Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỂN ĐÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỂN ĐÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Những "cơn sóng" trái chiều ở biển Đông

 
… Những căng thẳng mới đây cho thấy sự cần thiết của việc đạt được một Bộ Qui tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính chất ràng buộc. Chỉ có điều, trong nội bộ ASEAN xuất hiện 2 xu hướng: một ủng hộ phương án COC “tối thiểu” và một ủng hộ phương án COC “tối đa”. Đối với những người ủng hộ của  COC “tối thiểu”, ưu tiên hàng đầu là tham gia một loạt các cuộc đàm phán nhằm thiết lập một loạt thỏa thuận có tính ràng buộc sẽ chi phối cung cách ứng xử các bên và giải quyết tranh chấp có ít nhất 3 bên can dự.
Một COC như vậy sẽ là phần mở rộng hợp lý của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, trong đó kêu gọi giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp, từ bỏ đe dọa và sử dụng vũ lực trong việc thúc đẩy tuyên bố chủ quyền. Nó cũng sẽ phù hợp với "Nguyên tắc 6 điểm" mà Indonesia đề xuất, trong đó nhấn mạnh việc giải quyết các tranh chấp biển đảo dựa trên luật pháp quốc tế, cụ thể là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)…
                  >> Đọc tiếp/Nguồn  
-----------------

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Tổng thống Obama đến Philippines bàn về Biển Đông

… Dự kiến cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Philippinessẽ diễn ra vào ngày 11/10 hoặc 12/10. “Vào thời điểm này tôi không thể nói chúng ta có thể kí kết văn bản nào trong chuyến thăm sắp tới của ông Obama hay không. Điều tôi có thể đảm bảo là các cuộc thảo luận này sẽ giúp tăng cường an ninh cho Philippines”, ông Carandang nói.
Ông cũng cho biết thêm rằng trong bối cảnh Mỹ thực hiện chiến lược “Trục châu Á” thì “mối quan hệ giữa hai nước sẽ ngày càng lớn mạnh”. Ông Carandang cũng cho hay có khả năng các cuộc thảo luận đề cập tới các hoạt động của Trung Quốc nhằm mở rộng biên giới hàng hải của mình trên Biển Đông, trong đó có cả các vùng biển sát bờ biển Philippines.
                >> Đọc tiếp/Nguồn  
----------------

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Báo TQ sợ Cam Ranh cắt 'lưỡi bò'

… Người Mỹ cũng mong muốn có mặt ở Cam Ranh bởi hơn ai hết, Mỹ đã từng có căn cứ quân sự ở quân cảng này và người Mỹ hiểu giá trị của nó. Năm 2012, một tàu chiến Mỹ đã được phép vào thăm và làm việc tại Cam Ranh. Càng hiểu về Cam Ranh bao nhiêu, người Trung Quốc càng lo sợ Cam Ranh rơi vào tay những đối thủ của nước này. Hiện tại, Mỹ và Philippinesđã gần như đạt được thỏa thuận để quân đội Mỹ quay trở lại vịnh Subic. Trước đây, vịnh Subic đã từng là căn cứ quân sự lớn nhất châu Á – Thái Bình Dương. Sở dĩ người Mỹ được quay trở lại Subic bởi chính những hành động gây hấn của Trung Quốc khiến Philippines cần một người bảo vệ.
                       >> Đọc tiếp/Nguồn  
---------------

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Học giả Mỹ: Nga-Việt tăng cường hợp tác ở Biển Đông, Bắc Kinh bất mãn


…  Tiến sĩ Stephen Blank cũng nhận định, tất nhiên là không có gì trong mối quan hệ song phương Nga - Việt được thiết kế để nhắm mục tiêu vào một nước thứ 3, nhưng rõ rằng trong mối quan hệ này các thỏa thuận về mua bán vũ khí được đưa ra để ngăn chặn ý đồ và hành vi hung bạo của Trung Quốc trên Biển Đông.
Stephen cho rằng đây rõ ràng là một phần trục chiến lược của Moscowđến châu Á, trùng tên gọi với Mỹ và nhằm mục đích tiếp thêm sinh lực cho vị thế kinh tế, quân sự và chính trị của Nga như là một cường quốc châu Á độc lập.
Bắc Kinh rõ ràng không hài lòng với các chính sách của Nga, các phương tiên truyền thông nhà nước…
               >> Đọc tiếp/Nguồn  
------------------

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

COC VÀ CON ‘BÀI CÀO’ 16+4


 * BÙI VĂN BỒNG
           Mới đây, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho rằng Trung Quốc đã lên kế hoạch chiếm bãi cạn Scarborough nhằm mở rộng lãnh thổ của mình trước khi Bộ qui tắc ứng xử trên biển (COC) được ký kết. Ông Rosario cũng thúc giục các nước ASEAN đẩy nhanh tốc độ đàm phán về COC. 
Rằng: “Chúng tôi cho rằng Trung Quốc đang tìm cách đi trước COC. Theo chúng tôi, họ đã lên kế hoạch hành động và cố gắng hoàn thành trước khi họ ngồi xuống bàn đàm phán về COC”, ông DelRosario trả lời phỏng vấn hãng Reuters tại văn phòng của ông ở Manila. “Kiểu hành động đó đe dọa hòa bình và ổn định của khu vực. Nếu ngày hôm nay Philippineslà mục tiêu, ngày mai một quốc gia khác sẽ trở thành mục tiêu. Vì thế cần coi đây là vấn đề của cả khu vực”, ông del Rosario nói.
                   > Xây dựng COC càng sớm càng tốt  
             Đáp lại, người phát ngôn Trung Quốc Hồng Lỗi cho rằng Philippines “chuyện bé xé ra to” về vấn đề Scarborough, khu vực "thuộc chủ quyền không thể tách rời của Trung Quốc".
Bài trên trang mạng hoangsa.danang.gov.vn khẳng định: Về thực chất, bề ngoài, Trung Quốc tuyên bố đồng ý đàm phán với ASEAN về Bộ qui tắc ứng xử trên biển Đông (COC), nhưng bên cạnh đó, Bắc Kinh lại có một loạt hành động thể hiện mục đích mở rộng vùng kiểm soát trên Biển Đông. Phải chăng, Trung Quốc đang có một mưu đồ gì đó?
Hôm 7/9, tờ Philstar dẫn lời một quan chức an ninh cấp cao Philippinescho rằng Trung Quốc đang đẩy nhanh kế hoạch chiếm và kiểm soát thêm các vùng biển của Philippinestrên Biển Đông. Ông này cũng cho rằng đây là một phần trong kế hoạch hải quân trung và dài hạn của Bắc Kinh nhằm chiếm quyền kiểm soát toàn bộ Biển Đông. “Trong khi chính phủ chúng ta đang cố gắng giải quyết cuộc tranh chấp hàng hải với Trung Quốc qua con đường trọng tài quốc tế, hải quân nước này lại thực hiện kế hoạch chiếm thêm các mỏm đá và bãi cạn trên Biển Đông”, vị quan chức này nói.
Những hành động trên của Trung Quốc diễn ra trong lúc nước này mặc dù nhất trí đàm phán về Bộ qui tắc ứng xử trên biển (COC) nhưng không tỏ ra sốt sắng lắm. Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cho rằng không nên vội vàng với "Bộ qui tắc ứng xử trên biển Đông" do bộ qui tắc này liên quan tới nhiều quốc gia và phải mất rất nhiều công sức mới đạt được (!?). Bản chất lừa mị, tráo trở của Trung Quốc ngày càng bộc lộ rõ qua những động thái 'tiền hậu bất nhất', qua những sự kiện và phát biểu công khai mới nảy sinh, cho thấy Trung Quốc đang cố trì hoãn, thậm chí tìm cách 'đánh bài chuồn' không ký COC.
Nhiều “nỗ lực” cho “lưỡi bò” liếm rộng trên biển Đông, Trung Quốc đang tìm cách đi trước COC. Bộ qui tắc ứng xử sẽ là văn bản giúp giảm các mâu thuẫn, phòng ngừa xung đột giữa các bên và không để Biển Đông quay trở lại thời kì các bên hành xử đầy khiêu khích. Do đó, Bắc Kinh đang thúc đẩy một “kế hoạch hành động khẳng định chủ quyền”. Trung Quốc sẽ “chộp lấy” càng nhiều diện tích trên Biển Đông càng tốt và sau đó nhất trí với một bộ qui tắc ứng xử đảm bảo tính hợp pháp cho những vùng mà nước này chiếm được. 
Trong khi đó, đối với Việt Nam, thì Trung Quốc vẫn coi con số ‘bài cào’ 16_4 (16 chữ, 4 tốt) để buộc Việt Nam bất cứ trong tình huống nào cũng phải “hết sức bình tĩnh, không manh động” phản đối, tỏ thái độ “bất khả kính” với Trung Quốc!  Việc gì mà phải né sợ Trung Quốc “triệt để” đến mức ấy.
Nhưng, bàn tay che sao được mặt trời. Sự thực vẫn là sự thực, không dễ che đậy, ém nhẹm, giấu giếm, cố tình nói trại ra tự dối lòng mình. Cái con số 16 và con số 4 cộng lại là con số “bài cào”, tức là giản ước cho 10 thì bằng 0 (chỉ là con số không). Trung Quốc tự vạch ra khẩu hiệu quan hệ Việt-Trung theo phương châm “16 chữ ” trên tinh thần “4 tốt”. Lãnh đạo Việt Nam ta gật đầu nhận con “bài cào” đó, cứ tưởng ngon lành là “ông anh” láng giềng hữu hảo, tốt bụng thật lòng, cứ theo đó mà hô khẩu hiệu mạnh vào, không biết mệt. Nhưng, họ nói vậy mà đâu có làm. Họ không coi cái thứ “bài cào” do họ phát ra là gì. Thậm chí họ còn cười khẩy: “Hỉ hảo lắm a…, ta lừa như vậy mà VN cũng tin! Hỉ hảo!”.
Nhưng khi Việt Nam cố gắng “gương mẫu” giữ lời hứa, thì Trung Quốc cũng chẳng bao giờ thèm đếm xỉa, “mặc xác mày, việc tao, tao cứ làm!”. Đã nhiều năm, Việt Nam kiên trì “hữu hảo” đến mức cấm tiệt các báo “không được đụng đến Trung Quốc, không nêu Hoàng Sa, Trường Sa, không ai được nói đến chủ quyền…” lên mặt báo. Báo in, coi như bị tắc tị, bí rì. Báo mạng mà đưa lên là bị nhắc nhở, bị chặn ngay, thậm chí còn bị nghi ngờ liên quan "thế lực thù địch”. Người dân vì thấy bức xúc, vì lòng yêu nước, đi biểu tình cho dù tôn trọng trật tự và rất ôn hòa lên tiếng biểu thị thái độ chống sự xâm lấn của Trung Quốc cũng bị ngăn chặn, bị tống giam, đe dọa. Người ta đưa người yêu nước biểu tình vì chủ quyền dân tộc vào trại “phục hồi nhân phẩm”, như thế là mất nhân phẩm à, sao phải "phục hồi"? Người ta còn “gương mẫu cao độ” đến mức bắt người dân phải chịu “khổ nhục kế”, đem lòng tự trọng ra thế chấp đổi lấy hòa bình, mong đạt được cái tổng số "bài cào" 16 + 4...
Cả thời gian quá dài rồi, những bó “lạt mềm buộc chặt ấy”, tưởng như “đem đại nghĩa thắng hung tàn” thành công, lại bị Trung Quốc ra mặt coi thường, tráo trở và phản thùng. Thực tế cho thấy, cả “16 chữ” vẫn nguyên đấy, không thực thiđược gì cả. Rõ ràng phương châm “16 chữ" nay đã thành vô phương, vắt óc suy nghĩ vẫn không thấy cái mớ xà bần do TQ cào đống lại: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Hở ra là nhà cầm quyền Bắc Kinh chớp cơ hội lấn chiếm, tranh giành biển-đảo, làm sao mà có “láng giềng hữu nghị”? Còn “hợp tác toàn diện” cái kiểu gì mà chọn nơi địa thế có lợi về chiến lược, chiến thuật quân sự, nơi địa thế “đắc lợi” để qua đó lợi dụng đưa người Trung Quốc vào thật nhiều, không ít "lính Tàu mặc thường phục" đã lấy vợ người Việt tai nới "dự án đầu tư", chiếm cứ các vùng trọng yếu, các vị trí địa lý trọng điểm trên lãnh thổ Việt Nam?
Không dừng lại ở đó, nhiều năm qua Trung Quốc không ngừng “chơi hiểm” với Việt Nam, thực hiện “hợp tác toàn diện” và “láng giềng tốt” kiểu Tàu. Họ tìm mọi cách coi đường biên giới Việt – Trung như bờ rào rách, đưa người qua lại tự nhiên như đi chợ, rồi hàng gian hàng giả, thực phẩm độc hại gây ung thư, tiền giả tuồn sang; rồi lừa đảo mua bán chụp giật đẩy nông dân vào cảnh khốn cùng; lại tung tiền mua móng trâu, mắt trâu, lá vải, đọt cà phê, râu ngô non, rễ hồi, con sâm đất, khuyến khích nuôi ốc bưu vàng, nuôi đỉa, nuôi chuột với chủ đích phá hoại sản xuất, làm rối loạn thương trường, phá hoại môi trường, gieo rắc mầm dịch bệnh? Phá ngang, phách lối, trịch thượng như vậy, làm ăn cái kiểu chụp giật và hại nhau thẳng thừng như vậy, làm sao mà “ổn định lâu dài”? Còn “hướng tới tương lai” nào? Một tương lai mờ mịt với dân Việt là chiến tranh và nước mất nhà tan? Tương lai súng nổ rầm trời, khói lửa mịt mù, bom rung pháo dội, tang thương chết chóc, máu đỏ cả sông biển do chiến tranh, rồi cả đất nước Việt Nam thành tỉnh Quảng Nam của Trung Quốc là cái thứ “hướng tới tương lai” hay sao?
Thế còn “4 tốt” là láng giềng, bạn bè, đồng chí, đối tác. Sao đẻ ra những thứ làm mồi câu có vẻ thơm tho, ngon lành như thế để lừa mị sự cả tin và nết chân thật của người Việt Nam?
Trong khi Việt Nam cứ lo chăm đắp, giương cao khẩu hiệu con “bài cào”, thì Trung Quốc hung hăng tuyên bố chủ quyền bằng những ngắt khúc bút chỉ “đường Lưỡi Bò”, bắt ngư dân Việt, đưa tàu ngư chính, tàu hải giám đi vào tận thềm lục địa, vùng nội thủy của Việt Nam như trong “ao nhà”, cắt cáp tàu Bình Minh 2, nhiều đoàn tàu đánh cá lớn bé được Hải Giàm hộ tống ngang nhiên xâm phạm Trường Sa, phá ngang hội nghị ASEAN bàn về biển Đông, mời thầu 9 lô dầu mỏ trong thềm lục địa của Việt Nam, thành lập chính quyền, quân đội cho cái gọi là “thành phố Tam Sa”, rầm rộ đẩy xuất bến ồ ạt 23.000 tàu đánh cá vơ vét, công khai “lấy thịt đè người” trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam…Mới đây lại tổ chức nhiều đợt diễn tập bắn đạn thật có thực binh khu vực quần đảo Trường Sa, xây dựng khu du lịch biển, sân bay và gia tăng củng cố chính quyền, hợp thức hóa dân sự “thành phố Tam Sa”.
Rõ ràng, chúng ta càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Cho dù Bộ ngoại giao có nói cả triệu lần kháng nghị miệng, rồi công hàm “cực lực lên án” thì Trung Quốc vẫn coi như tiếng ong, tiếng ve, tiếng mèo kêu, gà cục tác, chẳng xem ra gì cả!
Thế nên, cái “vòng kim cô” do ai đó bày ra lâu nay thít chật cứng đến nghẹt thở đối với tuyên truyền, công luận, cả biểu tình… cũng phải dần dần được giãn ra. Nay đã thấy, từ chỗ không cho một chữ biển-đảo, Trường Sa, Hoàng Sa, hải quân… xuất hiện trên báo, mới đây nhiều tờ báo đã được dễ thở hơn khi đăng các bài viết về chủ quyền biển –đảo sau khi Luật Biển được quốc hội thông qua và hàng loạt hành động xâm phạm chủ quyền, khiêu khích, chửi bới VN...của Trung Quốc một cách có hệ thống. Riêng tờ báo được coi là “đại thận trọng” như báo Quân đội nhân dân gần đây đã có các bài: Đường lưỡi bò không có cơ sở pháp lý; Chứng cứ pháp lý về Trường Sa, Hoàng Sa; Bản đồ cổ không có Hoàng Sa, Trường Sa thu hút khách tham quan; Tính pháp lý đã rõ ràng, …Đồng thời, người ta cũng thấy các blog, các trang mạng viết về “khu vực cấm” này cũng ít bị quấy nhiễu như trước..
Bản chất và âm mưu bành trướng bá quyền của Trung Quốc đã rõ mồn một như thế, chẳng lẽ che tai, bịt mắt được mãi hay sao? Nếu biết “đem trí nhân thay cường bạo” thì hãy nhanh chóng phổ biến rộng rãi về Công ước quốc tế, về Luật biển, về những cơ sở và lý lẽ vững chắc trong việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập tự do cho nhân dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế. Hãy tổ chức gặp gỡ, hội nghị, hội thảo đa phương, mời các nhà khoa học, các nhà lịch sử trên thế giới, các chính khách ngoại giao vì công lý tham gia cùng chung tay góp sức vì hòa bình và ổn định để phát triển. Hãy tập hợp các loại bản bản đồ, chứng cứ pháp lý và phổ quát rộng cho cả thế giới biết và khởi kiện lên Tòa án Quốc tế, phải yêu cầu Liên hợp quốc can thiệp. Còn rất nhiều việc “không dùng vũ lực”, tránh xảy ra xung đột vũ trang mà Việt Nam phải làm, cần làm gấp. Được như thế thật là đáng mừng, đáng được an ủi và yên lòng dân.
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chỉnh phủ đã có cuộc trao đổi với phóng viên Infonet. Ông Trục nói rằng: Bộ ngoại giao và nhiều học giả bác lại những luận điệu của Trung Quốc, nhưng cũng chưa đủ để người dân hiểu rõ, hiểu sâu, hiểu đúng bản chất vấn đề Biển Đông. Trước tình hình đó, mỗi người dân phải làm gì, cần có biện pháp gì, định hướng như thế nào để cùng Nhà nước có được giải pháp cho vấn đề Biển Đông một cách thích hợp và có hiêu quả nhất?
Tình hình hiện nay đang thôi thúc chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về Biển Đông để cộng đồng trong nước, quốc tế và đặc biệt là người dân Trung Quốc hiểu rõ bản chất vấn đề Biển Đông. Nhân dân Việt Nam có truyền thông yêu nước, luôn luôn có ý thức bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, dám hy sinh tất cả vì sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền thiêng liêng của quốc gia, dân tộc…. Chính vì thế, trước những vi phạm trắng trợn chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển trong thời gian qua, họ đã lên tiếng và đã có những hành động thiết thực, bổ ích đáng được trân trọng, khích lệ và cần nhân rộng.
Vấn đề Biển Đông là vấn đề rất phức tạp, nhất là trong tình hình hiện nay. Trong khi đó nhận thức của người dân về Biển Đông mới chỉ được “đánh thức”, nhưng vẫn chưa hoàn toàn “tỉnh”. Cần phải phát động các phong trào hướng ra biển đảo một cách thiết thực và sinh động , vì đây là vận mệnh dân tộc, vấn đề mất còn chủ quyền quốc gia.
Việt Nam cần biết tự chủ, tự quyết, tự  bỏ đi cái "vòng kim cô" cứng nhắc bất lợi cho dân cho nước để cho người dân nước Việt Nam ta được tự do nói hết lòng mình, giãi bày tâm tư nguyện vọng, rộng đường tranh đấu chống thói xấu và cái ác, chống thù trong giặc ngoài, không bị "trỗi dậy hòa bình" nó lừa gạt mà sinh hậu họa khôn lường!
BVB
------------------

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Lịch sử, mắt xích yếu trong yêu sách biển của Bắc Kinh

* MOHAN MALIK 
Người dịch: Huỳnh Phan
Yêu sách của Bắc Kinh đối với gần như toàn bộ biển Đông hiện nay được tô vẽ trong các hộ chiếu mới và bản đồ chính thức của Trung Quốc (TQ). Lãnh đạo TQ và người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhấn mạnh với mức hung hăng ngày càng tăng rằng các đảo, đá, và các rạn san hô là “lãnh thổ từ thời xa xưa” của TQ. Thông thường, đối với chủ quyền và ranh giới biển thì các yêu sách lãnh thổ chồng lấn phải được giải quyết thông qua việc vận dụng kết hợp luật tập quán quốc tế, phán quyết trước Tòa án Quốc tế hoặc Tòa án Quốc tế về Luật Biển, hoặc trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Trong khi TQ đã phê chuẩn UNCLOS và Công ước này nói chung không chấp nhận bỏ các yêu sách “dựa trên lịch sử”, nhưng đó lại đúng là loại yêu sách mà Bắc Kinh đưa ra lúc này lúc khác. Hôm 4 tháng 9 năm 2012, Ngoại trưởng TQ, ông Dương Khiết Trì, nói với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rằng có “rất nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lý cho thấy rằng TQ có chủ quyền đối với các đảo ở biển Đông và các vùng biển liền kề”. 
Xét về mặt “bằng chứng pháp lý”, đại đa số các chuyên gia pháp lý quốc tế đều kết luận rằng yêu sách sở hữu (danh nghĩa) lịch sử của TQ đối với biển Đông, bao hàm thẩm quyền chủ quyền đầy đủ và đồng ý cho các nước khác đi ngang qua là không hợp lệ và không hợp pháp. Các bằng chứng lịch sử, nếu có, thậm chí còn kém thuyết phục. Có nhiều mâu thuẫn trong việc TQ sử dụng lịch sử để biện minh cho yêu sách của họ đối với các đảo và rạn đá ở biển Đông, không ít trong số đó là sự khẳng định đầy tranh cãi của họ về các tương đồng với việc bành trướng đế quốc chủ nghĩa của Hoa Kì và các cường quốc châu Âu trong thế kỉ XVIII và XIX. Biện minh cho những nỗ lực của TQ mở rộng biên giới biển của họ qua việc yêu sách các đảo và rạn đá xa bờ, Cổ Khánh Quốc (Jia Qingguo), giáo sư trường Đại học Quan hệ Quốc tế Bắc Kinh, cho rằng TQ chỉ đơn thuần theo gương phương Tây. “Hoa Kỳ thì có đảo Guamở châu Á ở rất xa đất Mỹ và người Pháp thì có các đảo ở Nam Thái Bình Dương, vì vậy chẳng có điều gì mới cả”, Cổ Khánh Quốc nói với AFP mới đây.
Phân tích sâu xa về các “bằng chứng lịch sử” làm cơ sở cho các yêu sách của TQ cho thấy rằng lịch sử thật ra không đứng về phía TQ. Nếu có thì yêu sách của TQ đối với quần đảo Trường Sa trên cơ sở lịch sử bị mắc mứu ở chỗ là không có đế chế nào của khu vực trước đây đã thực thi chủ quyền. Ở châu Á thời tiền hiện đại, các đế chế có đặc điểm là có các đường biên giới không xác định, không được bảo vệ, và thường thay đổi. Khái niệm về quyền bá chủ (suzerainty) chiếm ưu thế. Không giống như một nhà nước – dân tộc (nation-state), biên giới của đế chế TQ vừa không được vẽ cẩn thận vừa không bố phòng mà giống như các vòng tròn hay các khu vực, giảm dần từ trung tâm của nền văn minh ra đến vùng ngoại vi của người man di xa lạ. Quan trọng hơn, trong các tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng Ấn Độ, Miến Điện và Việt Nam, Bắc Kinh luôn luôn giữ lập trường cho rằng ranh giới trên bộ của họ chưa bao giờ được xác định, phân giới cắm mốc. Nhưng bây giờ, khi nói đến các đảo, bãi ngầm, và các rạn đá trong vùng biển Đông, Bắc Kinh lại tuyên bố khác đi. Nói cách khác, TQ tuyên bố rằng ranh giới trên bộ của họ chưa bao giờ được xác định và phân giới trong lịch sử trái ngược hẳn với lập trường rằng biên giới trên biển của TQ luôn luôn xác định và có phân giới rạch ròi. Mâu thuẫn cơ bản trong lập trường của TQ về biên giới trên bộ và biên giới trên biển nằm ở đây, nên nó không đứng vững được. Trên thực tế, chính những nỗ lực hồi giữa thế kỷ XX nhằm chuyển đổi các đường biên giới không xác định của các nền văn minh và vương triều xưa kia hưởng quyền bá chủ thành các đường biên giới xác định rạch ròi, giới hạn, và có phân giới của các nhà nước – dân tộc hiện đại thưc thi chủ quyền nằm ở trung tâm của các tranh chấp lãnh thổ và biển của TQ với các nước láng giềng. Nói một cách đơn giản, chủ quyền là một khái niệm hậu đế quốc gắn với nhà nước-dân tộc, không phải với các đế chế xưa kia.
Khái niệm về chủ quyền không phải là một khái niệm của TQ hoặc của châu Á mà là một khái niệm của châu Âu bắt nguồn với việc ký kết Hiệp ước Westphalia năm 1648. Chủ yếu là một khái niệm cho đất liền và mãi cho tới giữa thế kỷ XX mới áp dụng cho các nhà nước – dân tộc ở châu Á và châu Phi. Hệ thống nhà nước Westphalia dựa trên khái niệm về sự bình đẳng pháp lý hay chủ quyền quốc gia đối với biên giới xác định rõ ràng ngoài cùng phân biệt chính nó không những với chế độ phong kiến cũ ở châu Âu mà còn với các hình thức quyền bá chủ khác đã tồn tại vào thời điểm đó ở châu Á – Ba Tư, TQ và Ấn Độ. Trước khi có Hiệp ước Westphalia, các vương triều và đế chế ở châu Âu và các nơi khác không thể tuyên bố hoặc thực thi chủ quyền.
Lịch sử, như được biết đến, được viết bởi người chiến thắng, không phải bởi kẻ bại trận. Biên giới hiện tại của TQ phần lớn phản ánh những ranh giới được thiết lập trong thời hoàng kim của chủ nghĩa bành trướng nhà Thanh (Mãn Châu) thế kỷ XVIII, mà qua thời gian đã được kiên cố hoá thành biên giới quốc gia cố định (ngoại trừ Ngoại Mông, chủ yếu vì Liên Xô) theo sự áp đặt của hệ thống nhà nước – dân tộc Westphalia trên toàn châu Á trong thế kỷ XIX và XX. Tuy nhiên, lịch sử chính thống của TQ ngày nay thường bóp méo giai đoạn lịch sử phức tạp này, tuyên bố rằng người Mông, Tạng, Mãn, và Hán đều là người TQ, trong khi thật ra Vạn Lý Trường Thành được các triều đại TQ xây lên để bảo vệ Trung Hoa Hán tộc trước sự xâm lấn thường xuyên của người Mông Cổ và các bộ tộc Mãn Châu phía Bắc, bức tường thành này thực sự thể hiện vòng an ninh bên ngoài của đế chế Trung Hoa Hán tộc. Trong khi hầu hết các nhà sử học coi sự càn quét của các đoàn quân Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo trong những năm đầu thế kỷ XIII như một sự kiện phá hoại lớn đe dọa sự sống còn của các nền văn minh xưa ở Ấn Độ, Ba Tư, và các nước khác, người TQ lại cỗ võ một cách có ý thức huyền thoại cho rằng ông ta thực sự là người “TQ”, và do đó tất cả các khu vực mà người Mông Cổ (nhà Nguyên) đã từng chiếm đóng hoặc chinh phục (như Tây Tạng và phần lớn Trung và Nội Á) đều thuộc về TQ bằng cách vận dụng khái niệm về chủ quyền của phương Tây hồi thế kỷ XVI trở ngược lại cho châu Á thế kỷ XII. Các yêu sách của TQ đối với Đài Loan và biển Đông cũng dựa trên cơ sở là cả hai đều là bộ phận của đế chế Mãn Châu. (Trên thực tế, trong các bản đồ nhà Thanh hay Mãn Châu, chính đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được mô tả như là ranh giới cuối cùng phía nam của TQ). Trong phiên bản lịch sử này, bất kỳ lãnh thổ nào bị “người TQ” chinh phục trong quá khứ vẫn cứ luôn là của TQ, bất chấp cuộc chinh phục xảy ra vào lúc nào.
Việc viết và viết lại lịch sử từ góc độ dân tộc chủ nghĩa như thế để tăng cường sự đoàn kết dân tộc và tính chính đáng của chế độ đã được các nhà lãnh đạo của TQ cả phe Quốc dân đảng lẫn Cộng sản dành ưu tiên cao nhất. Lãnh đạo Đảng Cộng sản TQ tự xử sự một cách có ý thức như là người thừa kế di sản của đế chế TQ, thường sử dụng các biểu tượng và lối ăn nói của đế chế. Từ sách giáo khoa tiểu học cho đến các bộ phim truyền hình về lịch sử, hệ thống thông tin do nhà nước kiểm soát nhồi nhét các thế hệ người TQ về sự oai phong, vĩ đại của Trung Hoa đế chế. Như nhà Hán học Úc Geremie Barmé chỉ ra: “Trong nhiều thập kỷ, nền giáo dục và tuyên truyền TQ đã nhấn mạnh vai trò của lịch sử trong sự phát triển của nhà nước – dân tộc TQ … Trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao đã bị vứt bỏ hết chỉ còn cái tên thì vai trò của lịch sử trong tương lai của TQ vẫn kiên định”. Cứ như vậy đến nỗi lịch sử đã được các viện nghiên cứu, các phương tiện truyền thông và các cơ quan giáo dục do nhà nước điều khiển thêu dệt thành một công cụ lãnh đạo nhà nước (còn được gọi là “xâm lược bản đồ”).
TQ sử dụng chuyện dân gian, thần thoại, truyền thuyết, cũng như lịch sử để cổ suý yêu sách lãnh thổ trên bộ và trên biển lớn hơn. Sách giáo khoa TQ thuyết giáo khái niệm Vương triều Trung tâm (Trung Hoa) như là nền văn minh lâu đời nhất và tiên tiến nhất nằm ngay tại trung tâm của vũ trụ, bao quanh bởi các nước nhỏ hơn bị Hoa hóa một phần trong khu vực Đông và Đông Nam Á, các nước này phải liên tục cúi đầu thần phục họ. Phiên bản lịch sử TQ thường cố tình làm lu mờ sự phân biệt giữa những cái không gì khác hơn là ảnh hưởng bá quyền, mối quan hệ triều cống, quyền bá chủ với sự kiểm soát thực tế. Tán đồng quan điểm cho rằng những ai làm chủ được quá khứ sẽ khống chế hiện tại và vạch hướng cho tương lai, Bắc Kinh luôn luôn đặt cược rất cao vào “con bài lịch sử” (thường là một cách giải thích xét lại lịch sử) trong các nỗ lực ngoại giao của mình nhằm đạt được mục tiêu của chính sách đối ngoại, nhất là để bắt các nước khác nhượng bộ lãnh thổ và ngoại giao. Hầu như tất cả các nước tiếp giáp, lúc này hay lúc khác, đều bị sức mạnh vũ lực của TQ đụng đến – Mông Cổ, Tây Tạng, Miến Điện, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Việt Nam, Philippines, và Đài Loan – và đều là đối tượng cho lịch sử xét lại của TQ. Như Martin Jacques lưu ý trong cuốn When ChinaRules the World (Khi TQ thống trị thế giới) “Chủ nghĩa Hoa vi trung đế quốc định hình và là nền tảng cho chủ nghĩa dân tộc TQ hiện đại”. Nếu không được kiểm soát, sự kiêu căng đế quốc hoặc lòng luyến tiếc quay về quá khứ có thể có những hậu quả không thể đoán trước cho hòa bình và ổn định khu vực.
Nếu ý tưởng về chủ quyền quốc gia xuất hiện ở châu Âu thế kỷ XVII và hệ thống đó bắt nguồn từ Hiệp ước Westphalia, thì ý tưởng về chủ quyền trên biển chủ yếu là khái niệm do Mỹ đặt ra giữa thế kỷ XX mà TQ đã vơ vào để mở rộng biên giới biển của mình. Như Jacques lưu ý, “Ý tưởng về chủ quyền trên biển là một phát minh tương đối gần đây, bắt đầu từ năm 1945 khi Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ có ý định thực hiện chủ quyền đối với lãnh hải của họ”. Trong thực tế, Công ước LHQ về Luật Biển thể hiện nỗ lực quốc tế nổi trội nhất nhằm áp dụng các khái niệm về chủ quyền trên đất liền vào lĩnh vực biển trên toàn thế giới – tuy vậy điều quan trọng là nó bác bỏ ý tưởng biện minh bằng quyền lịch sử. Vì vậy, mặc dù Bắc Kinh yêu sách khoảng 80% biển Đông là “vùng nước lịch sử” (và hiện đang tìm cách nâng yêu sách này lên thành một “lợi ích cốti” ngang với các yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan và Tây Tạng), nói theo lịch sử, nếu TQ có quyền yêu sách biển Đông tới mức nào thì Mexico cũng có quyền yêu sách sử dụng độc quyền vịnh Mexico, hoặc Iran đòi Vịnh Ba Tư, hay Ấn Độ đòi Ấn Độ Dương đến mức đó. Nói cách khác, chẳng có chủ quyền gì cả. Theo quan điểm pháp lý, “việc tên gọi ‘biển Nam Trung Hoa’ được sử dụng nhiều không [có ý] trao chủ quyền lịch sử cho TQ“. Các nước sử dụng lịch sử để yêu sách chủ quyền đối với các đảo đều có sự đồng ý của nước khác và có cách giải thích lịch sử được các bên chấp nhận – cả hai yếu tố này đều không có ở Biển Đông.
 Các đế chế xưa hoặc giành được quyền kiểm soát vùng lãnh thổ thông qua xâm lược, thôn tính hay đồng hóa hoặc để mất chúng vào tay đối thủ có binh lực hoặc khả năng cai quản nhà nước ưu việt hơn. Mở rộng và thu hẹp lãnh thổ là chuẩn mực, được xác định bởi sự hùng mạnh hay sự suy yếu của một vương triều hay đế chế. Ý tưởng “lãnh thổ thiêng liêng” là phi lịch sử bởi vì việc kiểm soát lãnh thổ thì dựa trên việc nước nào tóm được hoặc lấy cắp những gì thuộc nước khác cuối cùng. Biên giới của nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Minh khi nở khi co suốt trong lịch sử. Một Trung Hoa đế chế hùng mạnh, giống như nước Nga Sa hoàng, là kẻ bành trướng ở vùng Nội Á và Đông Dương mỗi khi cơ hội xuất hiện và sức mạnh cho phép. Việc bành trướng lãnh thổ dần dần qua nhiều thế kỷ dưới hai triều đại không Trung Hoa là Mông Cổ và Mãn Châu mở rộng sự kiểm soát của triều đình TQ đối với Tây Tạng và nhiều vùng đất ở Trung Á (nay là Tân Cương), Đài Loan và Đông Nam Á. Trên thực tế, TQ hiện đại là một “nhà nước-đế chế” đội lốt một nhà nước-dân tộc.
Ngay cả khi người ta phải chấp nhận lập luận “yêu sách lịch sử” của Bắc Kinh cho một thời điểm thì vấn đề lại là đế chế Trung Hoa không phải là đế chế duy nhất ở châu Á thời tiền hiện đại và trên thế giới. Còn có các đế chế và vương triều khác nữa. Nhiều nước có thể đưa ra “yêu sách lịch sử” có cùng giá trị như thế đối với những vùng đất hiện nay không phải là phần lãnh thổ của họ mà đang đặt dưới sự kiểm soát của TQ (ví dụ , vùng Cam Đa (Gando) ở tỉnh Cát Lâm, TQ thuộc về Triều Tiên) . Trước thế kỷ XX, ở châu Á không có nhà nước – dân tộc có chủ quyền với biên giới thuộc thẩm quyền và trong tầm kiểm soát được xác định về mặt pháp lý rõ ràng. Nếu các yêu sách của TQ biện minh được trên cơ sở lịch sử, thì các yêu sách lịch sử của Việt NamPhilippines dựa trên lịch sử cũng biện minh được. Ví dụ, các sinh viên lịch sử châu Á đều biết rằng dân MaLaysia có liên hệ đến người Philippineshiện nay nên yêu sách của họ đối với Đài Loan sẽ thuyết phục hơn nhiều so với Bắc Kinh. Bởi vì Đài Loan ban đầu được định cư bởi con cháu những người Malay-Polynesian – tổ tiên của các nhóm thổ dân ngày nay – họ từng sống ở vùng đồng bằng thấp ven biển. Nhà quan sát Châu Á nổi bật Philip Bowring lập luận rằng “[s]ự kiện TQ có những ghi chép lịch sử lâu dài không làm mất hiệu lực lịch sử các quốc gia khác thể hiện qua các hiện vật, ngôn ngữ, dòng giống và các quan hệ di truyền, các bằng chứng về giao thương và đi lại”.
Trừ khi tán đồng khái niệm về ngoại lệ của TQ, “yêu sách lịch sử” của TQ đế chế có giá trị giống như những vương triều và đế chế khác trong khu vực Đông Nam và Nam Á. Vấn đề với lịch sử là vạch ra lằn ranh ở đâu, lúc nào, tại sao thế, và quan trọng hơn là phiên bản lịch sử của nước nào là chính xác. TQ đưa ra yêu sách về quyền sở hữu đối với thuộc địa của đế chế Mông Cổ và Mãn Châu sẽ tương tự như Ấn Độ đưa ra yêu sách đối với Afghanistan, Bangladesh, Miến Điện, Malaysia (Srivijaya), Nepal, Pakistan và Sri Lanka trên cơ sở rằng tất cả các nước này đều bộ phận hoặc của đế chế Maurya, Chola hoặc của đế chế Moghul và đế quốc Ấn Độ thuộc Anh. Suốt từ thể kỷ X tới thế kỷ XIII, một số vị vua của Pallava và Chola ở miền nam Ấn Độ đã tập hợp lực lượng hải quân và quân đội lớn lật đổ các vương triều lân cận và thực hiện các cuộc tấn công trừng phạt đối với các nước trong khu vực vịnh Bengal . Họ cũng đã ra biển để chinh phục nhiều khu vực thuộc những vùng đất mà bây giờ là Sri Lanka, MalaysiaIndonesia. Trong nghiên cứu về văn hóa chiến lược Ấn Độ, George Tanham nhận xét: “Trong cái thực sự là một cuộc chiến về thương mại giữa TQ, Ấn Độ và châu Âu, người Cholas đã khá thành công trong các can dự cả về hải quân lẫn đất đai và đã cai trị nhiều phần của Đông Nam Á trong một thời gian ngắn”.
Các yêu sách của TQ ở biển Đông cũng đánh dấu một sự chuyển đổi lớn khỏi định hướng địa chính trị lâu đời đối với cường quốc lục địa. Với việc tuyên bố có một truyền thống mạnh mẽ về đi biển, TQ đề cập nhiều cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương và Châu Phi đầu thế kỷ XV. Nhưng, như Bowring chỉ ra rằng ”Trong lĩnh vực hàng hải bên ngoài vùng nước ven biển thì người TQ thực sự là kẻ đi sau. Trong nhiều thế kỷ, các bậc thầy của các đại dương là dân Malay-Polynesian, những người từng thuộc địa hóa phần lớn thế giới, từ Đài Loan đến New Zealand và Hawaii về phía nam và phía đông , rồi Madagascar về phía tây. Các chum đồng đã được giao thương với Palawan, ngay phía nam của Scarborough vào thời của Khổng Tử. Khi những nhà tu Phật giáo TQ như Pháp Hiển (Faxian) đi Sri Lanka và Ấn Độ vào thế kỷ V, họ đã đi trên tàu do người MaLaysia sở hữu và điều khiển. Tàu từ vùng mà nay là Philippines đã giao thương với Phù Nam, một nước hiện nay là miền Nam Việt Nam, cả ngàn năm trước nhà Nguyên”.
Và cuối cùng, cái gọi là “yêu sách lịch sử” của TQ đối với biển Đông thực sự không phải là “hàng thế kỷ”. Các yêu sách này chỉ bắt đầu từ năm 1947, lúc chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch vẽ ra cái gọi là “đường 11 đoạn” trên bản đồ biển Đông của TQ, bao quanh quần đảo Trường Sa và các chuỗi đảo khác mà Quốc Dân Đảng cầm quyền tuyên bố thuộc chủ quyền TQ. Chính Tưởng Giới Thạch, khi nói rằng đã xem phát xít Đức như một mô hình cho TQ, đã bị cuốn hút bởi ý tưởng Nazi (Quốc xã) về một Lebensraum (“không gian sống”) mở rộng cho dân tộc Trung Hoa. Ông đã không có cơ hội để tự mình thành kẻ theo chủ nghĩa bành trướng bởi vì người Nhật buộc ông vào thế phòng thủ, nhưng những người vẽ bản đồ của chế độ Quốc dân đảng đã vẽ đường chữ U 11 đoạn trong cố gắng để mở rộng “không gian sống” của TQ ở biển Đông chẳng bao lâu sau khi Nhật thua trận trong Thế chiến II. Rõ ràng, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cũng đã tức giận về các bản đồ thời Thế chiến II của Nhật Bản cho thấy toàn bộ biển Đông như một cái hồ của Nhật Bản. Lần đầu tiên chính phủ TQ cho tàu hoạt động đi vào vùng biển Đông là vào năm 1947 với chuyến đi của các tàu Trung Hoa Dân Quốc Trung Kiện (Zhongjian), Trung Nghiệp (Zhongye) Thái Bình (Taiping và Vĩnh Hưng(Yongxing.) Mãi đến nhiều năm sau đó họ mới bắt đầu việc khảo sát. Sau khi Đảng Cộng sản TQ chiến thắng trong cuộc nội chiến vào năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiếp nhận cú xâm lược bản đồ này, chỉnh lại khái niệm của Tưởng Giới Thạch thành “đường 9 đoạn” sau khi xóa hai đoạn ở Vịnh Bắc Bộ năm 1953 thể hiện cả những chỗ mà chính phủ THDQ chưa từng đến. Cho mãi tới năm 2005 , bản đồ bãi cạn Scarborough do Hải quân PLA công bố chỉ là một bản sao y từng dữ liệu một của bản đồ Hải quân Mỹ (cảm ơn Barney Moreland đã cung cấp cho tác giả thông tin này).
Từ khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc, TQ đã vẽ lại bản đồ của họ, xác định lại biên giới, tạo dựng bằng chứng lịch sử, sử dụng vũ lực để tạo ra các thực thể lãnh thổ mới, đặt tên lại các đảo, và tìm cách áp đặt phiên bản lịch sử của mình lên các vùng biển trong khu vực. Nặm 1972 họ thông qua “Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải”, tuyên bố chủ quyền 4/5 biển Đông, tiếp sau là những cuộc đụng độ vũ trang với hải quân Philippines và Việt Nam trong suốt những năm 1990. Gần đây hơn, họ phái một số lượng lớn tàu cá và tàu hải giám đến vùng biển tranh chấp theo cái tương tự như cuộc “chiến tranh nhân dân trên vùng biển quốc tế” đã làm tăng căng thẳng nhiều hơn. Trích lời bình luận Sujit Dutta, “chủ thuyết phục hồi lãnh thổ không suy giảm của TQ dựa trên … lý thuyết rằng vùng ngoại vi phải được chiếm cứ để đảm bảo an toàn cho vùng lõi. [Điều này] là một khái niệm cơ bản thời đế chế đã được phe dân tộc chủ nghĩa TQ – cả Quốc Dân Đảng lẫn Cộng sản – quốc tế hóa. Những nỗ lực của chế độ [hiện nay] để vươn tới biên giới địa lý theo họ tưởng tượng thường có cơ sở lịch sử ít ỏi và tiếp tục có hậu quả chiến lược bất ổn cao”.
Rõ ràng, một lý do mà dân Đông Nam Á cảm thấy khó chấp nhận yêu sách lãnh thổ của TQ là điều đó sẽ có nghĩa là chấp nhận ý niệm về sự ưu việt của chủng tộc Hán hơn các chủng tộc và đế chế châu Á khác. Jay Batongbacal thuộc trường Đại học luật Philippines nói: “Một cách trực giác, chấp nhận đường 9 đoạn là một sự chối bỏ tương ứng về bản sắc và lịch sử thật sự của tổ tiên người Việt Nam, Philippines, và Malaysia, thực chất đó là việc hồi sinh trong thời hiện đại sự phỉ báng các sắc dân không TQ là ‘man di’ không được hưởng sự tôn trọng và phẩm giá ngang bằng với tư cách là các dân tộc”.
Tóm lại, các đế chế và vương triều không bao giờ thực thi chủ quyền. “Vấn đề lịch sử” là rất phức tạp và không thừa nhận cách giải thích dễ dãi. Nếu yêu sách lịch sử có giá trị nào đó thì Mông Cổ có thể yêu sách tất cả các khu vực của châu Á đơn giản là vì họ đã từng chinh phục các vùng đất của châu lục này. Hoàn toàn không có cơ sở lịch sử để hậu thuẫn bất cứ yêu sách nào trong những yêu sách đường nhiều đoạn đó, nhất là xét rằng các vùng lãnh thổ của đế chế TQ chưa bao giờ được phân định biên giới kỹ càng như các nhà nước – dân tộc mà chỉ tồn tại như các vùng ảnh hưởng từ một trung tâm văn minh giảm dần đi. Đây là lập trường mà TQ đương đại bắt đầu xác lập vào thập niên 1960 khi đàm phán biên giới trên trên bộ với nhiều láng giềng. Nhưng đó không phải là lập trường của họ hiện nay trong các cuộc chạm trán về bản đồ, ngoại giao và quân sự mức thấp để xác định biên giới.
Việc diễn giải lại liên tục lịch sử để đẩy mạnh các yêu sách chính trị, lãnh thổ trên bộ và trên biển hiện đại, kết hợp với khả năng của giới lãnh đạo Cộng sản kích động hay dập tắt “các cao trào dân tộc chủ nghĩa” giống như tắt mở một khoá nước trong những thời điểm có căng thẳng với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Philippines, khiến Bắc Kinh khó trấn an các nước láng giềng rằng “sự trỗi dậy hòa bình” của họ là hoàn toàn hòa bình. Chấp nhận phiên bản lịch sử của TQ được xem như tương đương với chối bỏ lịch sử của các nước khác và ý niệm bình đẳng về chủ quyền của các nhà nước – dân tộc. Do có sáu bên yêu sách các đảo san hô vòng, đảo thường, đảo đá, và các mỏ dầu ở biển Đông, các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, tự bản chất, là những tranh chấp đa phương đòi hỏi phân xử qua trọng tài quốc tế. Nhưng việc Bắc Kinh một mực đòi theo cách tiếp cận song phương để giải quyết tranh chấp chủ yếu dựa vào niềm tin rằng Bắc Kinh có thể thành công do sức mạnh tương đối lấn lướt của TQ và sự chia rẽ của ASEAN. Tuyên bố của TQ về “chủ quyền không thể tranh cãi đối với biển Đông” có nguồn gốc vào cuối thập niên 1940 – chứ không phải trong lịch sử xa xưa – đặt ra một thách thức đối với tất cả các quốc gia biển.
Mohan Malik là giáo sư thuộc Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương về Nghiên cứu An ninh, Honolulu. Đây là những quan điểm cá nhân của tác giả và không phản ánh quan điểm của Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương. Một phiên bản trước, ngắn hơn xuất hiện trong World Affairs, tháng5 / 6 năm 2013. Gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Carleton Cramer, Carlyle Thayer, Justin Nankivell, Denny Roy và Barney Moreland vì nhừng  ý kiến và góp ý vô giá.
(Nguồn:  Ba Sàm  )
---------------

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Tàu sân bay INS Vikran của Ấn Độ

…Giới phân tích cho rằng INS Vikrant, sẽ được trang bị và lắp đặt các loại vũ khí và máy móc trước khi đưa vào thử nghiệm trong bốn năm tới, là tiến bộ vượt bậc về mặt kỹ thuật và quân sự của Ấn Độ - quốc gia đang tích cực thể hiện mình và xác lập tầm ảnh hưởng tại châu Á. Rahul Bedi, một chuyên gia quốc phòng cộng tác với "Tuần báo Quốc phòng" của tổ chức IHS Jane's, nói với AFP: "INS Vikrant sẽ được triển khai tại Ấn Độ Dương, nơi quy tụ nhiều lợi ích về kinh tế và thương mại của toàn thế giới".
Trước đó, hôm 10/8, Ấn Độ cũng tuyên bố tàu ngầm hạt nhân đầu tiên do nước này tự thiết kế và chế tạo đã sẵn sàng cho các cuộc thử nghiệm trên biển. Thủ tướng Manmohan Singh đã gọi đây là một "bước tiến dài" đối với Ấn Độ. Chuyên gia Bedi nói: "Tất cả các sự kiện này đều là thuộc kế hoạch nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh cũng như tầm ảnh hưởng của Ấn Độ, từ đó gia tăng vị thế trên lĩnh vực ngoại giao". …
                    >> Đọc tiếp/Nguồn  
---------------

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Trung Quốc 'leo thang'...

1- Biển Đông nổi sóng đánh thức lòng yêu nước của mỗi người”
Đúng như Bác Hồ từng nói: Khi hòa bình lòng yêu nước được cất trong rương trong hòm, khi đất nước hữu sự, lòng yêu nước ấy được thể hiện, bùng lên mạnh mẽ…
Mặc dù ít được chú ý bởi giới phân tích nước ngoài nhưng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gần đây rõ ràng đã phát đi tín hiệu thể hiện mong muốn làm dịu nhẹ các cuộc tranh chấp ở Biển Đông và biển Hoa Đông…
              >> Đọc tiếp/Nguồn  
---------------

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

Trung Quốc ngang ngược...


… Giới phân tích nghi nhận thêm là Trung Quốc không còn tôn trọng tình trạng nguyên thủy trong vùng biển đảo có tranh chấp chủ quyền.
Năm 2012, hải quân Trung Quốc đã ngang nhiên đánh chiếm bãi đá ngầm Scarborough của Philippinesmà họ gọi là Hoàng Nham.
Năm nay, Trung Quốc phô trương chương trình du lịch tại Tây Sa tức là đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cùng lúc đó, trên các trang mạng quân sự, Trung Quốc cố ý cho thấy một góc của một hàng không mẫu hạm mới trong một công xưởng gần Thượng Hải. Chuyên gia của tạp chí quốc phòng Anh Jane’s nghĩ rằng đây là một đoạn vỏ tàu nhưng cũng có thể là mẫu mô hình.
Tham vọng và những động thái xác định tham vọng này của Trung Quốc đã gây lo ngại cho nhiều nước trong khu vực và mở đầu cho một kế hoạch võ trang khẩn cấp để phòng thủ biển đảo.

                         >> Đọc tiếp/Nguồn  
----------------

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

QUAN CHỨC MÓC NGOẶC ĐẠI GIA...

 ... Theo PGS.TS Đỗ Minh Cương, muốn hạn chế tình trạng quan chức móc ngoặc với doanh nhân thì cần có những văn bản pháp luật quy định về mối quan hệ này, có những điều cấm và chế tài mạnh để ngăn ngừa nguy cơ cán bộ, công chức dùng ảnh hưởng từ chức vụ, vị trí công tác để trục lợi, chạy theo lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và ngành của mình. Đồng thời, trong công tác tư tưởng, công tác cán bộ cần tiếp tục đề cao đức liêm chính, tính gương mẫu của người cán bộ, đảng viên. Cần thực thi, thực hành được các nguyên tắc dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình trong các hoạt động quản lý của Nhà nước đối với nhân dân, nhất là trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, kinh doanh và các dịch vụ xã hội.  
                        >>  Đọc tiếp/Nguồn   
---------------

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Tréo ngoe như ông Tập !?

 
… Tuyên bố của ông Tập Cận Bình ngày 30/7 về việc xây dựng TQ thành cường quốc về biển, nội dung đó không có gì khác so với những điều TQ trước đây vẫn nói. Trước đây TQ từng nhiều lần nói rằng họ muốn thúc đẩy, phát triển thành cường quốc về biển, biển đối với họ ngày càng có vị trí quan trọng trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ. 
Ông Tập Cận Bình nêu ra phương châm này với ngôn từ mạnh mẽ hơn, rõ ràng hơn so với những gì lãnh đạo TQ trước đây đã nói: "Chủ quyền thuộc TQ, gác tranh chấp, cùng hợp tác". Động thái này cần hết sức đáng lưu ý trong tình hình hiện nay. Điều đó cho thấy chiến lược độc chiếm Biển Đông thành ao nhà của TQ vẫn không có gì thay đổi, thậm chí đang được đẩy mạnh. Trong 17 năm qua, tôi theo dõi thấy rằng có lúc này lúc khác TQ không nhắc tới vế “chủ quyền thuộc TQ”, chỉ nhắc vế gác tranh chấp cùng khai thác, thậm chí có lúc chỉ nhắc “cùng khai thác”…
                       >>  Đọc tiếp/Nguồn   
----------------

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

“TỰ TRÓI” GIỮA BIỂN ĐÔNG?

* BÙI VĂN BỒNG
Việc Trung Quốc chuẩn bị xua hàng chục nghìn tàu cá ‘vơ vét’ hải sản  trên Biển Đông đang gây dư luận ở khu vực và trên thế giới. Theo tin từ Nam Phương Nhật báo, khoảng 9.007 tàu đánh cá của tỉnh Hải Namđã kết thúc giai đoạn sửa chữa và  sẽ  tiến vào Biển Đông trong vài ngày tới.
Tờ báo còn loan tin các tàu thuyền trên vùng biển duyên hải Quảng Đông (Trung Quốc) rất dày đặc nên sẽ có nhiều tàu cá ra biển đánh bắt ngay khi lệnh cấm kết thúc. Kế hoạch xâm lấn Biển Đông này một lần nữa cho thấy những tuyên bố “thực hiện đúng DOC” và “đang thúc đẩy ký kết COC” từ các quan chức của chính quyền Bắc Kinh không đi đôi với hành động của họ, nhất là khi chỉ còn một tháng nữa, Trung Quốc và ASEAN sẽ tiếp tục có cuộc họp cấp cao để đàm phán về việc ký kết Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông.
            >> Trung Quốc với phương châm…
            >>  Bản đồ không có Hoàng Sa, Trường Sa   
             >> Trong lộ trình…
           Trước đó, bắt đầu từ tháng 7/2013 Trung Quốc chính thức thống nhất 4 lực lượng công vụ bán vũ trang trên biển thành Cảnh sát biển Trung Quốc với số lượng hùng hậu nhất từ trước đến nay và được trang bị vũ khí, phương tiện mạnh hơn để thực hiện cái gọi là tuần tra, chấp pháp ở các vùng biển tranh chấp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông. Trong mấy tháng qua hàng trăm chiếc tàu tuần tra của các lực lượng này đã được sơn lại, một số tàu được trang bị vũ khí hạng nặng và tất cả nhân viên thay đồng phục Cảnh sát biển - một lực lượng bán quân sự. Trung Quốc đã sơn lại toàn bộ các tàu Hải giám, Ngư chính, Hải quan và Cảnh sát biển thành một loại thống nhất, Cảnh sát biển Trung Quốc, sơn trắng, 1 sọc đỏ đậm 4 sọc xanh lam nghiêng trên thân tàu cho "hợp tiêu chuẩn quốc tế. Một phần của chiến lược nguy hiểm này, trong năm nay Trung Quốc bắt đầu thực thi các quy định mới (vô lý, phi pháp và do Bắc Kinh tự đặt ra) cho phép tàu Cảnh sát biển Trung Quốc hộ tống, hoặc trục xuất tàu nước ngoài trên hầu hết các khu vực thuộc Biển Đông.
Một động thái khác, theo Reuters, hai tập đoàn dầu khí của Trung Quốc này sẽ khai thác lô 35/10 tại Bể Sông Hồng trên Biển Đông với tổng diện tích 3.427km 2 và nằm ở độ sâu từ 80-110m dưới mực nước biển. Trong đó, Shell sẽ tiến hành khảo sát địa chất và chịu mọi chi phí trong giai đoạn thăm dò. Tỷ lệ ăn chia của lô hợp đồng này là 51% dành cho CNOOC và 49% dành cho Shell. Đây là khu vực nằm ở phía bắc Biển Đông, thuộc Vịnh Bắc Bộ, có dạng hình thoi kéo dài từ miền võng Hà Nội ra Vịnh Bắc Bộ và vùng biển miền Trung nước ta.
            Mới hôm qua (1-8), Chi cục Hải quan sân bay Quốc tế Đà Nẵng phát hiện và ngăn chặn kịp thời nhiều vụ người Trung Quốc mang váo Việt Nam bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” phi pháp, các ân phẩm in ‘thành phố Tam Sa’, ấn phẩm in hình bản đồ Việt Nam không có Hoàng Sa, Trường Sa. Theo Chi cục Hải quan Sân bay quốc tế Đà Nẵng, các ấn phẩm và bản đồ nêu trên thể hiện sai chủ quyền quốc gia Việt Nam, vi phạm quy định hoạt động báo chí, xuất bản và xuất nhập khẩu văn hóa phẩm. Hiện cơ quan chức năng lập biên bản tạm giữ toàn bộ ấn phẩm, bản đồ trên và tiếp tục xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
            Thời gian gần đây, Trung Quốc triển khai nhiều kế hoạch “cùng khai thác”, không chỉ với Việt Nam mà còn với một số nước khác có lãnh hải trên Biển Đông. Ai cùng biết, khai thác chung, hoặc “gác tranh chấp cùng khai thác” là một trong chiến lược “Ba bước lấn tới” (chiến lược 'Sói gửi chân') của Trung Quốc, khai thác chung rồi chiếm luôn, nằm trong sách lược “xâm lược mềm”, âm mưu “bất chiến tự nhiên thành”...
Hôm thứ Tư 31/7, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói Trung Quốc muốn gác tranh chấp, cùng khai thác, nhưng tái khẳng định chủ quyền đối với phần lớn Biển Đông. Kênh truyền hình trung ương của Trung Quốc dẫn lời ông Tập nói: "Chúng ta cần nhắc lại rằng chủ quyền thuộc về chúng ta, nhưng chúng ta có thể gác tranh chấp, cùng khai thác, thúc đẩy hợp tác hữu nghị và cùng có lợi, tìm kiếm và mở rộng các lợi ích chung".
Việt Nam và Philippines là hai nước đang trực tiếp liên quan tới các tranh chấp gay gắt ở Biển Đông với Trung Quốc. Philippines đang phải giải quyết tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông. Ông del Rosario cho hay Philippines và Việt Nam có chung quan điểm không chấp thuận dự án chung như thăm dò khai thác dầu khí với Trung Quốc nếu như Bắc Kinh tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với các vùng biển này.
            Phân tích về Tuyên bố chung Việt-Trung ký ngày 21-6, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Về vấn đề trên biển, … hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của chúng ta, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta được xác nhận theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982. Phía Trung Quốc hoàn toàn không có gì, cái “lưỡi bò” do chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc tự vẽ không có giá trị, không được quốc tế thừa nhận, Trung Quốc chỉ to mồm tuyên bố khống chủ quyền gần hết biển Đông (trước đây gọi là biển Nam Trung Hoa). Họ không có gì lại đòi “hai bên đều có thể chấp nhận được”. Thật vô lý!
“…Nay trong bản tuyên bố chung, Trung Quốc ghi được: “thỏa thuận giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc thiết lập đường dây nóng về các việc phát sinh đột xuất của nghề các trên biển… xử lý thỏa đáng các vụ việc phát sinh đột xuất… phù hợp với quan hệ hai nước”; “sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng…”.
 “Phối hợp” có nghĩa là đồng ý với những chủ trương của Trung Quốc. Trong các diễn đàn nói trên, các nước như Philippines, Malaysia, Singapore, Brunei thường nêu việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của họ, họ đặt vấn đề không dùng vũ lực, sớm hoàn thiện và ký COC. Trong khi đó, vì “phối hợp” nên Trung Quốc cản được Việt Nam không nói gì đến thái độ và hành động của họ ở biển Đông, lĩnh vực mà trung Quốc ở thế yếu về chính trị và pháp lý trước dư luận…Việt Nam là nạn nhân chính trong vấn đề biển Đông mà không nêu ý kiến gì khiến các nước ASEAN có liên quan nghi ngờ thái độ của Việt Nam, ảnh hưởng đến sự đoàn kết thành một khối vững chắc giữa các nước bị xâm phạm chủ quyền để đối phó với chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc. Rõ ràng là bản “Tuyên bố chung” hoàn toàn lợi cho Trung Quốc còn phía ta lại bị ràng buộc bởi nhiều điểm trong các mục...
            Phân tích của tướng Nguyễn Trong Vĩnh trên đây rất đúng. Rõ ràng những câu chữ như thế này trong Tuyên bố chung có lợi cho ai? Và Việt Nam ký tức thì khác nào tự lấy dây trói mình: “Hai bên hoan nghênh Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa doanh nghiệp hữu quan hai nước, nhất trí mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận, kéo dài thời hạn thỏa thuận, cùng nhau thúc đẩy hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ sớm đạt được tiến triển tích cực…Trước khi tranh chấp trên biển được giải quyết dứt điểm, hai bên nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp đồng thời sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt-Trung”…
           Sau Tuyên bố chung, Trung Quốc triển khai nhanh và đồng loạt nhiêu hoạt động âm lấn Biển Đông. Phải chăng, cần nhận diện: Với tuyên bố chung, Việt Namdang “tự trói mình” một cách rất “hào phóng”, vô tư và mất cảnh giác trên Biển Đông?
BVB
------------------

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Mỹ - Vị thế cường quốc tại Châu Á - Thái Bình Dương

…Phát biểu trước thủy thủ đoàn trên chiến hạm USS Freedom đang neo tại cảng Singapore vào ngày 27/7/2013, nhân vật số 2 ở Nhà Trắng, Phó Tổng thống Joe Biden đã nhấn mạnh đến vai trò của Washington tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Theo ông, trong nhiều thập niên qua, sự hiện diện của Mỹ tại đây đã “giúp cho nhiều quốc gia trong vùng tập trung vào việc tăng trưởng kinh tế để nơi này trở thành một khu vực thịnh vượng và ổn định” . Ông Biden khẳng định: “Mỹ là một cường quốc tại Thái Bình Dương và điều đó sẽ không thay đổi”.
… Cũng tại Singapore, trong một cuộc tham luận tại cơ sở của Pratt&Whiney, tập đoàn Mỹ trong ngành chế tạo máy bay, ông Biden đã trực tiếp đề cập đến mối “căng thẳng ngày càng gia tăng tại Biển Đông”. Ông nói, “những sự cố ngày càng xảy ra thường xuyên hơn trên biển và những hành động cứng rắn tại Biển Đông mà chúng ta đã thấy trong thời gian gần đây, biểu hiện mối đe dọa đối với an ninh khu vực”. Phó Tổng thống Mỹ cảnh báo nếu không tìm cách xoa dịu tình hình, “căng thẳng có thể dẫn tới xung đột”.
                                 >>  Đọc tiếp/Nguồn    
-----------------

PGS, TS Trần Ngọc Toản: Tất cả vì Biển Đông yêu dấu

Dáng người nhỏ nhắn, tác phong nhanh nhẹn và gần gũi, đó là cảm nhận của tôi khi lần đầu gặp PGS, TS Trần Ngọc Toản - tác giả của rất nhiều cuốn sách, trong đó Biển Đông yêu dấu (NXB Trẻ) - một tác phẩm đặc biệt truyền đến lớp trẻ tình yêu, sự hiểu biết, kiến thức rộng lớn về biển cả của đất nước mình.
PGS, TS Trần Ngọc Toản là một trong những người Việt đầu tiên được đào tạo về dầu khí, là một trong những người gắn bó lâu dài nhất với ngành dầu khí và đào tạo về dầu khí của Việt Nam.
Duyên nợ với ngành dầu khí
Sinh ra tại xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, cậu bé Toản (lúc bấy giờ tên là Mười) sớm chứng kiến cảnh giặc tàn phá quê hương. Sự chiến đấu, bị bắt bớ, giam cầm, hy sinh của các anh chị ruột, bản thân Mười phải theo bố mẹ vào ở tù từ năm 11 tuổi và bố mẹ cũng mất tại đây đã tiếp thêm lòng yêu nước và căm thù giặc trong lòng cậu bé. 13 tuổi, Mười làm liên lạc cho cách mạng và được đặt tên là Trần Quốc Toản, nhưng cậu tự thấy mình không xứng nên đổi thành Trần Ngọc Toản.
Với những thành tích xuất sắc, Toản được bầu làm chiến sĩ thi đua của Liên khu V, sau đó tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc. Trong chiếc lán tre ở rừng chiến khu Việt Bắc, Toản được ngồi bên cạnh Bác Hồ, được Bác hỏi chuyện về gia đình, bà con làng xóm, về cuộc sống trong vùng tạm chiến và phong trào du kích... Sau đó, Toản tham dự lễ tiếp quản thủ đô, dự Đại hội anh hùng quân đội và được xét duyệt đi học sĩ quan lục quân tại Trung Quốc, nhưng cả chiều cao và cân nặng đều không đủ. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đáp ứng nguyện vọng cho Toản đi học lái xe, nhưng cũng không đủ tiêu chuẩn chiều cao và cân nặng. Cuối cùng, Toản được cho đi học văn hóa và cử sang Romania học ĐH Bucharest. Lúc đầu, Toản được cử học ngành bảo quản xăng dầu, nhưng nước bạn không có ngành đó, thế là Toản học khoa Tìm kiếm thăm dò dầu khí.

Nhà khoa học làm giàu cho đất nước
Sau 7 năm học tập, ông về nước giảng dạy Địa vật lý tại Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, là một trong những thầy giáo đầu tiên đào tạo cán bộ cho ngành khoa học này ở Việt Nam.
Tiếp sau đó, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, tiếp tục được phong PGS và đặc biệt gắn liền với những bước đi, những công trình nghiên cứu để tìm ra dầu khí, đưa những giọt tài nguyên còn ở sâu trong lòng đất lên phục vụ đất nước. Cuộc đời ông là minh chứng cho việc “Đất nước Việt Namkhông chỉ có những cậu bé chăn trâu trở thành chiến binh dũng cảm mà còn có những nhà khoa học biết làm giàu cho Tổ quốc”.
Khi nghỉ hưu, thôi chức Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, ông vẫn miệt mài với việc giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, viết bài cho báo chí và đặc biệt theo đuổi nghiên cứu những công trình về dầu khí, quan tâm đến bước phát triển của ngành dầu khí Việt Nam, nhất là chiến lược phát triển con người. Có lẽ niềm vui của ông đã trọn vẹn khi những người con đều tham gia cống hiến cho phát triển dầu khí, kinh tế của đất nước bằng con đường học hành, thi tuyển. Đó là thạc sĩ Trần Lê Hoàng, phụ trách đào tạo của Ngân hàng quốc tế; Trần Châu Giang là nghiên cứu sinh địa chất dầu khí, hiện là Phó ban Khoa học kinh tế Viện Dầu khí Việt Nam; Trần Liên Phương là thạc sĩ kinh tế năng lượng; Trần Trung Dũng là tiến sĩ dầu khí. Con dâu ông cũng là tiến sĩ hóa dầu.
* Thưa PGS, TS Trần Ngọc Toản, có thể gọi "Biển Đông yêu dấu" là: nhật ký, chuyện kể hay tiểu thuyết?
- Cuốn Biển Đông yêu dấu tôi viết để phục vụ việc triển khai thực hiện nghị quyết về phát triển kinh tế biển của Đảng và được in lần đầu vào năm 2008. Bản độc giả có trong tay được tái bản là cuốn đầy đủ nhất, trong đó có viết thêm chương cuối để nêu một vài kết quả của chương trình kinh tế biển đến năm 2011 và một số ý kiến nhận xét riêng của tôi. Ban đầu, tôi muốn viết một cuốn sách phổ biến khoa học về biển nhưng trong quá trình viết thì gặp rất nhiều vấn đề tôi muốn nói thêm với độc giả, nhất là về lịch sử chống ngoại xâm, về tham vọng chiếm Biển Đông của Trung Quốc, về chương trình kinh tế biển... 
Các vấn đề này nếu viết theo thể loại phổ biến khoa học thì sẽ rất khó kết nối logic, đối tượng bạn đọc là học sinh trung học nên cần phải tránh khô khan. Vì vậy, tôi thay đổi cách viết với hy vọng thông qua chuyện kể về một chuyến đi biển trên con tàu khảo sát địa vật lý thăm dò dầu khí để mỗi bạn đọc có thể có trong tay một bảo tàng mini về Biển Đông, góp phần tạo dựng hành trang ban đầu cho những con người sẽ đưa đất nước trở thành một cường quốc biển trong tương lai.

* Ông muốn gửi gắm điều gì đó đến giới trẻ ngày nay?
- Tôi có niềm tin vào bản chất của lớp trẻ: lòng yêu nước thiết tha, lòng tự trọng và tự hào về dân tộc mình, sự thông minh và tài năng cũng như nhiệt tình muốn được cống hiến cho Tổ quốc như thế hệ cha anh của họ.

* "Biển Đông yêu dấu" không chỉ là những kiến thức về địa lý, khoa học lịch sử mà còn có cả vấn đề tài nguyên dầu mỏ, khí đốt. Công việc đã tạo cơ hội để ông tiếp xúc nhiều, hiểu nhiều hơn về biển?
- Nghề nghiệp, công việc của tôi tạo điều kiện cho tôi luôn được tiếp xúc với khoa học, biển đảo, nhiều vùng miền và với những người lao động có kỹ năng cao, những trí thức uyên bác, những thanh-thiếu niên thông minh, đầy khát vọng, tất cả điều đó đã tạo cho tôi nhiều cơ hội học tập, hiểu biết, nhận diện được sự giàu có, đa dạng, đầy tiềm năng về tự nhiên cũng như con người của Tổ quốc mình nhưng chưa được khai thác hoặc chưa được khai thác, sử dụng hợp lý. Tôi cũng được tiếp xúc với nhiều nước, nhiều dân tộc nên có dịp so sánh giữa họ với mình và nỗi đau lớn nhất của tôi là đất nước mình rất được thiên nhiên ưu ái, dân tộc mình không thua kém về trí tuệ nhưng vẫn đang sống trong tốp cuối của các quốc gia trên thế giới. Tôi hy vọng thế hệ trẻ sẽ nhanh chóng cải thiện tình hình này.
           
* Ông đến Biển Đông lần đầu tiên là khi nào?
- Lần đầu tiên tôi đi trên Biển Đông dài ngày là vào đầu năm 1955. Sau khi tham gia tiếp quản Hà Nội ngày 10-10-1954, dự lễ mừng Bác Hồ và Chính phủ về thủ đô ngày 1-1-1955, tôi đi về miền Nam bằng đường biển từ Sầm Sơn đến Quy Nhơn. Không phải vất vả như khi hành quân bộ theo đường Trường Sơn ra Việt Bắc đầu năm 1953 nhưng lần này khi còn chưa được ngắm thỏa thích sự bao la của biển cả thì đã say sóng nhừ người. Những điều tôi viết về cảnh cá heo, cá chuồn bay, cảnh biển ban đêm... là những kỷ niệm trong chuyến đi đó. 
Sau này, tôi có nhiều lần ra giàn khoan ở biển miền Nam và miền Trung nhưng đi bằng trực thăng, còn rất ít đi bằng tàu. Trong các chuyến đi đó, tôi nhận ra những con người làm việc trên biển là những người rất dũng cảm, thông minh, khỏe mạnh và rất lãng mạn. Tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thân ái, tự tin và lạc quan là đặc điểm nổi bật trong quan hệ cộng đồng khi đứng trước các thử thách nghiệt ngã.
                  >> Xem  Nguồn 
---------------