Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp luật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

VIẾT CHƯA TỚI 300 CHỮ BỊ LÃNH ÁN TÙ 12 NĂM

FB.Tin không lề - Nhân chuyện LS Lê Quốc Quân bị mang ra xử ngày mai, mình xin kể lại câu chuyện của một nhà tranh đấu khác, xảy ra cách nay trên 20 năm, nhưng có thể nhiều người trong nước chưa biết. Đó là trường hợp của Luật sư Đoàn Thanh Liêm đã bị bắt và bị kết án 12 năm tù chỉ vì viết một văn bản dài khoảng… nửa trang giấy. 
Đầu năm 1990, LS Đoàn Thanh Liêm soạn thảo một văn bản “Năm điểm thỏa thuận căn bản” nội dung chưa tới 300 từ, mục đích làm “guideline cho việc soạn thảo một bản Hiến pháp mới cho nước Việt Nam sau này”. Vì những chữ này mà ông đã bị bắt năm 1990 và bị kết án 12 năm tù trong một phiên xử bí mật ngày 14-05-1992, ở Sài Gòn, về tội "Tuyên truyền chống Chủ nghĩa Xã hội" – chiếu theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự thời đó. Văn bản như sau:
“Năm Điểm Thỏa Thuận
 Căn Bản:
Điểm 1: Quốc gia Việt Nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.
Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức của dân tộc.
Nhằm tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ của các tổ chức tôn giáo.
Điểm 2: Dân tộc Việt Nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống văn hóa và lịch sử khác nhau.
Như vậy, nền tảng của xã hội VN phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hóa.
Điểm 3: Phát huy truyền thống nhân bản và nhân ái của dân tộc, hệ thống chính trị và luật pháp VN sẽ được xây dựng trên những nguyên tắc đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
Điểm 4: Về phương diện kinh tế, vai trò của Nhà nước là làm trọng tài để bảo vệ công bằng xã hội và trật tự xã hội.
Như vậy, Nhà nước không thể vừa làm trọng tài, vừa làm một bên đương sự trong các hoạt động kinh doanh làm ăn được (không thể vừa thổi còi, vừa đá banh).
Hệ quả là hệ thống quốc doanh hiện nay sẽ được giảm tới mức tối thiểu.
Điểm 5: Thể hiện tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, quốc gia sẽ ban hành lệnh khoan hồng đại xá đối với mọi vi phạm do cá nhân, hay do tập thể gây ra.
Nghiêm cấm mọi sự tùy tiện báo ân, báo oán.
Mọi khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được xử lý theo đúng thủ tục luật pháp.
Làm tại Saigon, Tháng Hai năm 1990
Đoàn Thanh Liêm” - (trừ đề ngày tháng, họ tên, chỉ có 287 chữ)!
--------------------------
+* So sánh văn bản này với những những đòi hỏi tương tự của các nhà tranh đấu trong nước hiện nay, để thấy rằng tiến trình dân chủ ở Việt Nam diễn ra trong 20 năm qua không đi được bao xa, bởi những đòi hỏi đã đưa LS Đoàn Thanh Liêm vào tù hơn 2 thập niên trước, cũng chính là những điều đã đưa LS Lê Quốc Quân và nhiều nhà tranh đấu khác vào tù. Có khác chăng là hiện nay nhờ có internet, nên những người tranh đấu hiện nay được nhiều người biết đến, khác với những người tù trước kia chỉ có gia đình và người thân của họ chống chọi một cách lẻ loi, đơn độc.
Mình không thân với LS Đoàn Thanh Liêm, nhưng trước đây mình có làm việc với con trai ông là LS Đoàn Thanh Khiết, trong một số dự án về giáo dục. Thỉnh thoảng có nghe anh Khiết kể lại câu chuyện cha của mình bị bắt ra sao. Chuyện lâu rồi, mình không nhớ hết chi tiết, nên tuần trước mình có hỏi lại LS Đoàn Thanh Liêm, ông cho biết như sau: 
“Đầu năm 1990, Đảng CSVN lo sợ về vụ sụp đổ ở Đông Âu, nên ra tay đàn áp các phần tử mà họ coi là nguy hiểm cho chế độ - kể cả các đảng viên kỳ cựu như các ông Trần Xuân Bách, Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng v.v... Tôi bị bắt ngày 23/4/1990, đến 14/5/1992, thì bị đem ra xử tại Tòa án Saigon. Họ phạt tôi 12 năm tù giam về tội 'Tuyên truyền chống Chủ nghĩa Xã hội' chiếu theo điều 88 Bộ Luật Hình sự thời ấy. Sau đó, họ đưa tôi đi 'thi hành án' tại trại giam Z30D ở Rừng Lá thuộc huyện Hàm Tân, Phan Thiết.
Năm 1995, hai Thượng Nghị sĩ John McCain và Tom Harkin qua Hà Nội để bàn thảo về việc bình thường hóa quan hệ ngọai giao giữa Washington và Hà Nội. Nhân tiện, cả hai ông can thiệp, yêu cầu Hà Nội trả tự do cho tôi. Họ làm việc này là do sự vận động của một số bạn người Mỹ quen biết tôi từ lâu. Chứ riêng tôi, thì không quen biết các Thượng Nghị sĩ này. Vì thế mà vào tháng 2/1996, tôi được trả tự do bằng cách công an chở tôi từ nhà tù Hàm Tân ra thẳng Phi trường Tân Sơn Nhất, để cùng gia đình qua định cư bên Mỹ – coi như tôi bị expelled khỏi VN”. 
Trường hợp của LS Đoàn Thanh Liêm cũng giống như trường hợp của BS Đoàn Viết Hoạt, đã bị đưa từ nhà tù ra thẳng sân bay để đi tị nạn ở Mỹ cho tới bây giờ..
LS Đoàn Thanh Liêm đã tốt nghiệp ĐH luật ở trường ĐH Georgetown University- Washington DC, hồi thập niên 1960. Ông là người Công giáo, Giáo phận Bùi Chu, di cư vào miền Nam năm 1954. 
Có 2 người Mỹ và 1 người Việt Nam bị liên lụy trong vụ án của ông. Đó là đạo diễn Richard M. Hughes (còn gọi là Dick Hughes), Michael Morrow (cựu phóng viên Mỹ, là người đã phanh phui vụ Mỹ Lai) và ông Đỗ Ngọc Long. Họ là những người làm việc trong một dự án giúp đỡ những trẻ em bụi đời, sống ngoài đường phố, mang tên dự án Nhà Phạm Ngũ Lão. Hai người Mỹ đã bị cáo buộc tội “làm gián điệp cho CIA” và bị trục xuất, riêng LS Đoàn Thanh Liêm và ông Đỗ Ngọc Long thì bị bắt giam.
Đây là các bài báo nước ngoài viết về vụ án này thời đó:
Báo New York Times: Hanoi Jails Lawyer for Links With
Topics of The Times; The Vietnam War, Continued:
WITCH HUNTS HINDER VIETNAM
AP: US Seeks Release of Activists Jailed in Vietnam:
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM(SRV) Doan Thanh Liem:
Frost in the Tropics: the Lost Years
Bài báo này nói về những việc làm từ thiện của đạo diễn Richard Hughes (Dick Hughes), có nói về một trẻ em bụi đời có tên là “Chó”, sau trở thành người đạp xích lô, rất cảm động: A family once more: http://old.post
gazette.com/lifestyle/20011007hughes1007fnp2.asp
--------
** LS Đoàn Thanh Liêm còn là tác giả của nhiều bài viết về “xã hội dân sự”, cũng là chủ đề của một dự án do các nhân sĩ, trí thức khởi xướng hơn tuần qua. Đây là 3 trong những bài viết của LS Đoàn Thanh Liêm về xã hội dân sự:
--------------

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Một số tên: DŨNG đã mắc nạn

Những người mang tên Dũng lần lượt sa lưới pháp luật:
Hai 'Dũng nổi cộm': Dương Chí Dũng và Bùi Tiến Dũng
          BVB - Vì mấy ngày qua trên các phương tiện thông tin đại chúng đăng nhiều bài viết  về đại gia Huỳnh Uy Dũng giao tài san lớn (Công ty Du lịch Đại Nam nổi tiếng ở Bình Dương) cho con trai mới vừa 'thôi nôi' (một tuổi). Nhiều bạn đọc CTV đã gửi tin, bài đến BVB, trong đó có thống kê dưới đây để bạn đọc tham khảo, thêm chút - gọi là - thông tin an ninh-pháp luât-xã hội:
1- Lương Quốc Dũng (nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao Quốc gia) bị bắt 30/12/2003 về tội “hiếp dâm trẻ em” ;
2- Đoàn Tiến Dũng (nguyên Phó tổng giám đốc BIDV) bị bắt 2/2/2010 tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ"
3- Bùi Tiến Dũng TGĐ PU18, vụ PU18 bị bắt 1/2006 và ngày 7/8/2007 Những người mang tên Dũng lần lượt sa lưới pháp luật: bị xử 13 năm tù tội “ tham ô tài sản công và tổ chức đánh bạc”.
4 - Phạm Tiến Dũng (nguyên trưởng phòng KH PU18), bị bắt 3/3/2006 tội “ tham ô tài sản công và tổ chức đánh bạc”. Chết khi 11/7/2006 khi đang bị giam.
5- Dương Chí Dũng, Cục trưởng Hàng hải (nguyên Chủ tịch HĐQT Vinalines) truy nã toàn quốc tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng ngày 18/5/2012;
6- Nguyễn Văn Dũng (nguyên chủ tịch UBND xã Đại Mỗ) bị bắt quả tang đánh bạc ngày 10/7/2010 tại Cửa Lò;
7- Đỗ Hữu Dũng (Phó Tổng giám đốc của Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội) bị bắt quả tang đánh bạc ngày 17/8/2007 tại Tam Đảo;
8- Đào Tiến Dũng (nguyên Phó TGT HUD) bị bắt về hành vi tham ô 4/2005.
9- Lê Văn Dũng (nguyên Chủ tịch HĐQT, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông) bị bắt 11/2010 về “tội thao túng giá chứng khoán”.
10 - Hà Đức Dũng, nguyên chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Khai thác khoáng sản Đất Việt (trụ sở tại phường 5, quận Phú Nhuận), bị bắt 11/4/2011 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
11 - Trương Ngọc Dũng là Chủ tịch HĐQT Cty Phúc An Thịnh bị bắt 4/3/2012 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua chiêu thức bán dự án bất động sản “ma”.
12 - Phùng Thế Dũng, Phó Trưởng Cơ quan đại diện Báo Văn Nghệ tại Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, hội viên Hội Luật gia TP Nha Trang, bị khởi tố 1/6/2012 về hành vi nhận tiền chạy án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
13 - Phạm Thanh Dũng (SN 1952, nguyên Phó trưởng phòng Hành chính-Tư pháp thuộc Sở Tư pháp TP Cần Thơ) bị bắt 11-11-2010, ngày 24-7-2012 bị kết mức án tù chung thân về tội “Nhận hối lộ” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
14 - Trần Văn Dũng Nguyên giám đốc Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý SJC Chợ Lớn quận 5 bị bắt 7/9/2012 về tội "Cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây thiệt hại nghiêm trọng" (tự ý lấy tiền của công ty tham gia sàn giao dịch vàng và đã thua lỗ hàng chục tỷ đồng. )
15- Nguyễn Tuyến Dũng (trung tá, điều tra viên Công an tỉnh Tiền Giang) bị bắt ngày 20/11/2012 về tội hành vi lạm dụng quyền trong khi thi hành công vụ theo điều 282, Bộ Luật Hình sự.
16- Ngô Tuấn Dũng (SN 1974, nguyên thiếu tá Công an tỉnh Hải Dương) bị bắt ngày 12/12/2012 về tội hiếp dâm nữ doanh nhân V.T.K.L (SN 1979, giám đốc một doanh nghiệp ở xã Minh Tân, huyện Kinh Môn - Hải Dương).
17 - Trần Văn Dũng (Dũng Bắc Cạn) trùm xã hội đen Hải phòng bị bắt ngày 27/2/2013
18- Mai Văn Dũng (nguyên Giám đốc Công ty quản lý và phát triển nhà (PTN) Q.5, TP.HCM) 3 năm tù (án treo), về tội “cố ý làm trái…” ngày 12/4/2013
19. Hà Tuấn Dũng (Dũng "mặt sắt"), - Giám đốc Công ty Tuấn Đông, trụ sở tại TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh bị bắt 6/5/2013 tội Buôn lậu, trốn thuế, giết người.
20 - Trần Vũ Dũng, giám đốc Cty CP Biển Tây (ngụ quận 7,TP.HCM) bị bắt 15/6/2013 về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”
21 - Trần Quốc Dũng (tức Dũng “Phương”, SN 1977, trú tại tổ 29, khu Đông Tiến 2, phường Cẩm Đông, TP Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh) là đối tượng cầm đầu nhóm tội phạm hình sự hoạt động theo kiểu xã hội đen, “ông trùm” than thổ phỉ tại TP Cẩm Phả bị bắt ngày 20/6/2013
22 - (cũng) Trần Quốc Dũng (ảnh, SN 1968, ngụ số 29B Điện Biên Phủ, P.25, Q.Bình Thạnh) có hành vi liên quan trong vụ án bắt giữ người trái pháp luật và cưỡng đoạt tài sản xảy ra tại TPHCM và tỉnh Bình Dương. Cơ quan CSĐT nhiều lần mời nhưng Dũng không đến, qua xác minh cho thấy Dũng đã rời khỏi địa phương (đối tượng đang còn bị truy nã).
23- Nguyễn Chí Dũng (Dũng Chim xanh), mệnh danh là tướng cướp ‘xuất quỷ nhập thần’ ở miên Đông Nam bộ, bi bắt và xét xử theo chuyên án số 501 CS (2004) , bi tử hình cùng đồng phạm là và Phạm Văn Đỉnh về các tội: Hiếp dâm trẻ em, cướp tài sản, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng… 13 ‘đàn em’ trong  băng cướp của Dũng bị tuyên phạt mức án từ tù treo đến 12 năm tù giam....
--------------
(còn nhiều, chưa thống kê hết. Ôi, một số không ít người mang tên Dũng thời hết chiến tranh, thời @ a..còng)..
N.D (CTV
-----------------

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

10 đại gia bị truy thu hàng chục tỷ đồng thuế TNCN

… Sự sơ xuất này, theo bà Lan, không phải do người nộp thuế tìm cách “trốn” đóng thuế mà do họ không hiểu hết pháp luật thuế TNCN.
“Các khoản thu nhập của các đại gia chủ yếu là tiền lương, tiền công. Số đại gia này cũng thực hiện khấu trừ đầy đủ tại nơi chi trả thu nhập, nhưng không biết rằng thuế TNCN có một đặc điểm là phải tổng hợp thu nhập cả năm, khi đó mức thuế đóng TNCN sẽ bị “nhảy” bậc và đội lên. Trường hợp này họ phải tới cơ quan thuế để tự kê khai nộp thêm.
                   >> Đọc tiếp/Nguồn  
--------------

TBT Nguyễn Phú Trọng: “Tham nhũng như ngứa ghẻ”

…Lý giải về kỳ họp thứ 6 dài hơn các kỳ họp khác, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, kỳ họp này sẽ bàn rất nhiều nội dung, nhiều vấn đề khó và vô cùng hệ trọng nên cần bàn bạc kỹ như sửa Hiến pháp, bổ sung Luật đất đai… Với QH của Trung Quốc thì hơi khác, vì dân số dân đông, số lượng ĐB lại lên đến trên 3000 người, UBTVQH cũng có tới hơn 300 người, nên chủ yếu là họp UBTVQH. Bên cạnh đó cũng có những nước họp QH quanh năm, ĐB rất chuyên nghiệp. Còn ở Việt Nam thì chỉ 1/3 ĐB chuyên trách, phần đông là kiêm nhiệm.
              > ‘Gà mắc tóc' rồi – cụ Tổng Trọng ơi ! 
Đối với việc lấy phiếu tín nhiệm, theo Tổng Bí thư, hiện trong dư luận vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, kể cả trong ĐBQH cũng thế. Trên cơ sở đó cần phải tiếp thu lắng nghe, tổng kết rút kinh nghiệm, làm thế nào để việc lấy phiếu có tác dụng tốt hơn, phù hợp hơn. Điều này không chỉ Quốc hội mà ngay cả Đảng cũng cần phải rút kinh nghiệm…
                >> Đọc tiếp/Nguồn 
----------------

ĐỪNG VỘI 'GỬI TRỨNG CHO ÁC' !


     * MINH DIỆN
                  Ông Nguyễn Đức Hải ở số nhà 56 - đường Trần Nhân Tông, tổ 5, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới (Quảng Bình) có thửa đất số 195, diện tích 94,50 m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00368, do Ủy ban nhân dân  thành phố Đồng Hới cấp ngày 18-7-2002,  ghi rõ: ‘Đất ở 50 m2, đất vườn 44,5 m2. Ông Nguyễn Đức Hải đã làm nhà trên diện tích 50 m2 còn lại 44,5 m2 đất vườn liền kề’…
Ngày 29-12-2009, ông Nguyễn Đức Hải đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của thành phố, xin chuyển mục đích phần diện tích còn lại 44,5 m2 từ đất vườn sang đất ở. Một tháng sau, ngày 28-01-2010, Ủỷ ban nhân dân thành phố Đồng Hới ban hành quyết định số 355/QĐ-UBND  gây ra cuộc khiếu kiện  đến nay chưa chấm dứt.
                                     > Dĩ công vi thượng  
                  Ông Nguyễn Đức Minh, cha  Nguyễn Đức Hải, là người được ủy quyền trong vụ kiện kéo dài, gửi cho tôi tập hồ sơ gần 100 trang. Đọc đi  đọc lại, thấy sự việc không phức tạp, vậy mà bốn năm nay vụ việc chạy lòng vòng từ thành phố lên tỉnh, tỉnh lên trung ương rồi lại về thành phố, đúng như câu vè hài hước: “Trung ương tương tỉnh, tỉnh chỉnh huyện, huyện khiển xã, xã nã thôn, thôn dồn xóm, xóm tóm dân!” Đến nỗi ông Minh phải thốt lên: “Họ biến đất vườn thành đất trồng cây lâu năm dễ như trở bàn tay để vét tiền dân mà cứ ỉm đi!”.
                  Là người thường xuyên theo dõi vấn đề đất đai, tôi nhận ra một điều là  các nhóm lợi ích có rất nhiều thủ đoạn tham nhũng từ đất. Ví dụ lâu nay, họ thường núp bóng chính quyền  thu hồi đất nông nghiệp của dân với giá bồi thường rẻ như như bèo , rồi vạch quy hoạch, chuyển đổi mục đích thành đất ở, lập dự án, bán nền  lại cho dân với  giá lên gấp trăm, ngàn lần mà chẳng hề tốn kém gì. Nay ở Đồng Hới lại biến đất vườn là loại đất phi nông nghiệp, thành đất trồng cây lâu năm, là đất ruộng, đất nông nghiệp, một quy trình ngược lại, cũng nhằm mục đích vét tiền dân, túi tham được lèn thêm chăt.
                  Thửa đất số 195 của ông Nguyên Đức Hải, đã ghi rõ trong sổ đỏ: Diện  94,5 m2, đất ở 50 m2, đất vườn 44,5 m2. Theo quy định, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất  thành phố Đồng Hới   phải  chuyển thẳng 44,5 m2 đất vườn của ông Hải  sang đất ở. Đằng này họ lại bắt chuyển mục đích sử dụng từ “Đất vườn” sang “ Đất trồng cây lâu năm” rồi  sau đó mới chuyền từ “ Đất trồng cây lâu năm” sang “Đất ở”. Tại sao lại phải đi con đường vòng lẩn quẩn như vậy?
                  Xin thưa, nếu để “Đất vườn” nghĩa là loại đất phi nông nghiệp, thì theo Quyết định số 57/2005 ngày 16-11-2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình, ông Nguyễn Đức Hải không phải nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất, đồng nghĩa với việc chính quyền thành phố Đồng Hới thất thu khoản tiền đó. Nhưng nếu  từ  đất  trồng cây lâu năm nghĩa  là  đất nông nghiệp, chuyển sang đất ở, thì  gia đình ông Nguyền Văn Hải  phải  nộp 100%  tiền  chuyển  mục đích sử dụng đất.  Cụ thể , với diện tích 44,5 m2 đất , ở đường Trần Nhân Tông, thuộc  loại 2, vị trí 1, gia đình ông Nguyễn Đức Hải phải nộp 300 triệu. Đó là theo quyết định 20/20/2010 QĐ-UBND năm 2010 , chứ theo quy định năm 2012 thì số tiền còn lớn hơn nhiều. Vậy là chỉ cần hô “ Biến”  mỗi mét vuông đất,  chính quyền thành phố Đồng Hới đã vét của dân hơn 6 triệu đồng.
                Ngày 28-3-2012 , Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Hới có công văn số 214 UBND-TNMT,  trả lời đơn khiếu nại cùa ông Nguyễn Đức Minh,  khẳng định  rằng họ đã làm đúng.  Công văn đó có đoạn viết: “Việc quy đổi mục đích sử dụng đất đối với đất vườn  sang đất trồng cây lâu năm thực hiện theo quy định tại điều 67, điều 87 Luật đất đai năm 2003”.  
                Thật trớ trêu, tại Điều 67, “Quy định về nội dung đất sử dụng có thời hạn”, và Điều 87 , “Quy định về việc xác định đất ở đối với trường hợp có vườn ao”  của Luật đất đai năm 2003,  không có mục nào quy định về việc biến đất vườn sang đất trồng cây lâu năm như công văn 214 của ủy ban nhân dân thành phố Đồng Hới viện dẫn.
               Ngày 20-11-2012, trên trang 7  báo Quảng Bình đã đăng bàì “ Đất vườn “biến” thành đất trồng cây lâu năm”, trong đó có đoạn viết : “ Đối chiếu vào quy định tại các điều 67 và điều 87 cùa Luật đất đai năm 2003, và khoản 2 , điều 8, Quyết định số 57/2005/QĐ/ UBND,  ngày 16-11-2012 cùa UBND tỉnh, chúng tôi nhận thấy việc phản ảnh của ông Minh là có cơ sở, đề nghị UBND thành phố Đồng Hới cần xem xét lại việc trả lời nói trên cho ông Minh”
               Ông Nguyễn Đức Minh nói với tôi: “ Chẳng những họ không trả lời tôi mà còn đề nghị báo Quảng Bình không đăng tiếp vấn đề biến đất vườn thành đất trồng cây lâu năm”.
               Ông Nguyễn Đức Minh bức xúc: Không chỉ riêng gia đình tôi mà nhiều  người dân  Đồng Hới đã  bị oan ức như vậy. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố này đã “biến” hàng chục héc ta  đất vườn thành đất trồng cây lâu năm ngay từ khi  làm thủ tục chuyền nhượng quyền sử dụng đất. Cùng một quyển sổ đỏ, trong tay  người chuyển nhượng ghi đất vườn, sang tay người  nhận chuyển nhượng biến thành đất trồng cây lâu năm...
              Ai cũng biết mỗi mảnh đất đều thấm mồ hôi và máu nhân dân.  Đồng Hới , Quảng Bình từng quằn quại trong mưa bom bão lửa , máu xương của người dân nơi đây trộn lẫn trong từng tấc đất.  Đã không đền đáp công lao và vì cái tình  nghĩa sâu nặng  ấy  mà khoan sức dân thì thôi , lại cố tình đánh tráo khái niệm, lắt léo, bắt chẹt bòn rút  dân như thế?
                 Nhưng đâu chỉ Đồng Hới. Tại phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh đang xảy ra chuyện trớ trêu hơn.
                Dự án xây dựng Depo tàu điện ngầm Tham Lương có từ năm 2003, và đã ra quyết định thu hồi hàng chục héc ta đất .  Quyết định ký ngày đó  nhưng mãi 5 năm sau  mới tiến hành  bồi thường cho dân. Theo quy định đền bù thời điểm nào áp giá bồi thường thời điểm đó và theo giá thị trường, nhưng  ở đây vẫn bồi thường theo  giá  của năm 2003. Dân thắc mắc , khiếu nại không ai thèm giải quyết. Họ  cưỡng chết, ép nhận tiền, ai  không nhận họ bỏ tiền vào kho bạc nhà nước. Sự việc tưởng thế là quá đáng lắm rồi, nào ngờ giữa tháng 9  vừa qua , Ban bồi thường giải phóng mặt bằng  lại “mời” 13 hộ dân đến thông báo thu hồi tiếp   gần 80.000 m2 đất  để mở rộng Depo. Hỏi sẽ bồi thường theo quy định nào? Đáp  vẫn áp  giá bồi thường của năm 2003 với lý do “đã có quy hoạch  từ ngày đó rồi”.
                 Quy hoạch thế nào  dân không hay biết? Mười năm qua chưa hề có một quyết định , một văn bản nào về việc thu hồi đất và viêc bồi thường giải phóng mặt bằng khu đất này, đùng một cái ép dân như vậy.
                Chín trong 13 hộ có đất bị thu hồi không thèm tới dự cuộc họp do Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận 12 tổ chức. Bốn người tới dự cuộc họp đều không đông tình với cách ép dân của chính quyền. Ông M, tuyên bố thẳng : “ Tôi đã  bị thu hồi  8000 m2 đất làm Depo năm 2003, bây giờ tôi chỉ còn lại một tý đất , nếu không  bồi thường  thỏa đáng mà cố ép thì tôi sẽ thí cái mạng này như Đặng Ngọc Viết cho các người coi!”
                Cũng ở thành phố Hổ Chí Minh, từ năm 2004 ra quyết định thu hồi gần 1000 ha đất khu vực Bắc Củ Chi làm dự án “ Làng đại học quốc tế Malayia”. Toàn bộ khu vực đó bị phong tỏa , không ai được phép mua bán sang nhượng, chuyển đổi mục đích , đầu tư xây dựng. Cũng từ đó, mỗi hộ dân  có đất phải ký không biết bao nhiêu loại giấy tờ , bị kêu lên kêu xuống Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Hóc Môn bao nhiêu lần. Sổ đỏ trong tay mình nhưng quyền sử dụng trong tay Ban quản lý dự án. Hỏi giá bồi thường bao nhiêu không ai trả lời. Hỏi bao giờ bồi thường nói lấp lửng sắp , cứ chờ!
                Mới vài ngày trước,  ủy ban nhân dân phát xã Tân Thới Nhì, phát  giấy mời các hộ dân có đất bị thu hồi lên họp triển khai phương án bồi thường giải phóng mặt bằng.  Giấy mời phát thứ 4, thứ năm vội vã thu lại, với chỉ một câu giải thích ngắn gọn trong nội bộ : “Chủ đầu tư không có tiền!”
                Giấy phép đầu tư đã trao  , và đích thân ông chủ tịch thành phố mang tên Bác đã long trọng dự lễ động thổ gần 10 năm trước.  Suốt ngần ấy năm người dân  không hề biết  cái dự án đó  hình thù ra sao, mặt mũi nhà đầu tư thế nào, quyền lợi  được gì, chỉ cung cúc thực hiện nghĩa vụ chi tiền, bỏ công sức làm  theo yêu cầu của chính quyền.  Ông Út Thắng ở đường Đặng Công Bỉnh, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, nói với tôi : “ Tôi sống ở đây đã 59 năm mà vẫn không được yên thân trên mảnh đất bố mẹ mình khai khẩn, vì  chẳng có quyền gì!”
               Vậy mà  bảo chủ trương  “Dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra!” đã đi vào cuộc sống, và bà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan không hề  biết ngượng khi phát biểu “ Chế độ ta tự do dân chủ gấp vạn lần chế độ tư bản” ?
                Ngày 24-9-2013, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói: “Kỳ họp thứ 6 là lần thứ 3 Quốc hội xem xét dự án Luật đất đai sửa đổi. Đây là điều rất bất bình thường , bởi các luật khác chỉ có kéo dài hai kỳ họp”.
              Vâng bất bình thường thật! Nhưng bất bình thường vì cái gì? Phải chăng   vì Hiến Pháp là nền tảng của Luật pháp chưa được thông qua? Mà Hiến pháp chưa được thông qua vì  Điều 4, và điều quy định đất đai sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý chưa đồng thuận? Nếu vậy thì không phải là bất bình thường mà là rất bình thường ở một thể chế dân chủ.
            Từ xưa đến nay, đã thành nhu cầu thiết thân trong cuộc sống của mọi con người, mọi dân tộc. Đất với dân gắn bó như máu thịt. Vương triều Lý hơn 200 năm huy hoàng bị súp đổ do chính sách bất công làm người cày không có ruộng. Nhà trần 175 năm với chiến công oanh liệt 3 lần đánh tan quân Nguyên Mông từ Trung quốc tràn sang, nhưng suy vi vì bọn quan tham chiếm đất đầy nhân dân vào đói khổ, lại không nghe lời ngay thẳng của Chu Văn An trừ “nhóm lợi ích”, cuối cùng rơi vào tay nhà Hồ... Lịch sử đã chứng minh các đế chế dựng nghiệp lớn từ Đất và sụp đổ cũng vì Đất. Đất là Dân. Mà “Đẩy thuyền cũng là dân lật thuyền cũng là dân!” .
              Tôi còn nhớ tại kỳ họp thứ 5, ngày 21-6-2013, với số phiếu 292/ 348, Quốc hội đã hoãn thông qua dự án Luật đất đai sửa đổi cũng vì “vướng” Hiến Pháp, và thiếu dân chủ. Theo ông Đặng Hùng Võ, còn một nguyên nhân khác ,đó là “Dự án còn chịu sự vận động của các nhóm lợi ích, cần phải cảnh giác loại bỏ”.
          Ông Đặng Hùng Võ nói: “Dự án còn chịu sựvận động của các nhóm lợi ích, cần phải cảnh giác loại bỏ!?
           Thử hỏi các nhóm lợi ích đó nằm ởđâu và liệu có loại bỏđược không?
         Cứ như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, là một "bộ phân không nhỏ"trong đó có cả cán bộ ở vịtrí lãnh đạo đã thoái hóa biến chất, thì các nhóm lợi ích nằm trong đó chứ ở đâu xa lạ? Một thực tế là những năm qua hầu hết các "nhà suy thoái", các đại gia đều phất lên từđất, mà muốn phất lên thì phải có cá nhân hoặc cơ quan quyền lực chống lưng. Mối quan hệ giữa các đại gia giàu sổi nhờđất với quan chức chính quyền chưa bao giờ khăng khít như hiện nay. Những biến tấu từ đất ruộng sang đất ở, từ đất vườn sang đất trồng cây lâu năm, những cuộc giải tỏa như ởVăn Giang, Quảng Ninh, Hà Nam giành đất cho các đại gia đều do chính quyền thức hiện. Các Trung tâm phát triển quỹ đất mang lợi ích cho ai có lẽ không cần phải nhiều lời.  Bởi thếcảnh giác với nhóm lợi ích cũng chính là cảnh giác với cán bộchức quyền, mà cán bộchức quyền lại là người hoạch định chếđộ chính sách, thì cảnh giác  sao đây? Và dẫu có nhìn mặt đặt tên thì có loại ra được khi Hiến pháp vẫn duy trì một chế độ không phân quyền tam lập, thiếu  sự minh bạch hóa, và người dân chưa có quyền tự do dân chủthực sự?
             Có lẽ vì thế dư luận cũng như sở nguyện chúng của số đông người dân đều quan niệm rằng: Đừng vội mừng nếu Luật đất đai được thông qua , vì không khéo lại  "đem trứng gửi cho ác"! 
              Kỳ họp thứ 6 cùa Quốc hội sắp tới có thông qua được dự án Luật đất đai sửa đổi không, và dự án đó có loại được các nhóm lợi ích ra không? Câu trả lời còn ở thì tương lai!
            Cái kiểu cư xử với Đất với Dân như đang diễn ra ở Đồng Hới, ở thành phố Hồ Chí Minh và nói chung 63 tỉnh, thành ở đâu cùng nhiều phức tạp, khiếu kiện rùm beng, thì hậu quả như Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Đặng Ngọc Viết ở Thái Bình khó tránh khỏi. Mỗi vụ việc khieu kiện về đất đai của dan oan bị ngâm kéo dài thời gian, đùn đẩy nhiều nơi, đắp dày những bộ hồ sơ khiếu kiện, những thủ đoạn chiếm đất, gia tăng ‘sức mạnh quyền lực’ cưỡng chế thu hồi đất, những chức sắc cầm quyền và các đại gia phát phì rất nhanh do liên tục ‘bình phương’ lợi ích vơ vét đất  của dân. Tất cả những thủ đoạn, biểu hiện, biện pháp ấy, họ đang gieo, đang tưới vào những mầm rối loạn bất ổn ngày càng sinh sôi từ đất đai. 
           Sau gần 2 năm NQTW4 có 'cơ' nhưng không gặp 'thời', cố 'vận' mà khó 'hành', thực tế hiện nay sờ sờ trước mắt thần dân thiên hạ: Các nhóm lợi ích - "bộ phận không nhỏ"- vẫn đang bất cấp pháp luật hoành hành trên những bất công, những oan khốc khổ đau của người dân, với những động thá rất trắng trơn chẳng coi ai ra gì, và (họ) đang cố kết lại với nhau để bám riết vào những điều luật của Hiến pháp, của luật đất đai mà giữ Quyền, giữ Lợi cho họ. Tham nhũng đã từng được ví như những con sâu, con mọt, như con bạch tuộc… còn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì ví “tham nhũng như ngứa ghẻ”. Nếu nói cho đủ nghĩa thực tế, thì : "Chồng tham nhũng chỉ như gãi ngứa ghẻ"! Tham nhũng, chiếm dụng, gây mất dân chủ về  đất đai là sự trực tiếp kích ừng làm cho nảy nở nhiều mầm loạn. Những điều khoản trong luật đang có lợi cho họ liệu rằng họ có dễ sửa đổi, cải tiến vì lợi ích nhân dân, quốc gia, dân tộc? 
           Thế nhưng, sắp tới lại đem luật đưa ra cái "bộ phận không nhỏ' ấy mà thảo luận, chỉnh sửa, phê duyệt thì khác nào 'gửi trứng cho ác'? Đừng, đừng việc gì vội vàng mà đi "ép" phải thông qua luật cho kỳ được trong QH khoá này như vậy. Rất nhiều thực tế đã chỉ ra rằng: Quan điểm, đạo đức, lối sống, động cơ nào thì đẻ ra lý thuyết, văn bản ấy. Chừng nào chưa có những nhận thức quan điểm mới, thực sự "dĩ công vi thượng", thực sự vì dân vì nước, chua có được dàn nhân dàn sự mới, có tâm và có tầm xứng đáng, chưa cho ra được thể chế mới mà đi sửa Hiến pháp, sửa Luật đất đai trong 'dàn bộ sậu' này thì khác nào tăng thêm cho họ cái quyền vừa đá bóng vừa thổi còi?!
 M D
----------------

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

QUYỀN LỰC của KHÔNG QUYỀN LỰC - Phần 5

 

* VÁCLAV HAVEL
(tiếp theo - Phần 5)
VII.
Bây giờ, ta hãy tưởng tượng rằng một ngày kia, điều gì đó đứt gãy trong anh chàng bán rau nọ, và anh ngừng đặt các khẩu hiệu chỉ để cho lòng mình thanh thản. Anh ta thôi bỏ phiếu trong các kì bầu cử mà anh biết rõ là trò khôi hài. Anh bắt đầu nói những gì anh thực sự nghĩ trong các cuộc mit-tinh chính trị. Anh ta thậm chí còn tìm thấy sức mạnh nội tâm để bày tỏ sự đoàn kết với những người mà lý trí của anh ta đòi hỏi anh phải ủng hộ. Trong cuộc nổi dậy này, người bán rau quả bước ra khỏi cuộc sống vốn chìm trong dối trá. Anh ta phủ nhận tín điều và phá vỡ các luật chơi. Anh ta khám phá lại bản sắc và nhân phẩm bị đè nén của mình. Anh cho tự do của mình một tầm quan trọng cụ thể. Sự nổi dậy của anh là một cố gắng để sống trong sự thật.
Hóa đơn thanh toán đến không chậm trễ. Anh ta sẽ bị đưa khỏi vị trí quản lý cửa hàng và thuyên chuyển đến nhà kho. Lương sẽ hạ. Hi vọng về một kì nghỉ ở Bun-ga-ri bay hơi. Việc vào đại học của con cái bị đe dọa. Thượng cấp sẽ sỉ nhục anh và những người công nhân bạn bè sẽ nghi ngờ anh. Tuy nhiên, hầu hết những người sẽ áp dụng các đòn trừng phạt này làm thế không vì họ thực sự kết tội anh trong thâm tâm, mà vì các sức ép từ hoàn cảnh, cái hoàn cảnh đã từng gây sức ép với anh hàng rau quả khiến anh trưng các khẩu hiệu chính thức kia. Họ hành hạ anh hoặc là vì họ được kì vọng là phải làm thế, hoặc để chứng tỏ lòng trung thành, hoặc chỉ đơn giản là một phần của cái toàn cảnh chung, mà đi kèm với nó là nhận thức rằng: đây là cách xử trí với những tình huống kiểu này, tức là, trên thực tế, là cái mà cách mà người ta luôn làm, đặc biệt là nếu một người không muốn đi đến chỗ chính mình trở thành kẻ bị nghi ngờ. Những người thi hành bản án, do vậy, cũng ứng xử như mọi người khác, ở mức độ thấp hay cao: với tư cách là các thành tố của hệ thống hậu toàn trị, với tư cách là nhân viên của cỗ máy tự vận hành của nó, như là các công cụ đáng thương của hệ toàn trị-tự động xã hội.
Như vậy, cấu trúc quyền lực, qua đại diện là những người thực thi những đòn trừng phạt, những thành tố vô danh của hệ thống, sẽ khạc người bán rau quả ra khỏi mồm nó. Hệ thống, qua sự hiện hữu tha hóa của nó trong con người, sẽ trừng phạt anh ta vì sự nổi loạn. Nó phải làm thế vì logic của sự tự vận hành và tự bảo vệ của nó quy định như thế. Người bán rau đã không thực hiện việc công kích cá nhân, đơn lẻ và cô lập trong sự độc nhất của nó, mà là cái gì nghiêm trọng hơn rất nhiều. Bằng việc phá vỡ các quy tắc của luật chơi, anh ta đã làm gián đoạn cuộc chơi. Anh ta đã lột trần rằng nó chỉ là một trò chơi. Anh ta đã đập tan thế giới hình thức, cái trụ cột căn bản của hệ thống. Anh ta lật đổ cấu trúc quyền lực bằng cách xé toạc cái đã cố kết các phần của nó với nhau. Anh ta đã chứng tỏ rằng sống trong sự dối trá chính là sống dối trá. Anh ta đã phá vỡ cái mặt tiền được thần thánh hóa của hệ thống và vạch trần cái nền móng thực của quyền lực. Anh ta đã nói rằng vị hoàng đế cởi truồng. Và bởi vì vị hoàng đế trên thực tế đang cởi truồng, một điều gì cực kì nguy hiểm đã xảy ra: bằng hành động của anh ta, người bán rau đã sửa đổi cả thế giới. Anh ta cho mọi người nhìn chăm chú vào đằng sau sân khấu. Anh ta đã cho tất cả mọi người thấy rằng có thể sống trong sự thật. Sống trong dối trá chỉ có thể tạo thành hệ thống nếu mọi người đều làm vậy. Nguyên lý của nó phải bao quát và xuyên thấu tất cả. Không có thỏa hiệp nào cho phép nó cùng tồn tại với sống trong sự thật, và do đó tất cả những ai bước qua vạch đều đã phủ định hệ thống về nguyên tắc và đe dọa nó trong tính toàn thể của nó.
Điều này dễ hiểu thôi: chừng nào mà hình thức còn chưa đụng đầu với hiện thực, chừng đó nó còn có vẻ không phải hình thức. Chừng nào mà sống dối trá còn chưa đối mặt với sống trung thực, góc nhìn cần thiết để vạch trần sự dối trá còn bị thiếu. Nhưng ngay khi mà cái thay thế xuất hiện, nó lập tức đe dọa chính sự tồn tại của thế giới hình thức và cuộc sống dối trá, nó cho biết chúng là gì, cả về bản chất và tính bao trùm của chúng. Và đồng thời, việc cái thay thế này chiếm bao nhiêu không gian không mảy may quan trọng: sức mạnh của nó không nằm ở các thuộc tính vật lý mà ở ánh sáng nó chiếu rọi vào những trụ cột này của hệ thống và vào nền móng bất ổn của nó. Sau cùng thì người bán rau quả là mối đe dọa với hệ thống không phải vì sức mạnh vật chất hay thực tế mà anh ta có, mà bởi vì hành động của anh vượt lên chính nó, bởi vì nó soi rọi xung quanh, và tất nhiên, là vì những hậu quả khôn lường của sự sáng rõ ấy. Trong hệ thống hậu toàn trị, do đó, sống trong sự thật vượt lên chiều kích hiện sinh thuần túy (trả cho con người bản chất cố hữu của nó), hay chiều trí tuệ (phản ánh thực tiễn như nó vốn có), hoặc chiều kích đạo đức (làm gương cho người khác). Nó còn có một chiều kích chính trị không thể chối cãi. Nếu trụ cột chính của hệ thống là sống giả dối thì không có gì đáng ngạc nhiên khi đe dọa cơ bản với nó là sống thật. Chính vì điều này mà nó phải bị đè nén mạnh mẽ hơn bất kì điều gì khác.
Trong hệ thống hậu toàn trị, sự thật theo nghĩa rộng nhất của từ này có tầm quan trọng đặc biệt, không hề được biết đến trong những hoàn cảnh khác. Trong hệ thống này, sự thật đóng vai trò lớn hơn nhiều (và khác hẳn thông thường) vì nó trở thành một yếu tố quyền lực, hoặc một lực lượng chính trị triệt để. Sức mạnh của sự thật vận hành như thế nào? Sự thật với vai trò là một yếu tố của quyền lực hoạt động ra sao? Làm thế nào để quyền lực của nó - với tư cách là quyền lực - được hiện thực hóa?

VIII.
Các cá nhân có thể bị biến thành xa lạ với chính mình chỉ khi có cái gì đó trong họ để mà trở nên xa lạ. Đối tượng của sự vi phạm ấy chính là cuộc sống chân thật của họ. Vì vậy, sống thật luôn được đan cài trực tiếp vào tấm thảm sống dối trá. Chính vì cái mục tiêu [sống] chân chính, cái [cuộc sống] thay thế đang bị đè nén này mà [mới tồn tại] sống giả dối với tư cách là một sự phản ứng bất chính. Chỉ trên cái nền sống thật ấy mà sống dối trá mới có ý nghĩa: nó tồn tại vì cái nền ấy. Nó bám rễ vào trật tự sống của con người, không gì khác hơn chỉ vì nó là sự phản ứng lại với cái mong muốn sống thật có sẵn trong mỗi con người. [Trong xã hội] dưới bề mặt có vẻ trật tự của cuộc sống giả dối, do đó, luôn ẩn giấu một không gian cho đời sống thật, một cách giấu giếm, nó cởi mở và sẵn sàng đón nhận sự thật.
Quyền lực chính trị phi thường, mãnh liệt và khôn lường của sống thật khởi nguồn từ chân lý rằng sống công khai trong sự thật sẽ có một đồng minh, đương nhiên là vô hình nhưng mạnh mẽ vô song, đó chính là cái không gian bị che giấu. Chính là từ không gian này mà sống thật có thể phát triển; chính không gian này là cái lắng nghe sự lên tiếng của sống thật, và chính trong đó, nó tìm thấy sự cảm thông. Đây chính là nơi mà tiềm năng cho trao đổi còn tồn tại. Nhưng nơi này lại bị che giấu, và vì thế, từ quan điểm của quyền lực, là rất nguy hiểm. Sự sôi sục phức tạp diễn ra trong những miền mờ tối, mà với thời gian, khi nó lộ ra dưới ánh mặt trời như là một chuỗi bất ngờ chấn động toàn hệ thống thì thường là đã quá muộn để che đậy chúng bằng các lề thói thường ngày. Do đó, nó làm cho chế độ bị lúng túng, hoảng hoạn và đẩy mình tới chỗ có những phản ứng ngu xuẩn.
            Có vẻ như mảnh đất nuôi dưỡng cái có thể được hiểu là đối lập, theo nghĩa rộng nhất của từ này, trong hệ thống hậu toàn trị là sống trong sự thật. Tất nhiên, sự đối đầu giữa những lực lượng đối kháng này và quyền lực thống trị, rõ ràng phải có hình thức rất khác với sự đối đầu trong các xã hội mở hoặc trong các nền độc tài cổ điển. Thoạt đầu, sự đối đầu này không diễn ra trên bình diện quyền lực thực, đo đếm được và đã được thể chế hóa (quyền lực dựa trên những công cụ truyền thống), mà ở trên bình diện khác hẳn: bình diện của nhận thức và lý trí con người, của hiện sinh. Phạm vi hiệu lực của quyền lực đặc biệt này không thể đo lường được theo tiêu chuẩn số lượng tông đồ, cử tri hay quân lính, bởi vì nó nằm trải ra trong đội quân tình báo của nhận thức xã hội, trong các mục đích ngầm của cuộc sống, trong khao khát bị đè nén của nhân loại về nhân phẩm và các quyền cơ bản, về hiện thực hóa những lợi ích xã hội và chính trị của họ. Sức mạnh của nó, do đó, không dựa trên sức mạnh của các nhóm chính trị và xã hội theo định nghĩa, mà chủ yếu là sức mạnh của tiềm năng, cái ẩn giấu trong toàn xã hội, kể cả trong cấu trúc quyền lực chính thức của xã hội ấy. Cho nên, sức mạnh ấy không dựa vào những người lính của mình, mà dựa vào những người lính của kẻ thù, bởi vì nó ở trong tất cả mỗi con người đang sống trong giả dối, những người có thể bị hạ gục vào bất kì khoảnh khắc nào (ít nhất là trên lý thuyết) bởi sức mạnh của sự thật (hoặc những người, từ ham muốn bảo vệ địa vị mang tính bản năng mà có thể ngả theo sức mạnh ấy). Có thể nói, đó là thứ vũ khí vi trùng, được sử dụng khi các điều kiện đã chín muồi cho một dân thường loại khỏi vòng chiến cả một sư đoàn. Sức mạnh này không tham gia bất kì một cuộc đấu tranh trực tiếp giành quyền lực nào; thay vào đó, nó gây ảnh hưởng đơn giản chỉ bởi vì nó là chính nó. Tuy thế, chuyển động ngầm mà nó gây nên có thể hiện thân thành cái gì đó hiện hữu: một sự kiện hay hành động chính trị thực, một phong trào xã hội, sự bộc phát những bất ổn xã hội, các xung đột gay gắt trong trong lòng cấu trúc quyền lực tưởng chừng thống nhất một khối, hoặc chỉ đơn giản là sự biến đổi không cưỡng được trong bầu không khí xã hội và trí thức (khi nào, ở đâu, dưới những điều kiện nào, và ở quy mô nào thì thật khó dự đoán). Và vì tất cả những vấn đề và trục trặc thực sự thì đều bị che giấu bên dưới lớp vỏ cứng dày của sự dối trá, không bao giờ rõ ràng khi nào thì cọng rơm rơi xuống, như tục ngữ nói, hay cọng rơm ấy là gì. Điều này cũng là lí do tại sao chính quyền kết án, hầu như một phản xạ không điều kiện có tính ngăn chặn, những cố gắng dù khiêm tốn nhất nhằm sống trong sự thật.
Tại sao Solzhenitsyn [3]bị tống ra nước ngoài? Chắc chắn không phải vì ông đại diện cho một đơn vị quyền lực thực sự, tức là, không phải vì một đại diện nào đó của chính quyền cảm thấy ông có thể lật ghế họ và thay vị trí của họ trong chính quyền. Trục xuất Solzhenitsyn là một điều gì khác: một cố gắng tuyệt vọng để nút cái suối nguồn sự thật rất đáng sợ ấy, cái sự thật có thể gây ra những biến đổi không tính hết được trong nhận thức xã hội, cái mà đến lượt nó lại có thể, một ngày kia, gây ra tiêu vong chính trị với những hậu quả khôn lường. Và vì thế, chính quyền hậu toàn trị ứng xử theo cách điển hình: nó bảo vệ sự toàn vẹn của thế giới hình thức nhằm bảo vệ chính nó. Bởi vì cái lớp vỏ cứng tạo bởi đời sống dối trá được làm từ một thứ nguyên liệu kì quái. Chừng nào nó còn bịt kín mít toàn xã hội, chừng đó nó còn có vẻ như làm bằng đá. Nhưng vào thời điểm ai đó xuyên thủng nó ở một điểm, vào lúc ai đó kêu lên "Hoàng đế cởi truồng kìa" - khi một người phá vỡ luật chơi, và vì thế mà vạch rõ nó chỉ là một trò chơi - thì tất cả đột nhiên lộ ra dưới một ánh sáng khác và toàn khối thạch bì từ đây dường như được làm từ giấy mỏng, và sự tan rã là không thể kiểm soát nổi nữa.
Khi tôi nói về việc sống trong sự thật, tất nhiên tôi không có ý nghĩ chỉ có những sản phẩm của tư duy khái niệm, như một sự phản đối hay một kháng thư của một nhóm trí thức. Nó có thể là bất kì phương tiện nào mà nhờ đó cá nhân hay một nhóm nổi dậy chống lại sự giật dây: bất kì cái gì, từ một bức thư của một nhóm trí thức, đến bãi công của công nhân, từ một đêm nhạc rock đến biểu tình của sinh viên, từ việc từ chối bỏ phiếu trong những màn bầu cử lố bịch hay đọc diễn văn ở một đại hội chính thức nào đó, đến thậm chí là một cuộc tuyệt thực. Nếu đàn áp các mục tiêu của cuộc sống là một quá trình phức tạp, và nếu sự đàn áp này dựa trên việc phải đồng loạt giật dây mọi phương diện thể hiện của cuộc sống, thì cũng chính vì thế mà bất cứ sự thể hiện tự do nào cũng đều gián tiếp đe họa hệ thống hậu toàn trị về mặt chính trị, bao gồm cả những hình thức thể hiện mà nếu ở trong các hệ thống xã hội khác thì không ai có thể nghĩ rằng nó có một ý nghĩa chính trị tiềm tàng nào đấy, chứ đừng nói gì đến chuyện nó có năng lượng có thể bùng nổ.
Mùa xuân Praha thường được hiểu như là sự đụng độ giữa hai nhóm trên bình diện sức mạnh thực chất: những người muốn duy trì hệ thống như nó vốn có, và những người muốn cải cách nó. Nhưng người ta thường xuyên quên rằng, sự đối đầu này chỉ là hành động sau chót và là kết quả tất yếu của của một vở kịch dài đầu tiên được công diễn chủ yếu trong các nhà hát của tinh thần và trong nhận thức của xã hội. Và rằng ở nơi nào đó vào lúc bắt đầu tấn kịch, có những cá nhân sẵn sàng sống trong sự thật, thậm chí kể cả khi mọi thứ ở vào lúc tồi tệ nhất. Những người này không có kênh tiếp cận nào với quyền lực thực, mà cũng không khơi dậy nó. Những lãnh địa mà họ đang sống thật thậm chí không nhất thiết là lãnh địa của tư tưởng chính trị. Họ có thể là nhà thơ, họa sỹ, nhạc sỹ, hoặc đơn giản chỉ là những công dân bình thường, những người có khả năng duy trì giá trị nhân văn của họ. Ngày nay, tất nhiên là khó để truy nguyên khi nào và qua những đường hầm rộng mở và lộng gió nào mà một hành động hay thái độ nào đó đã bắt đầu gây ảnh hưởng lên hệ thống này, mà cũng khó lần theo những siêu vi trùng của chân lý, bởi vì nó từ từ lan ra trong những mô tế bào của đời sống giả dối, dần dần khiến nó phải tan rữa. Tuy nhiên, có một điều có vẻ rõ ràng: cố gắng cải cách chính trị không phải là nguyên nhân làm bừng tỉnh xã hội, mà là kết quả cuối cùng của sự bừng tỉnh ấy.
Tôi cho rằng có thể hiểu hiện tại rõ hơn dưới ánh sáng của kinh nghiệm này. Sự đối đầu giữa 1000 nhà Hiến chương [4]với hệ thống toàn trị dường như [là sự đối đầu] vô vọng về chính trị. Điều này đúng, đương nhiên, nếu chúng ta nhìn nó qua những lăng kính cổ điển của hệ thống chính trị mở, trong đó, khá tự nhiên là mọi lực lượng chính trị phải được đo bằng những vị trí của nó trong thang đo quyền lực thực tế. Với góc nhìn ấy, một tiểu-đảng như Hiến chương hoàn toàn không có cơ hội nào. Nhưng, nếu sự đối đầu ấy được quan sát trên cái nền những điều mà ta đã biết về quyền lực trong hệ thống hậu toàn trị, sự kiện này sẽ được soi rọi dưới ánh sáng hoàn toàn khác. Trong thời gian hiện tại, chưa thể nói đích xác ảnh hưởng của sự xuất hiện Hiến chương 77, sự tồn tại của nó, và những gì nó đã làm trong không gian ngầm, và liệu những cố gắng của Hiến chương nhằm nhóm lên sự tự ý thức và và niềm tin dân sự nên được xem xét ở đây như thế nào. Liệu sự đầu tư này, rốt cuộc, có tạo ra tiền lãi cổ phần theo nghĩa những thay đổi chính trị cụ thể hay không, vào lúc nào và theo cách nào, lại càng khó dự đoán hơn nữa. Nhưng điều đó, tất nhiên, là sống trong sự thật. Là một giải pháp hiện sinh, nó đưa con người trở lại với nền tảng vững chắc của bản chất của họ; về chính trị, nó ném họ vào một canh bạc được ăn cả, ngã về không. Chính vì lí do này, nó chỉ được chọn bởi những người sẵn sàng chịu mạo hiểm, hay bởi những người đã đi tới kết luận là không còn cách nào khác để thực thi nền chính trị thực chất ở Tiệp khắc ngày nay. Điều này, tuy thế, cũng chỉ là một: chỉ những ai không chịu hi sinh bản chất người của mình vì chính trị, hay những ai không tin vào một nền chính trị đòi hỏi sự hi sinh như thế, mới có thể đi tới kết luận này.
Hệ thống hậu toàn trị càng ngược đãi bất kì một đối thủ nào trên bình diện quyền lực thực tế bao nhiêu, càng đàn áp bất kì hình thức chính trị nào độc lập với các luật vận hành tự động của nó bao nhiêu, thì sức nặng của các mối đe dọa chính trị tiềm tàng sẽ càng chuyển tới khu vực hiện sinh và tiền chính trị bấy nhiêu: thường là không cần tới cố gắng có ý thức nào, sống trong sự thật trở thành điểm xuất phát tự nhiên của mọi hoạt động chống lại sự tự vận hành của hệ thống. Và thậm chí nếu những hoạt động như vậy cuối cùng vượt lên trên lãnh địa của việc sống trong sự thật (có nghĩa là chúng đã chuyển thành vô số các phong trào, tổ chức, thể chế song song, nếu chúng bắt đầu được coi là hoạt động chính trị, mang đến sức ép thực tiễn lên cấu trúc chính thức, và trên thực tế đã bắt đầu có ảnh hưởng ở tầng mức quyền lực thực, thì chúng vẫn luôn mang trong mình những dấu vết đặc thù về cội nguồn của chúng. Do đó, đối với tôi, có vẻ như là ngay cả cái gọi là phong trào bất đồng chính kiến cũng không thể được hiểu đúng nếu không ngừng lưu ý về cái nền đặc biệt mà từ đó nó xuất hiện …
(còn tiếp)
-----------------

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Bàn về 'Lời nói đầu ' của Hiến pháp

* VŨ CÔNG GIAO
Lời nói đầu của hiến pháp là gì? Được thể hiện như thế nào?
           Lời nói đầu là phần đầu tiên, phần giới thiệu của các bản hiến pháp, có thể ví như cánh cửa mở vào một ngôi nhà hiến pháp. Vì vậy, nó thường được viết ngắn gọn, xúc tích, tập trung đề cập đến hai khía cạnh cốt lõi: mục đích và chủ thể của hiến pháp.
Mục đích của hiến pháp thực chất cũng là mục đích chung của đại bộ phận nhân dân, phản ánh ý chí, nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân ở một quốc gia. Vì thế, những từ chỉ mục đích trong Lời nói đầu của hiến pháp trên thế giới thông thường là độc lập, tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, công lý, hòa bình, hạnh phúc, phát triển, thịnh vượng, thống nhất, đoàn kết quốc gia…
Chủ thể của hiến pháp (hay của quyền lập hiến) là nhân dân. Đây là điều được thừa nhận rộng rãi và được phản ánh trong Lời nói đầu của hiến pháp hầu hết quốc gia trên thế giới hiện nay.
Bên cạnh mục đích và chủ thể, lời nói đầu của các hiến pháp cũng bao gồm một vài đoạn dẫn dắt đề cập tới truyền thống lịch sử của dân tộc, tình thế, nhiệm vụ hoặc hướng đi của đất nước, tuy nhiên cũng thường rất ngắn gọn.
Trong các hiến pháp trên thế giới, Lời nói đầu của Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 có thể coi là tiêu biểu: “Chúng tôi, nhân dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một Liên bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ”.
Lời nói đầu của các Hiến pháp Việt Namđược viết như thế nào?
Bỏ qua khía cạnh chính trị, cho đến nay Việt Nam đã có sáu bản hiến pháp, bao gồm các Hiến pháp  năm 1946 (ngay sau khi đất nước giành được độc lập), Hiến pháp 1959 ở miền Bắc, năm 1956, 1967 ở miền Nam (trong thời kỳ đất nước bị chia cắt) và các Hiến pháp 1980, 1992 (sau khi đất nước thống nhất).
Dung lượng Lời nói đầu của từng bản hiến pháp như sau (tính cả dấu chấm, phẩy, dấu ngoặc): Hiến pháp 1946: 238 từ[1]; Hiến pháp 1956: 300 từ[2]; Hiến pháp 1959: 1276 từ[3]; Hiến pháp 1967: 150 từ[4]; Hiến pháp 1980: 2982 từ,[5] Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001): 538 từ.[6] Như vậy, Lời nói đầu của Hiến pháp 1967 ngắn gọn nhất, tiếp sau là của Hiến pháp 1946; trong khi Lời nói đầu của Hiến pháp 1980 dài nhất (cũng thuộc về những lời nói đầu hiến pháp dài nhất trên thế giới), tiếp theo là của Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1992.
Sở dĩ Lời nói đầu của các Hiến pháp 1959,1980,1992 dài như vậy là do ảnh hưởng của phong cách lập hiến XHCN (lời nói đầu, và cả nội dung, của hiến pháp các nước XHCN thường rất dài).
Về nội dung, trong khi Lời nói đầu của các Hiến pháp 1946, 1956,1967 nêu rõ chủ thể của quyền lập hiến thì các Hiến pháp 1959,1980,1992 không đề cập đến vấn đề này. Các Hiến pháp 1946, 1956,1967 nêu ra những mục đích tổng quát như tự do, dân chủ, công bằng, bình đẳng, bác ái, nhân quyền và độc lập, đoàn kết, thống nhất dân tộc.., trong khi các Hiến pháp 1959,1980,1992 nhấn mạnh những mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước (Hiến pháp 1959), bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH.
Các Hiến pháp 1946, 1956,1967 có phần dẫn dắt ngắn gọn về lịch sử và tình thế của đất nước, trong khi ở các Hiến pháp 1959,1980,1992 phần này rất dài, nhấn mạnh diễn biến, những thắng lợi của cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Điều này khiến hiến pháp mang đậm tính chính trị, trong khi bản chất của nó là văn bản pháp lý tối cao của nhà nước.
So với Hiến pháp 1992, Lời nói đầu của Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013 được rút gọn hơn (hiện còn 448 từ)[7] với các mục tiêu được sửa đổi ít nhiều, nhưng về cơ bản vẫn theo mô-típ xuyên suốt các Hiến pháp 1959,1980,1992, thể hiện rõ nhất ở các đoạn dẫn dắt và các mục tiêu.
Có một điểm mới so với Lời nói đầu của Hiến pháp hiện hành 1992, đó là thêm cụm từ “chủ quyền nhân dân”. Tuy nhiên, cách diễn đạt và vị trí của cụm từ này không khẳng định rõ ràng nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến. [8]
Từ những phân tích trên, có thể thấy cần tiếp tục sửa đổi Lời nói đầu của Dự thảo Hiến pháp để khẳng định rõ quyền lập hiến của nhân dân. Chỉ nên quy định những mục tiêu khái quát và quan trọng (dân chủ, nhân quyền, bình đẳng, độc lập, đoàn kết dân tộc…), không nên nêu dài dòng, trừu như hiện nay. Các đoạn dẫn dắt cũng cần rút gọn, chỉ nên đề cập đến truyền thống lịch sử và định hướng phát triển chung của toàn dân tộc. Việc tôn vinh sự nghiệp cách mạng, vai trò của Đảng nên để trong các văn kiện của Đảng./.
----------------------------
[2] Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 còn ba đoạn ngắn ở trên, tuy nhiên những nội dung nêu trên là cốt lõi.
Đây là Lời nói đầu của Hiến pháp 1980 đã được sửa một lần.
[8] Xem đoạn liên quan trong Lời nói đầu dự thảo: “Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ quyền nhân dân, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền quốc gia; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; thực hiện công bằng xã hội; tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Nguồn trên.
---------------