Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

SUY NGẪM VỀ THỜI CUỘC - Phần 13

    
 * NGUYỄN TRUNG
(tiếp theo - Phần 13)
... Hiện tượng mới này có thể đặt Việt Nam trước 2 tình huống:
(1) Có thể khai thác yếu tố Nga để giảm bớt sự căng thẳng cho ta trong việc giữ cân bằng giữa hai đối trọng Mỹ - Trung? và
(2) Phải chăng việc ta thực hiện cân bằng giữa 2 đối trọng Mỹ - Trung sẽ có thêm những khó khăn mới, nếu Nga cùng đi với Trung Quốc như đang làm trong vấn đề Syrie?
(Chú ý: Kịch bản Nga đi với Mỹ trong chiến lược “trục xoay” của Mỹ hoàn toàn loại trừ trong bối cảnh quốc tế hiện nay).
Suy cho cùng, cả 2 tình huống (1, 2) này chẳng lợi lộc gì cho nước ta. Hơn nữa, nước ta hầu như không thể có ảnh hưởng gì trong trò chơi tay ba này, kể cả trường hợp ta lựa chọn đối sách đi với một bên nào đó (dù là Nga). Cũng không thể loại trừ trò chơi tay ba này mang đến cho nước ta những vấn đề nhạy cảm và khó khăn mới. “Đi” với ai, trong trò chơi này, thân phận nước bên thứ ba đối với nước ta vẫn là một ác mộng.
          > Phần 1 ; Phần 2; Phần 3; Phần 4; Phần 5; Phần 6; Phần 7; Phần 8 ; 
Có thể tình huống 1 ở chừng mực nhất định có lợi cho Việt Nam – ví dụ như hiện nay Nga đang là người bán cho Việt Nam nhiều vũ khí quan trọng, quan hệ với Việt Nam có một bề dầy lịch sử được nhân dân cả hai bên trân trọng, vân vân… Song hiển nhiên những mối quan hệ Việt - Nga có quá khứ tốt đẹp này làm sao có thể so sánh được với tầm quan trọng của việc Nga đang muốn phục hồi vị thế cường quốc trước đây của mình. Nếu hình thành một trục Nga – Trung trong những vấn đề ở Bắc Phi (hiện nay đang manh nha trong vấn đề Syrie), liệu việc Việt Nam đi với Nga như thế sẽ có những hệ lụy gì? Hiện nay Nga đã đồng ý bán những vũ khí tối tân cho Trung Quốc như tên lửa S400, máy bay chiến đấu SU – 35… Vũ khí Nga bán cho Việt Namkém hiện đại hơn (vì ta ít tiền hay không cần đến?)
Trong tình hình có một kịch bản Syrie ở Biển Đông (Nga đi với Trung Quốc), giả thử Việt Nam lựa chọn đi với một bên kép là Nga - Trung Quốc trong trò chơi tay ba này, hầu như chắc chắn Việt Nam đứng trước một hiểm họa mới khôn lường (là tiền đồn, là khu đệm cho liên kết Nga – Trung trong trò chơi tay ba đầy nguy hiểm này? V… v…). Chẳng lẽ bài học nóng hổi “7 cuộc chiến tranh trong 1 cuộc chiến tranh” hôm qua không nói lên điều gì với nước ta hôm nay?
Có một điều có thể thấy trước: Mối quan hệ giữa các nước lớn càng rối rắm và nhạy cảm, chắc chắn Nga sẽ càng bận bịu hơn nữa chăm lo đến vị thế quốc tế của mình. Và như thế, quan hệ Nga – Việt sẽ chỉ còn nằm lại trong danh mục phụ lục của chính sách đối ngoại Nga mà thôi.
Kịch bản Việt Namđi với Mỹ trong vấn đề Biển Đông nói riêng và trong vấn đề “chiến lược trục xoay” nói chung – dù là có hay không có sự xuất hiện của Nga trong khu vực ĐNA này – cũng không hứa hẹn điều gì tốt đẹp. Vì “đi” như thế, ta sẽ lĩnh đủ đạn từ phía Trung Quốc, lại vẫn là rơi vào cái bẫy đi với một bên chống một bên. Nếu có cả Nga tham gia vào trò chơi này, thì màn kịch sẽ càng rối rắm và không bớt mùi máu trộn thuốc súng dành cho Việt Nam.
              Kịch bản đi với Trung Quốc?
           Đi với Trung Quốc như đã đi gần 70 năm qua? Đi với Trung Quốc như đã và đang đi từ Thành Đô cho đến hôm nay? “Đi” như thế chắc là đủ lắm rồi! Trở thành tiền đồn cho Trung Quốc thì nhân dân ta chắc chắn sẽ bác bỏ quyết liệt, và thế giới cũng sẽ tảy chay. Bây giờ rất cần mối quan hệ láng giềng bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền, tốt đẹp, tự trọng, bền vững đời đời với Trung Quốc, chứ không phải sự mầu mè 4 tốt và 16 chữ...
Muốn được như thế, phải chăng cái dĩ bất biến của Việt Namlà: Nhất thiết phải có bản lĩnh không trở thành nước bên thứ ba trong bất kỳ loại games nào của các ông lớn?  
Kịch bản là nước trung lập đứng ngoài cuộc chơi tay ba của Mỹ, Trung, Nga, hoặc đứng ngoài cuộc chơi tay đôi (trong đó có một bên kép Nga - Trung) không đặt ra cho Việt Nam. Đơn giản vì sẽ chẳng ai chịu để nước ta thoát khỏi thân phận nước bên thứ ba.  Nghĩa là ta có quỳ gối xin được trung lập, chắc thiên hạ cũng không ban cho!
Tóm lại, “đi”  như nói trên với ai cũng không được!
          Trung lập cũng không được!
         Nghĩa là không còn ngả đường nào khác ngoài con đường nước ta đã lựa chọn nhưng chưa làm sao dấn thân bước vào được, đó là: Chính ta cũng phải trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của các đối tác. Đơn giản là làm gì có chuyện bắt tay nhau hay hân hoan vỗ tay bằng một bàn tay!
Xin nói huỵch toẹt ra thế này:
Hiện nay có lẽ Mỹ cũng chưa tin ta, mặc dù ta có vị trí và vị thế chiến lược quan trọng lắm. Thế thì làm sao ta là đối tác hợp tác toàn diện được?.. Vậy ta làm sao thực hiện được vỗ tay hay bắt tay nhau bằng hai bàn tay được – nghĩa là trong đó phải có một bàn tay là của phía Việt Nam?
Hiện nay Trung Quốc cũng ngờ vực ta. Trung Quốc thừa biết 4 tốt và 16 chữ là của rởm. Nhưng nội bộ Trung Quốc đặt câu hỏi: Việt Nam chập chờn? Bắt cá hai tay? Lật lọng? Việt Namcó bản lĩnh, hay khiếp nhược hay vật vờ?.. Báo chí Trung Quốc không dưới một lần nói “Việt Namăn cháo đá bát!”… Nghĩa là Trung Quốc không tin ta, coi thường ta, cũng chẳng sợ ta, cũng chẳng nể nang gì ta, có cơ hội thì còn làm cho ta ê chề nữa…
Vậy có cách gì làm cho cả Mỹ và Trung Quốc phải thay đổi cách suy nghĩ của họ về ta? Phải làm thế nào cho họ hiểu: Có một Việt Nam khác – một Việt Nam tự nó, cho nó, vì nó và vì lẽ phải, vì những giá trị toàn cầu… Đã đến lúc họ phải ứng xử đúng mực với một Việt Nambản lĩnh như thế!..
            Chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thật:
            Việt nam có một vị trí chiến lược địa chính trị và địa kinh tế rất đặc biệt tại Đông Nam Á.
Nhưng trong con mắt của hầu hết những diễn viên chính tại sân khấu CA - TBD, Việt Nammới chỉ được coi là một vị thế công cụ quan trọng.
Bây giờ Việt Namnhất thiết phải chủ đông chiếm được cho mình vị thế đối tác quan trọng và được tôn trọng. Không có sự lựa chọn nào khác.
Vâng, để chiếm được chỗ đứng là đối tác quan trọng trong chính sách đối ngoại của họ, nhất thiết ta phải là một Việt Nam của phẩm giá – được đo bằng những giá trị của dân tộc mình, những giá trị toàn cầu và được thể hiện thành hành động; mọi xảo ngôn chẳng giúp được gì[88].
Một Việt Nambiết tự trọng và muốn tạo ra lòng tin chiến lược (“diễn văn Shengri La”), nước ta nhất thiết phải là như thế, phải làm được như thế.
Cùng nhau vỗ tay hân hoan bạn bè, hay là bắt tay nhau hợp tác, đều phải có đủ hai bàn tay như thế, trong đó Việt Nam phải là một bàn tay như thế.
Ta còn thua kém các đối tác của ta về nhiều phương diện, nhưng vì thế địa kinh tế và địa chính trị của nước ta cho phép ta tham gia và có những đóng góp vào các mối quan hệ chung song phương / đa phương trong khu vực và toàn cầu đủ quan trọng, để ta cũng được thừa nhận là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện.
Nhưng sự thật là hiện nay nước ta đang thiếu trầm trọng bản lĩnh, phẩm chất và trí tuệ để dấn thân trở thành một đối tác như thế, chứ không phải vì nước ta nghèo và lạc hậu. Nói nghiêm khắc, nước ta vẫn chưa ra khỏi cái tâm lý đối phó, chập chờn, ỷ lại, cầu xin, tâm lý mong được giúp, được chi viện![89]
Như vậy hiển nhiên, cái dĩ bất biến là: Phải trở thành một quốc gia có bản lĩnh, phẩm chất và trí tuệ - từ đó sẽ có thực lực để dứt khoát không cam chịu thân phận nước bên thứ ba. Nhưng làm sao Việt Nam trở thành một quốc gia như thế với chế độ chính trị toàn trị hiện hành?[90] Xin mỗi người Việt Nam, trước hết là các đảng viên ĐCSVN, hãy trả lời câu hỏi này.
Một khía cạnh khác: Ngày nay, trên ngôn từ, Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược, quan hệ đối tác toàn diện với tất cả các diễn viên chính trên sân khấu thế giới. Nhưng phải nói ngay, quan hệ thực chất của nước ta với tất cả những đối tác quan trọng này, kể cả với Trung Quốc có “16 chữ và 4 tốt”.., nước ta đều ở vị trí rất thấp trong chính sách đối ngoại của họ, đơn giản vì:
- Về mọi phương diện thế và lực của nước ta đều yếu, đường lối đối ngoại chập chờn của ta vì phải đi dây, nên khiến các đối tác quan trọng này của ta cũng đáp lại chập chờn theo (vì không có chuyện “free lunch” ở đây), đi dây như thế không thể dấn thân được; điều này có nghĩa mãi mãi cam chịu giữ vị trí thấp trong mọi vấn đề, trong mọi cuộc chơi của các đối tác / đối thủ và của cả thế giới, chẳng bao giờ có thể  bình đẳng.
Một đường lối ngoại giao phải gánh chịu 3 nhược điểm lớn như thế, chung cuộc làm suy yếu đất nước, đặt đất nước trước nhiều hiểm họa.
Đến đây có thể kết luận: Bằng mọi giá, nước ta phải là chính mình, để thiết lập được các mối quan hệ đối ngoại mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước đòi hỏi. Đấy là: Bằng ngọn cờ dân tộc và dân chủ phát huy sức mạnh dân tộc, đi với cả thế giới.
Việt Nam nhất thiết phải đứng trên đôi chân của mình, quyết định những bước đi của mình, bởi vì lợi ích của mình đòi hỏi như vậy, bởi vì hòa bình và xu thế tiến bộ trên thế giới muốn có một Việt Nam như vậy. Đòi hỏi không thể thoái thác này xác quyết: Việt Nam phải trở thành một quốc gia của dân chủ, độc lập, tự do, hạnh phúc và hòa bình.
Xin hỏi: Có con đường nào đổi đời đất nước, đổi đời mỗi công dân để xây dựng nên một Việt Nam như thế, nếu không phải là con đường cải cách thể chế chính trị để tạo điều kiện thay đổi tất cả? Xin mỗi người Việt chúng ta – dù là ai, chính kiến nào, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, đảng viên ĐCSVN hay không phải đảng viên ĐCSVN, sống ở trong nước hay nước ngoài – với tất cả tình thần trách nhiệm “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”[91], với tất cả tinh thần đoàn kết hòa hợp và hòa giải dân tộc, hãy suy nghĩ về điều này.
Còn một sự thật nữa: Nước ta có một vị thế rất quan trọng trong chính sách đối ngoại của tất cả các đối tác quan trọng, lớn cũng như nhỏ, các nước thành viên ASEAN…, nhìn theo phương diện tiêu cực, cũng như theo phương diện tích cực.
Nhìn theo phương diện tiêu cực: Nếu thống soái được Việt Nam, sẽ làm được nhiều chuyện. Ví dụ, nếu biến được Việt Namthành một bàn đạp cho Trung Quốc tiến xuống phía Nam và ra Biển Đông!..
Nêu lên như vậy là để bàn cho hết nhẽ. Cứ cho là Trung Quốc rất muốn, nhưng có thể phương án này trong thực tế sẽ không khả thi hay rất khó khả thi. Vì hầu như chắc chắn nhân dân Việt Nam sẽ từ chối đến cùng một phương án như vậy, và chắc cũng sẽ nhân dịp này quét sạch luôn mọi ảo tưởng, phản bội, hay đầu hàng ăn theo phương án này.
Xin nhắc lại, Trung Quốc trước đây đã đôi ba lần đề nghị với Mỹ phương án chia đôi Thái Bình Dương. Cách đây ít lâu bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn tuyên bố Thái Bình Dương đủ chỗ cho cả Trung Quốc và Mỹ… Bây giờ xin lưu ý: Việt Namcó một vị trí chiến lược khá quan trọng, nên từ sau chiến tranh thế giới II đến hôm nay không dưới một lần người ta đã bàn với nhau các phương án “chia đôi” như thế dành cho Việt Nam.
Trong tiếp đón Chủ tịch Trương Tấn Sang vừa qua, phía Mỹ tuy cởi mở, tiến xa hơn so với ta một chút lên phía trước, song vẫn bầy tỏ một thái độ “wait and see!” khá rõ rệt với Việt Nam, (ví dụ: không thể tách việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam với vấn đề thực hiện dân chủ và quyền con người ở Việt Nam, nội dung “đối tác toàn diện” hàm ý có những điều chờ đợi nhất định…). Mỹ không thể làm khác, mặc dù ai cũng biết phía Mỹ rất muốn triển khai mạnh mẽ chiến lược “trục xoay”. Thái độ “wait and see!” như vậy phải chăng cho thấy: Mỹ không mơ hồ, cũng không sốt ruột trước tình trạng “chập chờn” và “ngoại giao leo dây” khó tránh hiện nay của Việt Nam!?
Chưa nói đến việc là siêu cường, ắt Mỹ còn nghĩ đến nhiều tính toán khác, nhiều phương án khác, cho những tình huống khác.[92]
Trên phương diện tích cực: Việt Nam sẽ rất quan trọng đối với nhiều nước nếu là một thành trì bất khả xâm phạm của hòa bình trong khu vực, là cầu nối rất cần thiết giữa các khu vực và cho những players trong nhiều vấn đề nan giải khác…
Sự thật là trên thế giới ngày nay rất nhiều quốc gia muốn có một Việt Namcó đủ khả năng giữ vai trò tích cực nêu trên.  Trong tất cả các đối tác chiến lược, có lẽ duy nhất chỉ có Trung Quốc muốn có một Việt Nam suy yếu. Việt Nam thực sự đang có tiềm năng giành lấy một vị thế quốc tế xứng đáng mà rất nhiều nước trên thế giới mong muốn cho Việt Nam! Cơ hội này thực sự chưa từng có  cho Việt Nam kể từ khi lập quốc, do xu thế phát triển của thế giới hôm nay tạo ra.
Đã thế, bàn cờ thế giới thay đổi như chong chóng. Vì lợi ích nào đó các cường quốc hôm nay đi với nhau; vì lợi ích nào đó ngày mai có thể chống lại nhau. Việt Namkhông thể dựa dẫm hay ăn  theo nói leo được. Nếu không đủ trí tuệ và bản lĩnh để luôn luôn giữ được mình là chính mình và đi cùng với cả thế giới tiến bộ, để có khả năng bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia  của mình và biết dấn thân ủng hộ lợi ích của cộng đồng, xin hỏi làm sao Việt Nam có thể có những quyết định đúng đắn?...
(còn tiếp)
------------------
+ Chú thich:
[88] Một trong những ví dụ gần đây nhất là phía Việt Nam bào chữa cho nghị định 72, phản bác ý kiến phê phán của Mỹ; trong khi đó nhiều trí thức Việt Namđã công khai đòi hủy bỏ nghị định này.
[89] Một doanh nhân là bạn của tôi kể cho tôi nghe mẩu đối thoại của anh ta với một doanh nhân Israel, đại ý:  Các bạn Việt nam thường nói nhiều về áp lực từ Trung Quốc; điều này đúng. Nhưng dù sao áp lực như thế  nhìn về mặt dân số thì khó khăn ở Việt Nam cũng mới chỉ là tỷ lệ 1 / 13, còn Israel chúng tôi tỷ lệ áp lực này là 1 /  35, lại còn thêm Đạo Hồi nữa. Hai nước chúng ta chẳng có quyền  chọn hay không chọn vị trí địa lý chúa ban cho như thế, mà chỉ có mỗi con đường phải sống!..
[90] Lịch sử quan hệ quốc tế cận đại và hiện nay có không  ít quốc gia ở vào thế bị các quyền lực bên ngoài o ép, co kéo, giằng xé tứ phương. Thành công điển hình trong bảo vệ chính mình trước tình huống này có lẽ là Thụy Sỹ từ trước đến nay, và hiện nay là Israel, ngoài ra cũng phải kể đến một số nước vùng Scandinavie (BẮc Âu).
[91] Khẩu hiệu của Cách mạng Tháng Tám làm nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
[92] Trong giới nghiên cứu Mỹ có ý kiến đại ý: Kinh nghiệm với Iraq, Afghanistan, các nước Bắc Phi… cho thấy Mỹ không thể gửi trứng cho đối tượng mình không chắc chắn hợp tác được, chờ cho Việt Nam qua giai đoạn chập chờn Mỹ sẽ quyết định cũng không muộn.
---------------

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

SUY NGẪM VỀ THỜI CUỘC - Phần 12


* NGUYỄN TRUNG
(tiếp theo - Phần 12)
VIII Thách thức và cơ hội – sự lựa chọn của nước ta
Bàn thêm về ASEAN
            Các phần trình bầy trên đã nêu lên những thách thức đối với nước ta. Tại đây xin nêu thêm một số ý kiến về thách thức đối với Việt Nam có liên quan đến ASEAN.
            ASEAN là một tập hợp do đòi hỏi của cuộc sống tự thân các nước ASEAN, nhưng tập hợp ASEAN vẫn còn đứng xa cái đích đã tạo ra nó: trở thành một hợp tác khu vực mang lại phát triển phồn vinh, hạnh phúc cho các quốc gia thành viên, bảo vệ và phát huy được vị thế quốc tế phải có của ASEAN. 
Trở ngại lớn nhất cho việc thực hiện cái đích của ASEAN là (1) sự phát triển không đồng đều và (2) một số khác biệt / mâu thuẫn giữa các quốc gia thành viên do lịch sử (bao gồm cả những yếu tố văn hóa) và do hoàn cảnh địa kinh tế và địa chính trị của mỗi quốc gia thành viên tạo nên. Thực tế này là mảnh đất mầu mỡ cho mọi ý đồ can thiệp, lũng đoạn của bên ngoài[85].
      > Phần 1 ; Phần 2; Phần 3; Phần 4; Phần 5; Phần 6; Phần 7; Phần 8 ; 
Phần 9 ; Phần 10 ;  Phần 11  
Điều may mắn là những thách thức, đòi hỏi của phát triển tự thân các nước thành viên, cũng như đòi hỏi và sức ép đến từ bên ngoài khu vực, đang thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hợp tác của tập hợp ASEAN. Những nỗ lực nhằm hoàn tất việc xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (CEA) vào năm 2015 phản ánh sự đang trưởng thành này. CEA được xây dựng trên 3 trụ cột là an ninh chính trị, kinh tế, và văn hóa xã hội; đấy sẽ là một dạng tập hợp tương tự như Liên minh Châu Âu (EU), song ở mức thấp hơn và có những khác biệt nhất định.
Thách thức lớn nhất đến từ ASEAN đặt ra cho Việt Nam là chính Việt Nam: Làm gì? và làm thế nào? để thực hiện được vai trò và nghĩa vụ của chính nước ta mà sự thành công của ASEAN đòi hỏi, mong đợi.
Muốn hay không muốn, nói ra hay không nói ra, vụ lợi hay không vụ lợi, có sự mong đợi từ ASEAN về một lá chắn Việt Nam đối với áp lực Trung Quốc. Cũng như vậy, Việt Namcần một hẫu thuẫn trực tiếp từ ASEAN chống lưng cho mình trong đối phó với sóng bão Trung Quốc.
Thực trạng hiện nay là:
 sự mong đợi từ ASEAN nước ta đáp ứng chưa tốt – trước hết vì sự đóng góp của Việt Nam vào phát triển và hợp tác của ASEAN còn rất khiêm tốn, Việt Nam vẫn đang thiếu một đường lối đối ngoại độc lập tự chủ và dấn thân, Việt Nam chưa có một nền tảng đối nội cho một đường lối đối ngoại mà vị thế của Việt Nam ngày nay đòi hỏi;  (theo tôi, không thể đổ lỗi tình trạng này cho sức mạnh kinh tế còn khiêm tốn của mình);
 sự hậu thuẫn chống lưng cho Việt Nam đang có những lỗ thủng đáng lo ngại – chủ yếu do ảnh hưởng và sự can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc (trước hết vào Campuchia, Lào, Thái Lan…, chính sách bẻ từng que đũa của bó đũa…) và phần nào do bản thân sự phát triển của chính các nước thành viên ASEAN còn những hạn chế nhất định[86].
Nước ta đang đứng trước một thực tế rất nhạy cảm: Hoặc là Việt Nam thực hiện được vai trò và nghĩa vụ mà ASEAN mong đợi; trong trường hợp này ASEAN mạnh lên và Việt Nam cũng nhận được từ ASEAN và cộng đồng quốc tế điều mình mong đợi. Hoặc là trường hợp Việt Nam bất lực, thậm chí giả sử Việt Nam đi ngược lại mong đợi của ASEAN (ví dụ: giả thiết rằng Việt Nam và Trung Quốc “đi đêm” với nhau trong đàm phán song phương Việt – Trung…), Việt Nam sẽ rơi vào một thế bị cô lập nguy hiểm - không phải chỉ trong phạm vi ASEAN, mà còn trong phạm vi quốc tế[87].
Xin hình dung trước mắt ta là tấm bản đồ: Phía Bắc là Trung Quốc, phía Đông và Namlà sự uy hiếp của Trung Quốc trên Biển Đông, phía Tây là các “điểm ASEAN” đã bị Trung Quốc chọc thủng… Không thể nhắm mắt trước một tấm bản đồ như vậy.  
Hễ là người Việt Namthì cần nhìn thẳng vào tấm bản đồ này và lựa chọn quyết định phải lựa chọn.
Trên thế giới ngày nay không còn liên minh ý thức hệ (ví dụ như sự ra đời và tồn tại “phe” XHCN trước đây), song lại có đòi hỏi bức thiết về liên minh của lợi ích cùng chiều, liên minh của các giá trị và của sự phát triển,. Điều này có nghĩa Việt Namchỉ có thể có được một ASEAN như mình mong đợi, nếu Việt Nam tự phát triển và tự dấn thân mạnh mẽ.
Tự phát triển và tự dấn thân như vậy, thực sự là thách thức khó nhất, lớn nhất đặt ra cho Việt Namhiện nay. Sẽ là vô ích và nguy hiểm, nếu ta chỉ một chiều trách cứ bạn bè thế nọ, thế kia… Đơn giản vì không thể có chuyện “mủi lòng thương cảm”, “sự thông cảm…” từ phía bạn bè khi bàn những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia.

Thách thức do sự hội tụ của mọi thách thức
Sự tha hóa và bất cập của hệ thống chính trị trước đòi hỏi nóng bỏng phải chuyển đất nước ta bước sang một giai đoạn phát triển mới,
con rồng Trung Quốc đã bắt đầu nhe nanh vuốt của nó,
trục xoay của Mỹ hướng về CA-TBD,
sự tự khẳng định ngày càng tăng của các cường quốc khu vực hướng vào khu vực CA-TBD,
kinh tế thế giới đi vào một thời kỳ phát triển mới đang thay đổi sâu sắc sự  vận hành hiện nay của quá trình toàn cầu hóa – một phần việc cụ thể có liên quan của quá trình này là Việt Nam thực hiện các bước đi tham gia vào TPP và phải cùng với các thành viên ASEAN hoàn thành xây dựng cộng đồng CEA;  
đấy là 5 thách thức đang đặt ra trực tiếp cho nước ta hiện nay và trong những thập kỷ tới.
            (Còn thách thức thứ 6 là nguy cơ ASEAN bị phân hóa, song nguy cơ này còn tùy thuộc rất nhiều vào sự hiệp đồng giữa các thành viên ASEAN, cũng có nghĩa là tùy thuộc rất nhiều vào vai trò dấn thân của Việt Nam trong cộng đồng ASEAN; vì thế không muốn liệt kê vào đây).
            Điểm nổi  bật là cả 5 thách thức nói trên cũng hội tụ vào thời điểm hiện tại, mọi mối quan hệ qua lại của chúng cùng tác động đồng thời vào nước ta, tạo ảnh hưởng chi phối sự phát triển của nước ta trong những thập kỷ trước mắt.
            Sự hội tụ này có nghĩa:
làm gia tăng tính triệt để của các thách thức,
mọi giải pháp cho bất kỳ thách thức nào phải đồng bộ và liên quan hữu cơ đến những giải pháp cho các thách thức còn lại,
không làm chủ được thách thức này hàm nghĩa sẽ thất bại hay khó tránh thất bại trước những thách thức khác,
các giải pháp cho từng thách thức có thể hỗ trợ lẫn nhau, nhất thiết phải được thiết kế theo cách tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau, các giải pháp đòi hỏi phải có tầm nhìn, trí tuệ, ý chí và sự đồng thuận phù hợp trong toàn dân tộc;
trong tất cả mối quan hệ qua lại hữu cơ giữa các thách thức, làm chủ và giải quyết thành công thách thức số 1 luôn luôn là khởi sự và là chìa khóa cho giải quyết thành công 4 thách thức còn lại.
            Để giải quyết cả 5 thách thức (1 – 5) với những đặc tính nêu trên (a – e), Việt Nam đứng trước đòi hỏi sống còn phải tiến hành thành công một cuộc cải cách triệt để hệ thống chính trị để trở thành một Việt Namcó bản lĩnh. Đây là chìa khóa giải quyết mọi vấn đề, mở ra cho đất nước một giai đoạn phát triển mới bắt buộc phải vươn tới.
Sự thật là, dù nhìn từ bất kể phương diện nào – đối nội hoặc đối ngoại, kinh tế hoặc chính trị hay quân sự, hoặc trên các phương diện văn hóa, xã hội.., - tình hình bắt buộc nước ta phải tiến hành một cuộc cải cách chính trị vỹ đại, để trở thành một quốc gia có bản lĩnh đứng vững vàng trong khu vực ngày càng trở nên nóng bỏng này…
            Cuộc cải cách chính trị này phải nhằm vào cái đích:
Phát huy được sức mạnh dân tộc, bắt đầu từ xây dựng một thể chế chính trị dân chủ pháp quyền, thực hiện quyền con người, giải phóng tự do cá nhân, từ đó làm nên sức mạnh vật chất và tinh thần của đất nước.
Bằng đường lối ngoại giao dấn thân tạo ra khả năng lan tỏa ảnh hưởng của Việt Namcho một sự tập hợp lực lượng trên thế giới hậu thuẫn sư nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Không thể nói khác, đấy phải là cuộc cải cách dưới ngọn cờ dân tộc và dân chủ với tầm trí tuệ và ý chí của văn minh nhân loại ngày nay.  
Như vậy, hy vọng đã trình bầy rõ điểm xuất phát là thực trạng của đất nước hôm nay, cũng như cái đích phải đi tới của cuộc cải cách chính trị phía trước.  
Nghĩa là từng người Việt Nam phải cùng nhau thay đổi, cùng nhau trưởng thành lên ngang tầm đòi hỏi của đất nước, chứ không phải chỉ có riêng những người đảng viên ĐCSVN.
Câu chuyện còn lại là từ thực trạng đất nước hôm nay lựa chọn con đường nào? và với lộ trình nào? để đi tới cái đích phải đến nói trên.
Con đường lý tưởng của cải cách là con đường của công khai minh bạch, của thông tin, học hỏi, dân chủ, là con đường của thiện chí xây dựng, của phát triển, là con đường của đồng thuận xã hội ở mức cao nhất, là con đường cùng nhau thiết kế, cùng nhau khai phá, tiến hành.., là con đường được dẫn dắt bởi trí tuệ và các giá trị thuộc về các quyền tự do dân chủ của nhân dân… Quyết khép lại quá khứ, để làm bằng được như vậy. Quyết không phản bội bất kỳ hy sinh nào đã ngã xuống vì nước, không bỏ qua bất kỳ mất mát nào đất nước đã phải trả giá để có được hôm nay. Phải chắt chiu từng đồng tiền bát gạo đã dành dụm được, để vắt óc xây đắp lên những thành quả mới của đất nước trên con đường cải cách… Đó chính là con đường vận động dân chủ và trí tuệ từ dưới lên, vừa đặt ra đòi hỏi mạnh mẽ bất khả kháng của nhân dân và đồng thời vừa tạo thuận lợi cho việc tiến hành cải cách thể chế chính trị từ trên xuống trong hòa bình, hiểu biết, hòa giải, đồng thuận và đoàn kết dân tộc.
So với các nước LXĐÂ cũ, so với Myanmar hiện nay, có thể nói nước ta ngày nay hội đủ mọi điều kiện trong, ngoài tạo ra một khung khổ mang tính chất cam kết của đồng thuận xã hội, được nuôi dưỡng bằng ý chí của dân tộc, để tiến hành một cuộc cải cách bằng trí tuệ và hòa giải, không hồi tố, không đổ máu, không tiếng súng, đảm bảo kinh tế tiếp tục phát triển trong cải cách. Tất cả với mục đích duy nhất là vì Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta, vì cuộc sống đáng sống của người dân Việt ta – đúng với tinh thần: dân chủ, độc lập, tự do, hạnh phúc.
Cải cách dứt khoát không chấp nhận con đường bạo lực, và không thể thành công bằng con đường này.
Có 2 luồng ý kiến chính:
Trong tình hình đối nội, đối ngoại đều nóng bỏng đối với nước ta như hiện nay, cải cách sao tránh khỏi dẫn đến một Ai-cập ở Việt Nam. Làm như thế để mà chết à?
Trong tình hình nước sôi lửa bỏng như hiện nay, cải cách là lối ra, là con đường sống.
Xin cứ nêu lên như thế để cùng bàn luận.
Người viết bài này xin lạm bàn:
Qua việc bàn luận sửa đổi Hiến pháp 1992, tình hình cho thấy luồng ý kiến thứ nhất rất rôm rả trong tranh luận bằng “độc thoại” trên nhiều báo chí chính thống (lề phải) và trong không ít phát ngôn quan trọng. Luồng ý kiến này nhấn mạnh: Ưu tiên số một là giữ ổn định chính trị, tình trạng yếu kém khó khăn của đất nước có thể được cứu chữa bằng đẩy mạnh tự phê bình và phê bình (tham khảo các ý kiến của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các Hội nghị Trung ương 4, 5, 6; tham khảo các ý kiến của Hoàng Chí Bảo trong tranh luận kiểu độc thoại trên báo QĐND 25-08-2013 với Lê Hiếu Đằng). Thiết nghĩ, cách tiếp cận này là lựa chọn sự nhắm mắt để dễ bề chấp nhận cái chết lâm sàng, trước khi đi tới cái chết hẳn dù dưới dạng nào.
Luồng ý kiến thứ hai nêu ra nhiều kiến nghị cụ thể về sửa đổi Hiến pháp. Tiếc rằng chỉ được đăng tải trên “lề trái”. Rất nên phổ biến công khai các ý kiến của luồng này trên mọi phương tiện thông tin đại chúng của lề phải, để công luận cả nước cùng thảo luận. Tại đây chỉ muốn đặt câu hỏi: Nếu người cầm quyền tin rằng mình có chính nghĩa thì có gì phải tránh né thảo luận công khai minh bạch trong cả nước để tìm ra chân lý?
“Đi với Trung Quốc giữ được chế độ nhưng mất nước? Đi với Mỹ giữ được nước nhưng mất chế độ và mất Đảng?…”
            Đấy là suy nghĩ nói lên thành lời của không ít vị lão thành trăn trở về vận mệnh đất nước hiện nay.
            Người viết bài này xin có lời bình: “Đi” như thế, e rằng trước sau rồi sẽ mất tất cả, để rồi sẽ phải làm lại từ đầu tất cả.
Bởi vì đi như thế với ai đi nữa, thân phận của đất nước ta vẫn là thân phận của nước bên thứ ba (the third player, the third party) như đã nói tới ở các phần trên. Gần 7 thập kỷ vừa qua nước ta đã không dưới một lần rơi vào cái thân phận nước bên thứ ba.., không dưới một lần bị thí, bị phản bội, bị cướp, bị móc túi.., và cuối cùng nước ta đang có chỗ đứng đầy âu lo như hôm nay trên bàn cờ thế giới.
Lịch sử ngoại giao nước ta 7 thập kỷ vừa qua còn cho thấy, đi với bên nào thì trước sau vẫn  rơi vào nguy cơ thường trực: Đi với một bên, chống một bên, với kết cục không bao giờ tốt đẹp.
Trong nước và trên thế giới có nhiều nhận xét xác đáng: Việt Nam đang thực hiện đường lối ngoại giao “leo dây”. Qua đó, cái yên thân Việt Namgiành được chỉ là cái yên thân luôn luôn chung chiêng, chao đảo trên dây. Cái ý chí không gì quý hơn độc lập tự do giành được qua sự yên thân này là cái tự do có khung trời hẹp bằng sợi dây ta đang đi trên nó. Cái dây ấy có thể bị giựt, bị đứt bất kỳ lúc nào. Khung trời tự do này cắt nghĩa sự lệ thuộc và phụ thuộc nguy hiểm đất nước đang mang trên mình như đã trình bầy trong các phần trên của bài này.

Còn phải tính toán thêm một yếu tố mới: Trong mọi bước đi cố phục hồi lại vị thế quốc tế đã từng có thời Xô-viết và trước nữa, Nga đang tiến hành nhiều hoạt động gia tăng sự có mặt của mình ở phía Đông. Thực tế này làm cho yếu tố Nga ngày càng đặm nét hơn tại khu vực biển Hoa Đông (liên quan đến đảo Kurin, đến Nhật) và trên biển Đông (bao gồm cả những nỗ lực muốn trở lại Cam Ranh). (Hiện nay trong vấn đề Syrie cũng vậy)...
(còn tiếp)
--------------
+ Chú thích:
[85] Ví dụ gần đây nhất là   Sam Rainsy, người cầm đầu đảng đối lập - “đảng  Cứu quốc Campuchia”  (CNRP) - trong và sau tranh cử tháng 7 vừa qua đã nhiều lần nói các vùng biển – đảo Trung Quốc đòi hỏi trên Biển Đông đều thuộc chủ quyền Trung Quốc, ông ta hoàn toàn ủng hộ, các phát biểu rất xấu của ông ta trực tiếp chia rẽ mối quan hệ Việt Nam – Campuchia, vân vân… Cách xử sự của Campuchia hiện nay trong vấn đề Biển Đông rất đáng lo ngại… Hiện nay sự can thiệp trực tiếp dưới nhiều hình thức của quyền lực mềm Trung Quốc vào Lào và Campuchia là toàn diện và ở mức độ rất nguy hiểm.
[86] (1)Thái độ dè dặt của Campuchia đối với lập trường các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông, đối với COC, và (2)sự hậu thuẫn của Campuchia dành cho lập trường Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông trong các cuộc họp của ASEAN là những động thái được lặp đi lặp lại. Sự việc này cắt nghĩa nhiều điều.
[87] Thực tế này đã xảy ra khi Việt Nam chưa giải quyết được vấn đề Campuchia suốt thập niên 1980.
---------------

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

ĐẤT NƯỚC ĐÒI HỎI PHẢI ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ

* TỐNG VĂN CÔNG
… Ngay năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết ĐH11, nền kinh tế Việt Nam vấp phải khó khăn lớn nhất sau 20 năm, kể từ năm 199... Kinh tế nhà nước là gánh nặng của nhân dân, nhận vào 65% tổng tín dụng để làm ra 28% tổng sản phẩm!...
…Thật đáng tiếc là cho đến nay thể chế,  hệ thống chính trị nước ta hầu như vẫn giữ  y  nguyên khuôn mẫu của chủ nghĩa xã hội kiểu xô viết . Nền móng tự do dân chủ đã có từ Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp 1946 đã không được thực hiện, phát huy. Các quyền tự do cơ bản như tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội, tự do biểu tình đều khất “nợ” nhân dân suốt 68 năm! Đại hội 6 đã trả lại cho nhân dân quyền tự do kinh tế  bị tước mất sau cải tạo xã hội chủ nghĩa….
… 2-KHÔNG NÊN THÔNG QUA DỰ THẢO HÍÊN PHÁP NẾU CHƯA ĐẠT YÊU CẦU ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ !
Sửa đổi Hiến pháp 1992 chính là cơ hội vàng để đổi mới chính trị! Do đó, không nên tùy tiện phủ quyết những ý kiến không hợp với quan điểm bảo thủ, giáo điều mà cần tổ chức tranh luận công khai trên mọi cơ quan truyền thông….
Đất nước, nhân dân đòi hỏi  ĐẢNG TỪ BỎ HÌNH THỨC ĐẢNG TRỊ TRỞ THÀNH ĐẢNG CẦM QUYỀN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN, CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN. Phải thực hiện “bao nhiêu quyền hạn đều của dân” như Hồ Chí Minh đã hứa hẹn, chấm dứt tình trạng đã  kéo dài mấy chục năm nay mà nguyên UV BCT  Nguyễn văn An đã thẳng thắn và trung thực nhận định : “Bộ Chính trị là vua tập thể”. Không nên tiếp tục làm cho khẩu hiệu thiêng liêng ”tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” để rồi  Đảng “là lực lượng lãnh đạo nhà nước”  nên  cuối cùng quyền lực nhà nước thuộc về Đảng! Trong dân gian đã lưu truyền công khai những thành ngữ “Đảng cử dân bầu”, “mười năm phấn đấu, không bằng cơ cấu một giờ”… thật là phản cảm….
Đổi mới kinh tế  mở ra một nửa cánh cửa của xã hội dân sự. Tuy nhiên các quyền tự do về tinh thần, tự do hội họp, lập hội, biểu tình, tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí, tự do sáng tạo nghệ thuật… vẫn chưa được thực hiện theo các giá trị phổ quát của nhân loại đã được ghi nhận trong các Công ước của Liên hiệp quốc và đã được Nhà nước Việt Nam cam kết gia nhập.
Xã hội dân sự bao trùm tất cả các mặt của đời sống xã hội cho nên nó vô cùng quan trọng. Thời đại toàn cầu hóa cho thấy con đường văn minh của nhân loại  có những điểm chung giống nhau trong sự vận dụng các giá trị phổ quát, hình thành mô hình  xã hội tiến bộ, phát triển,  gồm có “ bộ ba” không thể thiếu một, đó là : xã hội dân sự, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền.
                     >> Đọc tiếp/Nguồn  
-------------

QUYỀN LỰC của KHÔNG QUYỀN LỰC - Phần 9

* VÁCLAV HAVEL
(tiếp theo - Phần 9)
… Tất nhiên, trên thực tế họ thường không phát hiện ra là mình là những "nhà bất đồng chính kiến" cho đến khi họ thực sự trở thành người ấy. "Bất đồng chính kiến" khởi nguồn từ những động cơ hoàn toàn khác với lòng hám danh vọng và địa vị tên tuổi. Tóm lại, họ không quyết trở thành "nhà bất đồng chính kiến", và thậm chí nếu họ có dành hai bốn giờ một ngày cho nó, nó vẫn không phải là một nghề, mà cơ bản là một thái độ nhân sinh. Hơn nữa, thái độ đó hoàn toàn không phải là độc quyền của những người nhận cái danh hiệu "nhà bất đồng chính kiến" chỉ vì họ ngẫu nhiên đáp ứng được các điều kiện chắp vá và mang tính hình thức kể trên.
Có muôn ngàn người không tên tuổi khác đang cố gắng sống trong sự thật, và hàng triệu người muốn mà chưa thể, đơn giản vì có lẽ làm như thế trong điều kiện của họ cần can đảm lớn gấp mười lần cái can đảm của những người đã bước trước một bước kia. Nếu vài chục người ngẫu nhiên được nhấc ra trong số ấy và đặt vào một hạng đặc biệt, thì điều này sẽ hoàn toàn bóp méo bức tranh chung. Nó bóp méo theo nhiều cách. Hoặc là nó gợi ý rằng những "nhà bất đồng chính kiến" ấy là những người lỗi lạc, như là các "loài thú được bảo vệ", người được phép làm những điều mà người khác không được làm, là những người mà chính quyền thậm chí còn nuôi dưỡng để thể hiện sự khoan dung nhân từ của nó; hay nó che chắn cho một ảo ảnh rằng: vì số những kẻ phản động vốn chưa làm được gì nhiều này không đếm đủ đầu ngón tay, thì chắc là số còn lại là người phục tùng, bởi vì nếu họ không phục tùng thì chắc là đã bị liệt là "nhà bất đồng chính kiến" rồi.
Nhưng đó không phải là tất cả. Cách phân loại này vô tình đã tô đậm ấn tượng rằng quan tâm cơ bản của những "nhà bất đồng chính kiến" này là lợi ích thiết thân (vested interest) nào đó mà họ cùng chia sẻ với tư cách là một nhóm, như thể toàn bộ cuộc cãi lộn của họ với nhà nước chẳng có gì hơn là xung đột khó hiểu giữa hai nhóm đối lập, một cuộc xung đột chẳng liên quan tí gì đến xã hội. Nhưng ấn tượng ấy mâu thuẫn về cơ bản với tầm quan trọng thực sự của thái độ "bất đồng chính kiến", thái độ mà dù vùng lên hay ngã xuống đều vì quyền lợi của người khác, vì cái đang gây ra nỗi đau cho toàn xã hội, hay nói cách khác, vì sự quan tâm tới những người còn chưa dám nói. Nếu các "nhà bất đồng chính kiến" có một thứ uy quyền nào đó, và nếu họ còn chưa bị tiêu diệt từ lâu như những con côn trùng kì cục xuất hiện không đúng chỗ, thì không phải vì nhà nước muốn giữ lại một nhóm đặc biệt này và tư tưởng đặc biệt của họ trong một niềm phấn khích, mà vì nó hoàn toàn hiểu rõ quyền lực chính trị tiềm tàng của "sống trong sự thật" bắt rễ từ "không gian bí mật", và cũng nhận thức rõ cái loại thế giới mà "bất đồng chính kiến" được sản sinh ra và cái thế giới mà nó tác động: thế giới của đời sống thường ngày, thế giới của mâu thuẫn hàng ngày giữa những mục tiêu của cuộc đời với mục tiêu của hệ thống. (Còn gì minh chứng tốt cho điều này hơn là hành động của chính quyền sau khi Hiến chương 77 xuất hiện, khi nó khai hỏa một chiến dịch buộc toàn dân tộc phải tuyên bố rằng Hiến chương 77 là sai? Hàng triệu chữ kí đã chứng tỏ, bên cạnh những điều khác, rằng điều ngược lại mới đúng). Các bộ máy chính trị và cảnh sát không phung phí một sự quan tâm to lớn đến những "nhà bất đồng chính kiến" (cái có thể gây ấn tượng là chính quyền sợ họ như thể sợ một tập đoàn quyền lực khác vậy) bởi vì họ chính là một tập đoàn quyền lực khác; mà bởi vì họ là những người bình thường, với những mối quan tâm thường nhật, và chỉ khác với số đông ở chỗ họ nói lớn điều mà những người khác không thể hoặc vì sợ mà không dám nói. Tôi đã từng đề cập đến ảnh hưởng chính trị của Slzhenitsyn: nó không nằm trong một quyền lực chính trị riêng biệt mà ông có với tư cách là một cá nhân, mà ở trải nghiệm của hàng triệu nạn nhân Gulag mà ông chỉ đơn giản là tăng âm và truyền đạt tới hàng triệu người có lương tri khác.
Chọn ra một nhóm các "nhà bất đồng chính kiến" lỗi lạc cũng có nghĩa là phủ nhận khía cạnh đạo đức cốt lõi nhất trong hoạt động của họ. Như ta đã thấy, "phong trào bất đồng chính kiến" phát triển từ nguyên tắc bình đẳng, đặt trên quan niệm rằng quyền con người và tự do là không chia tách được. Cuối cùng, chẳng phải những "nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng" trong KOR [3]đã bảo vệ những người lao động không tên tuổi hay sao? Và chẳng phải chính vì lí do này mà họ trở thành "những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng"? Và chẳng phải "những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng" trong Hiến chương 77 đoàn kết lại dưới Hiến chương 77 sau khi họ đã đến cùng nhau để bảo vệ những nhạc sĩ vô danh, và họ trở nên "các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng" chính vì lẽ đó? Thật là một nghịch lí tàn nhẫn là càng nhiều công dân đứng lên bảo vệ các công dân khác, thì họ lại càng bị dán bởi một từ ngăn cách họ với "các công dân khác".
Cách giải thích này, tôi hi vọng, sẽ làm rõ tầm quan trọng của các dấu ngoặc kép mà tôi đặt ngoài từ nhà bất đồng chính kiến trong suốt tiểu luận này.

XIV.
Vào thời gian các vùng đất Czech cùng với Slovackia là một phần của Đế chế Áo-Hung, và khi mà không tồn tại cả những điều kiện xã hội, tâm lí, chính trị lẫn lịch sử cho phép những người Czech và Slovack tìm kiếm bản sắc của mình bên ngoài cái khung đế chế này, thì T. G. Masaryk đã xác lập một cương lĩnh dân tộc Czechoslovak dựa vào khái niệm "công việc quy mô nhỏ" (drobná práce). Theo đó, ông hàm ý rằng các công việc có trách nhiệm và trung thực trong những mặt vô cùng khác nhau của đời sống nhưng nằm trong trật tự xã hội hiện thời sẽ kích thích sự sáng tạo và tự tin quốc gia. Đương nhiên, ông đặt trọng tâm vào sự khai sáng và giáo dục, và vào các mặt đạo đức và nhân văn của cuộc sống. Masaryk tin rằng điểm bắt đầu khả thi duy nhất cho một tương lai quốc gia sáng lạn hơn là ở chính con người. Nhiệm vụ đầu tiên của con người là tạo ra các điều kiện cho một cuộc sống nhân văn hơn: và theo Masaryk, nhiệm vụ chuyển biến tầm vóc của quốc gia bắt đầu từ chuyển biến con người.
Khái niệm "làm việc vì lợi ích dân tộc" bám rễ trong lòng xã hội Czechoslovak và theo nhiều khía cạnh, nó đã thành công và còn sống đến ngày nay. Cùng với những người khai thác khái niệm này như là biện minh tinh tế cho việc hợp tác với chính quyền, vẫn còn nhiều người khác, ngay cả ngày nay, vẫn ấp ủ lý tưởng và, ít nhất trong một số lĩnh vực, có thể dẫn tới những thành quả không chối cãi được. Rất khó nói sự thể sẽ còn tồi tệ đến đâu nếu không có những người làm việc cật lực, những người chỉ đơn giản là không chịu từ bỏ và cố gắng không ngừng làm mọi việc có thể, trả một cái giá tối thiểu cho "sống trong dối trá" để họ có thể cống hiến tới mức cao nhất cho những nhu cầu chân chính của xã hội. Nhưng người này coi, một cách đúng đắn , rằng mọi việc tốt đều là một sự phê phán gián tiếp nền chính trị tồi tệ, và rằng có những điều kiện khiến cho con đường này đáng để đi theo, cho dù nó có thể có nghĩa rằng họ phải từ bỏ quyền tự nhiên được phê phán trực tiếp.
Tuy nhiên, ngày nay, có những giới hạn rất rõ ràng cho thái độ này, thậm chí khi so sánh với tình huống những năm 60. Ngày càng thường xuyên có những người đang cố gắng thực hiện phương châm "làm những việc nhỏ" cuối cùng đã phải đối mặt với hệ thống hậu toàn trị và thấy mình đứng trước một thế lưỡng nan: hoặc họ phải rút bỏ vị thế ấy, từ bỏ sự ngay thẳng, trách nhiệm và nhất quán mà vị thế ấy dựa vào và thích nghi với hoàn cảnh (cách mà đa số đã lựa chọn), hoặc là phải đi tiếp con đường đã đi và không thể tránh khỏi rơi vào xung đột với chế độ (có một thiểu số đã chọn cách này).
Nếu ý tưởng về "công việc quy mô nhỏ" không bao giờ có chủ đích - như là mệnh lệnh phải tồn tại bên trong cấu trúc chính trị và xã hội hiện có, bằng bất kì giá nào (trong trường hợp đó, những người tự cho phép mình bị cách li khỏi hệ thống tất yếu sẽ phải thôi "làm việc cho dân tộc") - thì ngày nay nó thậm chí càng ít quan trọng. Không có mô hình chung nào cho phép ứng xử, tức là, không có cách tổng quát và ngắn gọn nào quyết định cái điểm mà các "công trình quy mô nhỏ" không còn là "vì lợi ích dân tộc" và trở thành "gây hại cho dân tộc". Tuy nhiên, hiển nhiên là cái mối nguy của sự đảo ngược chiều ngày càng sâu sắc, và các công việc quy mô nhỏ ấy (với tần suất ngày càng thường xuyên hơn) trở nên chống lại cái giới hạn mà nếu vượt qua đó, tránh xung đột có nghĩa là tự gây tổn thương tới chính bản chất của nó.
Trong năm 1974, khi tôi được nhận vào nhà máy bia, cấp trên trực tiếp của tôi là ông S, người rất sành sõi trong nghệ thuật làm bia. Ông tự hào về nghề và ông muốn nhà máy làm bia ngon. Ông dành phần lớn thời gian cho công việc, không ngừng cải tiến, và ông thường xuyên làm chúng tôi khó chịu vì ông nghĩ chúng tôi cũng yêu nấu bia như ông. Kẹt giữa sự thờ ơ với công việc mà chủ nghĩa xã hội tạo ra, thật khó tưởng tượng một người lao động có thinh thần xây xựng hơn ông.
Nhà máy bia được quản lí bởi những người làm việc ít hơn và cũng không yêu thích nó lắm, nhưng lại có ảnh hưởng lớn hơn về chính trị. Họ khiến nhà máy bia sụp đổ và không chỉ không đáp lại bất kì đề xuất nào của S, mà họ còn ngày càng thù địch với ông và bằng mọi cách cản trở những nỗ lực làm việc tốt của ông. Cuối cùng, tình huống trở nên quá tồi tệ đến nỗi S cảm thấy buộc phải viết một lá thư dài cho cấp trên của ban giám đốc, trong đó ông cố gắng phân tích những khó khăn của nhà máy. Ông giải thích tại sao nó kém nhất trong quận và chỉ ra những người phải chịu trách nhiệm.
Tiếng nói của ông không bao giờ được lắng nghe. Giám đốc, người có quyền lực chính trị nhưng mù tịt về bia, một người thù công nhân và đầy mưu mô, giả thử có thể bị thay thế và những điều kiện trong nhà máy bia giả thử có thể được cải thiện - từ những đề nghị của S. Nếu điều đó xảy ra, nó đã có thể là ví dụ hoàn hảo cho "công việc quy mô nhỏ" trên thực tiễn. Không may, điều ngược lại đã xảy đến: giám đốc nhà máy, một ủy viên Quận ủy, có bạn bè ở các vị trí cao hơn và ông ta đã thấy sự việc kết thúc có lợi cho mình. Phân tích của S được coi là "tài liệu vu khống" và S bị chụp mũ là "gián điệp chính trị". Ông bị đuổi khỏi nhà máy bia và chuyển sang làm một nghề chẳng đòi hỏi kĩ năng gì. Ở đây, khái niệm "công việc quy mô nhỏ" đã đụng phải bức tường của hệ thống hậu toàn trị. Vì nói lên sự thật, S đã bước qua lằn ranh, phá vỡ luật lệ, loại mình ra, và ông kết cục thành công dân hạng hai, bị bêu rếu như kẻ thù. Giờ đây, ông có thể nói bất kì điều gì ông muốn, nhưng ông sẽ không bao giờ kì vọng là sẽ được lắng nghe - như là vấn đề nguyên tắc. Ông đã trở thành một "nhà bất đồng chính kiến" của Nhà máy bia Đông Bohemiavào trong đó vì cảm nhận cá nhân về trách nhiệm của anh, cộng với một phức hợp ngoại cảnh. Anh bị loại khỏi cấu trúc hiện thời và bị đặt vào vị trí đối lập với nó. Nó bắt đầu bằng cố gắng làm việc tốt của anh, và kết thúc bằng biệc bị dán nhãn là kẻ thù của xã hội. Đây là lí do tại sao hoàn cảnh của chúng ta không thể đem so được với Đế chế Áo-Hung, khi mà dân tộc Czech, trong giai đoạn tồi tệ nhất của nền chuyên chế Bach, chỉ có mỗi một "nhà bất đồng chính kiến" thực sự, Karel Havlícek, người bị bỏ tù ở Brixen. Ngày nay, nếu không hợm hĩnh [việc chúng ta là những nhà bất đồng chính kiến], chúng ta buộc phải thừa nhận rằng các "nhà bất đồng chính kiến" có thể tìm thấy ở mọi góc phố.
Phê phán các "nhà bất đồng chính kiến" vì họ từ bỏ "công việc quy mô nhỏ" thì thật là kì quặc. "Bất đồng chính kiến" không phải là một sự thay thế cho ý tưởng của Masaryk, mà nó thường xuyên là kết quả tất yếu [của ý tưởng ấy]. Tôi nói "thường xuyên" để nhấn mạnh rằng không phải lúc nào cũng vậy. Tôi còn lâu mới tin rằng những người có trách nhiệm và tử tế không ai khác ngoài những ai đã nhận ra mình lạc lõng trong cấu trúc chính trị và xã hội hiện thời. Cuối cùng thì, nghệ nhân bia S có thể đã chiến thắng trận đánh của ông. Nguyền rủa những người vẫn giữ vị trí của họ chỉ vì họ đang giữ vị trí ấy, hay nói cách khác, vì họ không phải là "nhà bất đồng chính kiến" thì cũng kì cục như là dựng họ lên như những "nhà bất đồng chính kiến". Trong bất kì tình huống nào, sẽ là mâu thuẫn với toàn bộ thái độ "bất đồng chính kiến" - được xem như một cố gắng sống trong sự thật - nếu người ta đánh giá hành vi con người không như nó vốn có và liệu nó tốt hay không, mà lại theo những tình cảnh cá nhân mà những cố gắng như thế đã đưa họ đến chỗ đó…
(còn tiếp)
-----------------

SUY NGẪM VỀ THỜI CUỘC - Phần 11

 
* NGUYỄN TRUNG
(tiếp theo Phần 11)
…Giả định rằng ngay sau 30-04-1975, ĐCSVN với tư cách là người chiến thắng (nói theo Huy Đức là “bên thắng cuộc”) chủ trương hòa giải dân tộc, giương cao ngọn cờ dân chủ, và với ý thức “không gì quý hơn độc lập tự do!”, nỗ lực dẫn dắt đất nước phấn đấu đổi đời cả dân tộc, để trở thành một quốc gia của các giá trị mà ĐCSVN đã từng ghi trên lá cờ của mình là “dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc”, đã từng nói lên thành lời ý chí này trong Tuyên ngôn Độc lập 02-09-1945, đã từng thể hiện ý chí này thành pháp quyền trong Hiến pháp 1946… Ôi, giả thử xây dựng nên một Việt Namnhư thế và cùng đi như thế với cả thế giới!..  Ôi, nếu từ ngày ấy đi theo con đường này, hôm nay nước ta sẽ là gì và đang đứng ở đâu! ĐCSVN hôm nay sẽ là đảng gì, thế giới sẽ nhìn nhận Việt Nam ra sao!?.. 
Tôi không trả lời được những chữ “nếu” như vậy.
Nhưng trong lòng tôi hôm nay vẫn dào dạt tâm trạng biết ơn những tình cảm tốt đẹp nhất nhân loại tiến bộ hồi ấy đã từng dành cho tinh thần yêu độc lập tự do của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mỹ:  “Việt Nam là lương tri của thời đại!”, “Việt Nam trong trái tim tôi!...”
Vâng, lịch sử không làm lại được. Nhưng nếu ngày nay học được từ lịch sử!
Vâng, sau 30 Tháng Tư Bẩy Nhăm cái giá dân tộc ta phải trả tiếp cho ý thức hệ và sự ngu dốt thật đắt quá, đau quá!
    > Phần 1 ; Phần 2; Phần 3; Phần 4; Phần 5; Phần 6; Phần 7; Phần 8 ; Phần 9 ; Phần 10 
Xin thưa lại chuyện cũ. Trong lịch sử cận đại, Việt Namkhi đã hoàn toàn ổn định lại dưới thời Gia Long, đất nước đã từng bỏ lỡ cơ hội để tìm một con đường như nước Nhật hồi ấy (thời Minh Trị) đã tìm được. Có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân gốc có thể là thế giới quan hồi ấy của đất nước là Khổng giáo và Nho giáo, thế giới đối với Việt Nam hồi ấy hầu như chỉ là Trung Quốc. Nói nôm na: Với cái lõi nhân văn này và tầm nhìn này của triều Nguyễn lúc thịnh, Việt nam không thể đi xa hơn, không thể với tới xa hơn, hệ quả cuối cùng đối với số phận của đất nước như chúng ta đã biết. Có gì đau đớn hơn cho một dân tộc khi bỏ lỡ cơ hội lịch sử?[74]
Làm sao chúng ta có thể chia sẻ với nhau bây giờ và với mọi thế hệ mai sau: Đừng bao giờ để cho đất nước bỏ lỡ cơ hội lịch sử!..
Thế nhưng… Vâng, thế nhưng…
 (1)Hiện nay và trong tương lai, làm thế nào để phát huy sức mạnh dân tộc?
(2) Làm thế nào để nước ta có thể dấn thân cùng đi với cả thế giới?
Đấy vẫn là 2 câu hỏi lớn phía trước.
(1)Tư duy ý thức hệ, (2)sự giác ngộ chưa đúng tầm lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc, (3)sự hẫng hụt của trí tuệ và phẩm chất lãnh đạo đất nước, đấy vẫn là 3 rào cản chính đang tiếp tục cản trở lãnh đạo ĐCSVN đi đến những câu trả lời đúng đắn phía trước phải có cho 2 câu hỏi sống còn nêu trên đối với đất nước hôm nay.

Vâng, thế nhưng… Cái giá phải trả cho bước ngoặt định mệnh
Chiến tranh biên giới tháng 02 - 1979 của Trung Quốc chống Việt Nam lại đột nhiên rộ lên ác liệt tháng 04 – 1984, khi hàng nghìn lính Trung Quốc ồ ạt tấn công chiếm địa danh Núi Đất (tại xã Thanh Thuỷ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Tuyên, nay là tỉnh Hà Giang.[75]). Nhưng hồi ấy nội tình Trung Quốc vẫn tiếp tục đầy rẫy khó khăn. Tháng 5 – 1989 xảy ra vụ đàn áp đẫm máu Thiên An Môn là hệ quả tất yếu. Trong khi đó Trung Quốc vẫn tiếp tục bắn phá trên biên giới nước ta; tháng 3-1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa, tiếp tục gây sức ép với ta trong đàm phán bình thường hóa quan hệ 2 nước và trong giải quyết vấn đề Campuchia, cùng với Mỹ tiếp tục bao vây cô lập nước ta.
Trong khung cảnh như vậy, các nước LXĐA sụp đổ (1989 -1991). Việt Namchấp nhận yêu sách của Trung Quốc, đến hội nghị Thành Đô (ngày 3 & 4 – 09/1990) để hoàn tất việc bình thường hóa hai nước và việc giải quyết vấn đề Campuchia. Lãnh đạo Việt Namhồi ấy coi bước đi này là con đường bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ đất nước.  Bước đi này cột chặt nước ta vào Trung Quốc đến bây giờ chưa gỡ ra được, với mọi hệ lụy tác động nghiêm trọng vào toàn bộ con đường phát triển của đất nước và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc hôm nay[76].  
Nhìn thực trạng quan hệ Việt – Trung mọi mặt hôm nay, nhìn vào thực trạng đất nước từ sau 30-04-1975, chưa bao giờ nước ta bị suy yếu và bị thách thức nghiêm trọng như hiện tại. Tôi nghĩ rằng thực trạng này bắt đầu từ hội nghị Thành Đô. Tôi nghĩ, đây là sai lầm đối ngoại lớn nhất mang tính chiến lược của lãnh đạo nước ta kể từ sau 30-04-1975. Rất mong bước đi này được mổ xẻ cặn kẽ, để nhìn nhận hiện tại và tiên liệu tương lai cho đất nước[77].
Lại phải nói, lịch sử không làm lại được, nhưng phải chăng cho phép đặt ra những câu hỏi:
Khi các nước LXĐA sụp đổ, có hay không cơ hội cho Viêt Nam bứt ra khỏi mọi lệ thuộc vào bất kỳ ai, để thực sự là nước độc lập tự chủ, đi với cả thế giới tiến bộ?
Phải chăng lợi ích quốc gia đã bị đẩy xuống dưới, để ưu tiên bảo toàn chế độ chính trị với bất kỳ giá nào?
Bình thường hóa quan hệ và thiết lập quan hệ hữu nghị với Trung Quốc là tối cần thiết. Song có thể đi với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ CNXH giữa lúc quan hệ Việt – Trung có không biết bao nhiêu sự kiện nước ta bị phản bội và rất đẫm máu?[78]
Đi với Trung Quốc như thế, hôm nay nước ta mạnh lên hay yếu đi?
Phải chăng nhận thức thế giới và lợi ích của đất nước qua lăng kính ý thức hệ, cùng với sự tha hóa phẩm chất cách mạng, đã tất yếu dẫn tới bước đi định mệnh này?
Nói rốt ráo hơn nữa: Phải chăng đã là ĐCSVN thì chỉ có thể lựa chọn như vậy trong tình huống các nước XHCN Đông Âu sụp đổ? – Vì tư duy ý thức hệ không có chỗ cho sự lựa chọn khác, không muốn lựa chọn khác?[79]
…Vận mệnh quốc gia đòi hỏi phải mất công sức tìm ra những câu trả lời chuẩn xác.
Muốn xây dựng quan hệ láng giềng tốt và bền vững không thể thiếu với Trung Quốc, càng phải rút kinh nghiêm những chặng đường đã qua để có bản lĩnh thực hiện đúng đắn mục tiêu này.
          Phải chăng có thể kết luận: Vì bất kể lý do gì – hoàn cảnh lịch sử và tình hình phát triển thấp của đất nước, bối cảnh quốc tế bất khả kháng, sự trói buộc của ý thức hệ, sự hẫng hụt của trí tuệ và phẩm chất trong nhận thức thế giới và trong giác ngộ giác ngộ lợi ích quốc gia, sự tha hóa của đạo đức, vân vân… - suốt 38 năm qua, tất cả những hệ lụy của những sai lầm và thất bại trong lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại, tất cả những việc gì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi phải thực hiện nhưng chưa làm được, đất nước đều phải trả giá.

*
Sau 38 năm kể từ khi giành lại độc lập thống nhất, nói chuẩn xác hơn sau 28 năm đổi mới, Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn phát triển đầu tiên của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình. Đây là thành tựu rất to lớn của đất nước.
Một sự thật khách quan là sau 30-04-1975 những công việc phải làm là những nhiệm vụ vô cùng khó khăn của một nước chịu nhiều hậu quả của chiến tranh (với nghĩa là 7 cuộc chiến tranh trong một cuộc chiến tranh) tàn phá nặng nề và kéo dài, lại phải tiến hành trong những điều kiện đối ngoại rất khó khăn phức tạp.
Về nhiều mặt, những nhiệm vụ phải hoàn thành trong thời kỳ này nhìn chung đều vượt quá tầm với của bất kể đội ngũ lãnh đạo nào đất nước hồi ấy có thể có được. Bởi vì đấy là những nhiệm vụ rất khó, chưa có tiền lệ. Những sai lầm và thất bại nhất định đã vấp phải là điều không thể tránh khỏi. Không thể có bất kỳ một đội ngũ lãnh đạo toàn năng nào, dù là được thượng đế ban cho nước ta, cứ được đặt vào vị trí là có thể hoàn thành được những nhiệm vụ phải làm ấy. Đây cũng là một thực tế khách quan.
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là bản chất của hệ thống chính trị, trước hết là đội ngũ nòng cốt của nó là ĐCSVN, thiếu hẳn tố chất dân chủ và học hỏi trong thời bình, do đó rơi vào tình trạng:
Khi nhận thức ra sai lầm, đã tiến hành được công cuộc đổi mới năm 1986, và đã xoay chuyển hẳn được tình thế trong phát triển kinh tế, nhưng cũng chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà thôi, không thể đi tiếp sang cải cách chính trị mà sự nghiệp phát triển của đất nước đòi hỏi.  
Trong quá trình cầm quyền, vì thiếu tố chất của dân chủ và học hỏi, lại không có một hệ thống chính trị dân chủ làm được các chức năng: cọ sát, sàng lọc, thải loại, quyền phải được ràng buộc với trách nhiệm giải trình, thực hiện công khai minh bạch.., nên hệ thống quyền lực của ĐCSVN tha hóa thành hệ thống quyền lực cai trị - (nhóm Kiến nghị 72 gọi đấy là hệ thống quyền lực của chế độ toàn trị). Trở thành một hệ thống chính trị như thế, trước hết là ĐCSVN trở thành một đảng toàn trị, nắm trọn mọi quyền thế. Hệ quả dẫn tới: Sai lầm xảy ra nối tiếp sai lầm, tha hóa ngày càng tha hóa, khiến cho đất nước vấp phải những thất bại nặng nề, và hiện đang rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng[80].
Bản tổng kết 38 năm qua của ĐCSVN phải chăng như sau:
So với mục tiêu chiến lược của ĐCSVN đã đề ra trong các cương lĩnh và trong các nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng,
so với nhiệm vụ thực hiện dân chủ, độc lập, tự do, hạnh phúc cho đất nước và cho nhân dân mà  ĐCSVN đã cam kết,
so với công sức và nguồn lực đất nước đã bỏ ra, so với các cơ hội to lớn đến với đất nước và so với mọi nguồn lực bên ngoài đất nước ta đã tranh thủ được,
so với những thành quả lẽ ra đất nước phải giành được và triển vọng phải có cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước,
so với hệ thống chính trị hiện hành có quá nhiều khuyết tật đang để lại nhiều hệ quả trầm trọng cho đất nước và đang kìm hãm sự phát triển của đất nước,
so với những cái giá đất nước phải trả về đối nội và đối ngoại suốt 38 năm qua,
rồi so mức phát triển của nước ta với các nước có liên quan,
so một bên là tình trạng nguy hiểm hiện nay và những thách thức lớn phía trước đang đặt ra cho đất nước và một bên là khả năng đối phó rất hạn chế của đất nước.., vân vân…
so như thế, phải chăng có thể đi tới nhận xét:
Trong 38 năm hòa bình đầu tiên kể từ khi đất nước độc lập thống nhất, ĐCSVN đã vấp phải nhiều thất bại rất nghiêm trọng; đất nước phải trả giá và hiện nay đang lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện.
Bản thân ĐCSVN ngày nay tha hóa thành đảng cai trị, qua đó đã đánh mất phẩm chất chiến đấu cách mạng của mình.
Nhân danh thực hiện sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối, ĐCSVN 38 năm qua đã thiết lập nên một chế độ toàn trị, nguồn gốc cơ bản của biết bao nhiêu quyết sách sai lầm và tệ nạn quan liêu tham nhũng mà ngày nay đất nước đang phải gánh chịu mọi hậu quả[81].
Có phải như thế không?
Nếu đúng là như vậy, ĐCSVN hôm nay chỉ còn lại là một lực lượng chính trị lớn nhất nắm vận mệnh đất nước; lợi ích cai trị của nó và lợi ích đất nước thường không phải là một, và thậm chí có những xung đột hoặc đối kháng nghiêm trọng. Rất nên trao đổi thẳng thắn trong nội bộ ĐCSVN và với nhân dân, để làm rõ thực trạng nguy hiểm này và cùng nhau khắc phục, thay đổi.
Có phải ĐCSVN bây giờ chỉ còn lại là một lực lượng chính trị lớn nhất trong nước hay không?
Câu hỏi này quá nghiêm trọng, nhất thiết các đảng viên ĐCSVN phải tìm ra câu trả lời.
Vì lợi ích của bản thân sự tồn tại ĐCSVN đã đành, nhưng quan trọng hơn thế là vì lợi ích của hòa giải đoàn kết dân tộc đòi hỏi nhất thiết không để xảy ra xung đột hoặc thậm chí đổ máu giữa một bên là lực lượng chính trị lớn nhất này (ĐCSVN) và một bên là các lực lượng chính trị khác trong nhân dân sớm muộn đến lúc nào đó sẽ xuất hiện.
Muốn tránh cho đất nước ta đến một lúc nào đó sẽ có thể xảy ra cái gọi là “hậu chiến tranh Iraq”, hoặc những cái gọi là “mùa xuân Ả-rập” đang diễn ra rất đẫm máu.., thì ngay từ bây giờ phải mổ xẻ thực trạng này, để ĐCSVN phải tự thay đổi chính mình và tranh thủ sự hậu thuẫn của nhân dân cho cuộc đổi đời này của Đảng. Ngay từ bây giờ nhân dân cả nước cần thấy rõ triển vọng nguy hiểm này, chủ động đòi ĐCSVN phải thay đổi.
Có không ít ý kiến không phải là thiếu căn cứ: “Để cho chế độ này sụp đổ đi, rồi làm lại từ đầu. Sự ngột ngạt hiện nay hết chịu nổi, hà hơi tiếp sức góp ý xây dựng cho nó kéo dài làm gì!.. Hơn nữa quyền lực ĐCSVN là không thể thay đổi được!”[82]
Thế nhưng…: Sau 4 cuộc chiến tranh liên tiếp mà 3 thế hệ của đất nước phải gánh chịu, bây giờ Việt Nam có nên chấp nhận một kịch bản như nêu trên không? đấy có phải là kịch bản tối ưu không? Cũng xin đừng quên cảnh đục nước béo cò đã nhiều lần dầy vò nước ta suốt 7 thập kỷ vừa qua, chắc gì không tái diễn?. Xin trí tuệ cả nước – kể cả trong ĐCSVN – hãy tỉnh táo cân nhắc. Thậm chí: Đây có phải là kịch bản duy nhất như một định mệnh của đất nước hay không?.. …
Trước sau, riêng tôi chỉ lựa chọn con đường hòa giải dân tộc. Chỉ đi con đường này, còn nước còn tát.
Nếu như ĐCSVN vẫn còn tự coi mình là một đảng cách mạng, cam kết chỉ có lý tưởng duy nhất là phục vụ đất nước, nếu ĐCSVN không muốn phản bội truyền thống chiến đấu hy sinh vì nước của biết bao nhiêu thế hệ đi trước của đảng mình và của dân tộc mình, thì ĐCSVN nên mổ xẻ thực trạng hiện nay của mình để tự kết luận.
ĐCSVN hiện nay còn đủ thời giờ và các điều kiện cần thiết cho một cuộc mổ xẻ như thế để tự thay đổi, và hoàn toàn có thể thay đổi được. Trong lịch sử đã từng không dưới một lần ĐCSVN đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích của đảng một khi tình hình đòi phải làm như vậy. Trong hàng ngũ đảng viên yêu nước hiện nay không thiếu trí tuệ và tâm huyết cho sự thay đổi này. Khi còn sống, Võ Văn Kiệt là một trong nhưng tấm gương như thế dấn thân cho thay đổi ĐCSVN trở thành đảng của dân tộc[83].
Quả thực, sựa lựa chọn đặt ra cho ĐCSVN hôm nay rất khắc nghiệt: Hoặc là bảo tồn mình như là một lực lượng chính trị lớn nhất đang cai trị đất nước – và như thế, đến một lúc nào đó đối kháng giữa cai trị và bị cai trị là điều khó tránh khỏi. Hoặc là phải thay đổi tất cả để phấn đấu trở thành lực lượng lãnh đạo mạnh nhất trong nước – với tính cách là một đảng của dân tộc!?
Song cũng phải nói lên một sự thật khác: Cho đến nay chưa có một đảng cộng sản đã cầm quyền nào ở các nước XHCN LXĐÂ trước đây có khả năng thay đổi đến lột xác như thế, các đảng này chỉ có chung một số phận là bị lịch sử gạt bỏ thô bạo hay lặng lẽ.
ĐCSVN có bề dày mấy thế hệ kháng chiến cứu nước, liệu có thể là một ngoại lệ được không? Liệu ĐCSVN có thể đặt lợi ích quốc gia lên trên hết để tự thay đổi mình được không?   Có nên thay đổi như thế không?..
Phải tìm đường trả lời những câu hỏi này. Vì đấy là con đường đỡ xương máu và mồ hôi nước mắt cho đất nước, đồng thời tránh cho ĐCSVN cuối cùng sẽ đi vào lịch sử với tính cách là kẻ đối kháng lại lợi ích dân tộc. Thực ra, đây là sự thay đổi để trở lại cái bản chất gốc, bản chất ban đầu là chủ nghĩa yêu nước của những người cộng sản Việt Nam đã từng làm nên Cách mạng Tháng Tám và tinh thần tiên phong hy sinh chiến đấu suốt mấy thế hệ trong kháng chiến cứu nước. Sự thay đổi này chính là sự giải phóng của bản thân những đảng viên ĐCSVN hôm nay khỏi sự nô dịch của ý thức hệ ăn đong và vay mượn từ bên ngoài. Ý thức hệ này đâu có phải là sản phẩm tinh thần của dân tộc mình và của văn minh nhân loại[84]!
Nghe có vẻ kỳ quặc, sự thật là đã đến lúc các đảng viên ĐCSVN hôm nay hơn bao giờ hết phải đấu tranh giải phóng chính mình, để trở thành con người tự do! Nói cay nghiệt hơn: Đã đến lúc những đảng viên ĐCSVN hôm nay cần vứt bỏ cái lý tưởng nhân danh ý thức hệ mà trên thực tế nó hầu như chỉ còn là cái bình phong che đậy sự sa ngã của tha hóa và phi đạo đức.
Nhiều cá nhân đảng viên yêu nước ở các nước XHCN LXĐÂ cũ đã thực hiện được sự thay đổi như vậy. Nhiều đảng viên có phẩm chất và năng lực sau này vẫn được nhân dân trao cho những trọng trách trong chế độ dân chủ ở các quốc gia này.  Vậy rất nên đưa vấn đề lựa chọn sống còn này ra cho các đảng viên ĐCSVN thảo luận dân chủ, công khai và thẳng thắn trong nội bộ để quyết định.
Chưa bao giờ ý chí độc lập - tự chủ, chưa bao giờ tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” của đất nước bị xâm phạm, bị sa sút như ngày nay.  Sau 38 năm độc lập thống nhất, hiện nay đất nước ta đang ở thời kỳ bên trong thì lòng dân vô cùng bức xúc; trong khi đó sự uy hiếp và thách thức từ bên ngoài đối với đất nước vô cùng nguy hiểm. Cả nước nhất thiết phải cùng nhau nhìn nhận lại tất cả . Phải cùng nhau nhìn nhận lại tất cả! – xin được phép nhấn mạnh như vậy, vì đất nước này không phải là của riêng ai, mà là của tất cả mỗi người Việt Nam chúng ta! …
(còn tiếp)
 
---------------
Chú thích:
[74] Tham khảo: YOSHIHARU TSUBOI  Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa - Lịch sử Việt Nam  www.lichsuvietnam.info/index.php?...‎ Không phải ngẫu nhiên một số học giả đã đề ra ý tưởng “thóat Á luận”, “thoát Trung Quốc luận” để giải thoát nước ta khỏi cái quán tính đầy tai ác của lịch sử.
[75] (1) Năm 2009, nhân dịp 20 năm ngày nổ ra chiến tranh 17-02-79, sách và báo Trung Quốc có một số bài thừa nhận cuộc chiến 1984 của quân Trung Quốc chiếm vùng Núi Đất của ta vấp phải sự kháng cự vượt sức tưởng tượng của họ, gọi đấy là một trận “tiểu Stalingrad”, mỗi bên thương vong hàng nghìn binh sỹ.
(2) Trận chiến núi Đất năm 1984 giữa Việt Namvà Trung Quốc
[76] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990 http://www.vietstudies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_ChanDungThanhDo.htm
[77] Tham khảo: Trần Quang Cơ, “Hồi ức và suy nghĩ”, tìm trên các trang web.
[78] Xin lưu ý, khi bình thường hóa quan hệ với Việt Nam theo lập trường của phía Trung Quốc, phía Trung Quốc nhấn mạnh: Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, là đồng chí (ý nói cùng là xã hội chủ nghĩa), chứ không phải là đồng minh (ý nói không có chuyện đứng chung với nhau một chiến tuyến trong bất kể việc gì). Như vậy đây là thứ quan hệ gì?
[79] Đối với ĐCSVN, tôi nghĩ câu hỏi này vô cùng quan trọng tới mức sống còn (to be or not to be?!); bởi lẽ câu hỏi này đòi ĐCSVN phải xem lại chính mình: Tổ quốc trên hết, hay ý thức hệ trên hết!
[80] Sau khi ra khỏi cuộc chiến tranh Trung – Triều 1950 – 1953, chính thể Hàn Quốc dười thời Lý Thừa Vãn và Pác Chung Hy là một chính thể độc tài, quân phiệt khét tiếng. Tuy nhiên, đặt trên nền móng dù chưa hoàn hảo của kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền, sự phát triển của Hàn Quốc dần dần dựa trên một nền móng hoàn hảo hơn của kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự, được nuôi dưỡng bởi một nền giáo dục  coi trọng phát huy các giá trị. Đấy là những yếu tố cơ bản chuyển hóa Hàn Quốc thời hậu chiến thành nước công nghiệp phát triển như ngày nay.
[81] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, tiểu thuyết “”, tập II, tr. 499… và tr. 554…,
 http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/Lu_T2_Final.pdf
[82] Tổng thống Nga Yeltsin đã từng nói như vậy và đã làm mọi việc xóa bỏ ĐCSLX qua tòa án hiến pháp.
[83] Nhìn lại, có thể có căn cứ xác đáng để nhận định:  Võ Văn Kiệt đã sớm có ý tưởng này giữa lúc ông là đương kim thủ tướng. Trong bức thư ngày 09-08-1995 gửi Bộ Chính trị ĐCSVN ông nêu ra 4 vấn đề: (1)Phải nhìn nhận lại thế giới; (2)Phải xem lại đường lối phát triển đất nước; (3)Phải xây dựng nhà nước pháp quyền; (4)Phải xây dựng lại ĐCSVN về tổ chức và về đường lối, loại bỏ cái gọi là nguyên tắc tập trung dân chủ. Cho đến khi đi xa..., ông vẫn kiên trì quan điểm phải xây dựng lại ĐCSVN trở thành đảng của dân tộc.
[84] Tham khảo bài đã dẫn: Nguyễn Trung, “Diễn văn của Tổng thống CHLB Đức, Joachim Gauck” http://viet-studies.info/NguyenTrung/MguyenTrung_DienVanTongThongDuc.htm
 
-----------------