shell sẽ tiến hành khảo sát địa chất và chịu mọi chi phí trong giai đoạn thăm dò. Tỷ lệ ăn chia của lô hợp đồng này là 51% dành cho CNOOC và 49% dành cho Shell. Đây là khu vực nằm ở phía bắc Biển Đông, thuộc Vịnh Bắc Bộ, có dạng hình thoi kéo dài từ miền võng Hà Nội ra Vịnh Bắc Bộ và vùng biển miền Trung nước ta.
            Mới hôm qua (1-8), Chi cục Hải quan sân bay Quốc tế Đà Nẵng phát hiện và ngăn chặn kịp thời nhiều vụ người Trung Quốc mang váo Việt Nam bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” phi pháp, các ân phẩm in ‘thành phố Tam Sa’, ấn phẩm in hình bản đồ Việt Nam không có Hoàng Sa, Trường Sa. Theo Chi cục Hải quan Sân bay quốc tế Đà Nẵng, các ấn phẩm và bản đồ nêu trên thể hiện sai chủ quyền quốc gia Việt Nam, vi phạm quy định hoạt động báo chí, xuất bản và xuất nhập khẩu văn hóa phẩm. Hiện cơ quan chức năng lập biên bản tạm giữ toàn bộ ấn phẩm, bản đồ trên và tiếp tục xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
            Thời gian gần đây, Trung Quốc triển khai nhiều kế hoạch “cùng khai thác”, không chỉ với Việt Nam mà còn với một số nước khác có lãnh hải trên Biển Đông. Ai cùng biết, khai thác chung, hoặc “gác tranh chấp cùng khai thác” là một trong chiến lược “Ba bước lấn tới” (chiến lược 'Sói gửi chân') của Trung Quốc, khai thác chung rồi chiếm luôn, nằm trong sách lược “xâm lược mềm”, âm mưu “bất chiến tự nhiên thành”...
Hôm thứ Tư 31/7, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói Trung Quốc muốn gác tranh chấp, cùng khai thác, nhưng tái khẳng định chủ quyền đối với phần lớn Biển Đông. Kênh truyền hình trung ương của Trung Quốc dẫn lời ông Tập nói: "Chúng ta cần nhắc lại rằng chủ quyền thuộc về chúng ta, nhưng chúng ta có thể gác tranh chấp, cùng khai thác, thúc đẩy hợp tác hữu nghị và cùng có lợi, tìm kiếm và mở rộng các lợi ích chung".
Việt Nam và Philippines là hai nước đang trực tiếp liên quan tới các tranh chấp gay gắt ở Biển Đông với Trung Quốc. Philippines đang phải giải quyết tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông. Ông del Rosario cho hay Philippines và Việt Nam có chung quan điểm không chấp thuận dự án chung như thăm dò khai thác dầu khí với Trung Quốc nếu như Bắc Kinh tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với các vùng biển này.
            Phân tích về Tuyên bố chung Việt-Trung ký ngày 21-6, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Về vấn đề trên biển, … hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của chúng ta, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta được xác nhận theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982. Phía Trung Quốc hoàn toàn không có gì, cái “lưỡi bò” do chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc tự vẽ không có giá trị, không được quốc tế thừa nhận, Trung Quốc chỉ to mồm tuyên bố khống chủ quyền gần hết biển Đông (trước đây gọi là biển Nam Trung Hoa). Họ không có gì lại đòi “hai bên đều có thể chấp nhận được”. Thật vô lý!
“…Nay trong bản tuyên bố chung, Trung Quốc ghi được: “thỏa thuận giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc thiết lập đường dây nóng về các việc phát sinh đột xuất của nghề các trên biển… xử lý thỏa đáng các vụ việc phát sinh đột xuất… phù hợp với quan hệ hai nước”; “sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng…”.
 “Phối hợp” có nghĩa là đồng ý với những chủ trương của Trung Quốc. Trong các diễn đàn nói trên, các nước như Philippines, Malaysia, Singapore, Brunei thường nêu việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của họ, họ đặt vấn đề không dùng vũ lực, sớm hoàn thiện và ký COC. Trong khi đó, vì “phối hợp” nên Trung Quốc cản được Việt Nam không nói gì đến thái độ và hành động của họ ở biển Đông, lĩnh vực mà trung Quốc ở thế yếu về chính trị và pháp lý trước dư luận…Việt Nam là nạn nhân chính trong vấn đề biển Đông mà không nêu ý kiến gì khiến các nước ASEAN có liên quan nghi ngờ thái độ của Việt Nam, ảnh hưởng đến sự đoàn kết thành một khối vững chắc giữa các nước bị xâm phạm chủ quyền để đối phó với chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc. Rõ ràng là bản “Tuyên bố chung” hoàn toàn lợi cho Trung Quốc còn phía ta lại bị ràng buộc bởi nhiều điểm trong các mục...
            Phân tích của tướng Nguyễn Trong Vĩnh trên đây rất đúng. Rõ ràng những câu chữ như thế này trong Tuyên bố chung có lợi cho ai? Và Việt Nam ký tức thì khác nào tự lấy dây trói mình: “Hai bên hoan nghênh Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa doanh nghiệp hữu quan hai nước, nhất trí mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận, kéo dài thời hạn thỏa thuận, cùng nhau thúc đẩy hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ sớm đạt được tiến triển tích cực…Trước khi tranh chấp trên biển được giải quyết dứt điểm, hai bên nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp đồng thời sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt-Trung”…
           Sau Tuyên bố chung, Trung Quốc triển khai nhanh và đồng loạt nhiêu hoạt động âm lấn Biển Đông. Phải chăng, cần nhận diện: Với tuyên bố chung, Việt Namdang “tự trói mình” một cách rất “hào phóng”, vô tư và mất cảnh giác trên Biển Đông?
BVB
------------------