Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

QUYỀN LỰC của KHÔNG QUYỀN LỰC - Phần 10

       
* VACLAV HAVEL
(tiếp theo - Phần 10)
XV. 
... Cố gắng sống trong sự thật của người bán rau quả có thể được giới hạn trong việc không làm một số điều nhất định. Anh quyết định không đặt cờ trong cửa sổ khi động cơ duy nhất cho việc đặt cờ lên cửa sổ chỉ là để tránh bị gã công an khu phố sách nhiễu; anh không bỏ phiếu trong những kì bầu cử mà anh cho là giả tạo; anh không giấu ý kiến của mình với cấp trên. Nói cách khác, anh có thể không làm gì hơn là từ chối phục tùng những đòi hỏi nhất định của hệ thống đối với anh (vốn đương nhiên không phải là một bước tiến nhỏ).
Điều này, tuy thế, có thể thành cái gì đó lớn hơn. Người bán rau quả có thể bắt đầu làm cái gì đó cụ thể, cái gì đó vượt lên hành động tự vệ cá nhân cấp thời chống lại sự giật dây, cái gì đó có thể thể hiện cảm nhận mới tìm ra của anh về trách nhiệm cao hơn. Ví dụ, anh có thể tổ chức những người đồng nghiệp bán rau quả hành động chung để bảo vệ lợi ích của mình. Anh có thể viết thư cho các cơ quan, kêu gọi sự chú ý của họ về các ví vụ mất trật tự và bất công xung quanh anh. Anh có thể tìm sách báo chui, copy chúng và cho bạn bè mượn. 
    => Quyền lực  Phần 1;> Phần 2;> Phần 3 ;> Phàn 4 ;> Phần 5 > Phần 6 ; > Phần 7 ; > Phần  8 ;>Phần 9 ;
Nếu cái tôi gọi là sống trong sự thật là điểm khởi đầu về mặt sinh tồn (và đương nhiên là tiềm ẩn cả mặt chính trị) căn bản cho mọi hiện tượng như "sáng kiến của các công dân độc lập" và "bất đồng chính kiến" hay "đối lập" sẽ được làm rõ trong tiểu luận này, thì điều này không có nghĩa là mọi cố gắng sống trong sự thật đều ngay lập tức thuộc về những phong trào này. Ngược lại, trong ý nghĩa rộng nhất và nguyên bản nhất của nó, sống trong sự thật bao trùm một lãnh địa rất rộng mà ranh giới rất mờ nhạt và khó vạch rõ, một lãnh địa gồm đầy những biểu hiện khiêm tốn của ý hướng nhân văn, thì tuyệt đại đa số những biểu hiện ấy vẫn vô danh và những ảnh hưởng chính trị của chúng có lẽ sẽ không bao giờ được cảm nhận hay mô tả rõ ràng hơn là một phần của không khí hay cảm xúc xã hội. Hầu hết những biểu hiện này vẫn chỉ là những sự nổi dậy sơ đẳng chống lại sự giật dây: bạn chỉ đơn giản là đứng thẳng và sống trong nhân phẩm hơn, như một cá nhân. 
Ở đâu đó, nhờ tự nhiên, các giả định và nghề nghiệp của một số người, cũng nhờ những biến số ngẫu nhiên, thí dụ các đặc thù của một bối cảnh cục bộ, các bạn bè và v.v..., mà một sáng kiến hữu hình và thống nhất hơn có thể xuất hiện từ những vùng đất xa xôi vô danh và bao la này, một sáng kiến cao hơn hẳn những "cuộc nổi loạn" cá nhân và chuyển thành những công việc tự giác, có tổ chức và hướng đích hơn. Cái điểm mà ở đó sống trong sự thật không còn là một sự phủ định đơn thuần cuộc sống dối trá và được cụ thể hóa theo một cách nhất định, là điểm mà có cái gì đó được sinh ra, có thể gọi là "đời sống chính trị, xã hội và tinh thần độc lập của xã hội". Đời sống độc lập này không tách rời phần còn lại của cuộc sống ("cuộc sống phụ thuộc") bằng một ranh giới được phân định rõ ràng. Cả hai thường xuyên cùng tồn tại trong một con người. Tuy thế, tiêu điểm quan trọng nhất của nó được đánh dấu bởi mức độ tương đối cao của giải phóng nội tâm. Nó bơi trên đại dương mênh mông của đời sống bị giật dây như những chiếc thuyền con, bị sóng dập vùi nhưng luôn nhấp nhô như là sứ giả hiện hữu của sống trong sự thật, nói lên những mục tiêu đang bị đàn áp của cuộc sống. 

Đời sống độc lập này của xã hội là gì? Dải tần của các biểu hiện và hoạt động của nó dĩ nhiên là phải rất rộng. Nó bao gồm mọi thứ, từ tự giáo dục và nghĩ về thế giới, từ các hoạt động sáng tác tự do và truyền tải nó tới người khác, đến cách phong phú tự do bày tỏ thái độ công dân, bao gồm cả những tổ chức xã hội độc lập hình thành tự phát. Tóm lại, nó là một khu vực mà trong đó sống trong sự thật được chi tiết hóa và vật chất hóa theo cách nhìn thấy được. 

Vì thế, cái sau này sẽ được nhắc đến như là "sáng kiến công dân", "phong trào bất đồng chính kiến", thậm chí đối lập, nổi lên như là một phần mười hiển hiện nhô khỏi mặt nước của tảng băng, từ khu vực đó - từ đời sống độc lập của xã hội. Nói cách khác, cũng hệt như đời sống độc lập của xã hội bắt rễ từ sống trong sự thật theo nghĩa rộng nhất của từ này, như là cách biểu hiện chi tiết và tách biệt của đời sống đó, "bất đồng chính kiến" cũng dần trỗi dậy từ "đời sống độc lập của xã hội". Tuy vậy, vẫn có một khác biệt đáng kể: nếu "đời sống độc lập của xã hội", ít nhất là bề ngoài có thể được hiểu như là một dạng cao hơn của sống trong sự thật, thì sẽ kém rõ ràng hơn nhiều rằng "các phong trào bất đồng chính kiến" lại nhất thiết là dạng cao hơn của "đời sống độc lập của xã hội". Chúng chỉ đơn giản là một biểu hiện của nó, và mặc dù có thể chúng dễ nhận ra nhất nhất, và mới nhìn thoáng qua, là biểu hiện chính trị nhất (và được chi tiết hóa rõ nhất) của nó, chúng còn lâu mới là trưởng thành nhất, thậm chí quan trọng nhất, không về mặt xã hội nói chung, mà thậm chí về mặt ảnh hưởng chính trị trực tiếp. Sau rốt, "bất đồng chính kiến" đã bị bứt khỏi ngọn nguồn của nó một cách giả tạo, bằng việc đặt cho nó một cái tên đặc biệt. Tuy nhiên, trên thực tế, khó có thể nghĩ về nó biệt lập khỏi toàn bộ cái nền chung mà từ đó nó phát triển lên, cái mà nó là một phần hữu cơ và là cái cung cấp nguồn sức mạnh cho nó. Dù gì đi nữa, từ những gì trình bày ở trên về những dị biệt của hệ thống hậu toàn trị, rõ ràng là cái tưởng chừng như là có tính chính trị nhất trong các lực lượng tại một thời điểm cho trước, cái vẫn tự nghĩ về mình theo lối ấy, trên thực tế lại không nhất thiết là một lực lượng như vậy. Phạm vi mà nó trở thành một lực lượng chính trị thực sự hoàn hoàn phụ thuộc vào bối cảnh tiền-chính trị của nó. 

Cái gì sẽ tiếp sau mô tả trên? Không nhiều hơn và không ít hơn điều này: không thể nói về cái mà các "nhà bất đồng chính kiến" đang làm trên thực tế, và ảnh hưởng của những việc họ làm mà lại không trước hết nói về những việc của tất cả những người, bằng cách này hay cách khác, tham gia vào cuộc sống độc lập của xã hội, những người hoàn toàn không nhất thiết phải là "nhà bất đồng chính kiến". Họ có thể là các nhà văn viết theo ý thích mà không thèm để ý đến kiểm duyệt hay những mệnh lệnh chính thức, những người truyền bá tác phẩm của họ - trong trường hợp các nhà xuất bản chính thức từ chối in chúng - với tư cách là samizdat (văn chương bí mật, văn chương “không chính thống”). Họ cũng có thể là các nhà triết học, sử học, xã hội học, hay tất cả những nhà nghiên cứu độc lập, mà nếu như không thể qua các kênh chính thức hoặc bán chính thức, lưu truyền tác phẩm của mình trong samizdat, hay những người tổ chức các cuộc đàm luận, thuyết giảng và hội thảo tư nhân. Họ có thể là các giáo viên, những người kín đáo dạy thanh niên những điều vốn bị "cấm kị" trong các trường công, những linh mục đang tại vị, hoặc đã bị [chính quyền] phế truất, vẫn cố gắng thực hành đời sống tôn giáo tự do; các họa sĩ, nhạc sĩ và ca sĩ, những người đang lao động nghệ thuật mặc cho nhà cầm quyền nhòm ngó thế nào; những người, bằng mọi phương tiện sẵn có, cố gắng thể hiện và bảo vệ các lợi ích xã hội thực sự của người lao động, trả lại ý nghĩa đích thực cho các công đoàn, hay sáng lập các công đoàn độc lập; những người không sợ thu hút sự chú ý của các quan chức tới những trường hợp bất công, những người đấu tranh để được thấy luật lệ đang được bảo vệ; và những nhóm thanh niên khác nhau đang gỡ bở những sự giật dây và sống theo chính cách của mình, theo tinh thần của hệ giá trị của mình. Bảng liệt kê vẫn còn mãi. 
Rất ít người nghĩ đến chuyện gọi tất cả những người này là "nhà bất đồng chính kiến". Và dù thế, chẳng phải những "nhà bất đồng chính kiến" nổi tiếng cũng chỉ là người bình thường như họ hay sao? Chằng phải tất cả những hành động ấy chính là cái mà những "nhà bất đồng chính kiến" đang thực hiện hay sao? Chẳng phải những người mà ta vừa kể không tạo ra các công trình học thuật và đăng chúng trong samizdat? Chẳng phải họ không viết kịch, viết tiểu thuyết và thơ? Chẳng phải họ cũng đang vật lộn chống lại đủ loại bất công và cố gắng tìm hiểu và thể hiện những quan tâm xã hội thực sự của vô số bộ phận dân chúng? 
Sau khi đã cố gắng chỉ ra các nguồn mạch, cấu trúc bên trong và một số mặt của thái độ "bất đồng chính kiến" như trên, rõ ràng tôi đã chuyển góc nhìn từ bên ngoài sang một cuộc điều tra về những gì mà các "nhà bất đồng chính kiến" đang thực sự làm, và làm thế nào mà các đề xướng của họ được thực hiện, và chúng sẽ dẫn tới đâu. 
Vì thế, kết luận thứ nhất được rút ra là, cái không gian hoạt động căn bản và quan trọng nhất, cái quyết định mọi không gian khác, chỉ đơn giản là một cố gắng tạo ra và hỗ trợ "đời sống độc lập của xã hội" với tư cách là một sự thể hiện cụ thể của "sống trong sự thật". Nói cách khác, là hành động tôn vinh sự thật một cách kiên định, có mục đích và cẩn trọng, và tổ chức việc tôn vinh này. Điều này, rốt cuộc, là tự nhiên thôi: nếu sống trong sự thật là xuất phát điểm cơ bản cho mọi nỗ lực của con người chống lại sức ép tha hóa của hệ thống, nếu nó là cơ sở duy nhất có ý nghĩa cho bất kì hành động có ý nghĩa chính trị nào, và nếu, cuối cùng, nó cũng là nguồn hiện sinh sâu sắc nhất của thái độ "bất đồng chính kiến", thì thật khó tưởng tượng được rằng thậm chí một sự "bất đồng chính kiến" công khai còn có cơ sở nào khác ngoài tôn vinh sự thật, tôn vinh một cuộc sống chân thành và cố gắng mở đường cho những mục tiêu đích thực của cuộc sống....
(còn tiếp)

------------------
[1]Tác giả dùng chiết tự: đối lập - opposition với "kiến lập" - position và tiếp đầu tố "đối" - op. (Biên dịch)
[2]Tại đoạn này, Havel đã chính thức trả lời một cách hiệu quả lời kết tội của các báo chí Czechoslovakia, trong đó “bất đồng chính kiến” đôi khi được hiểu là odpadlik. Nghĩa đen của từ này là “kẻ bị sa ngã”, hay “kẻ phản bội” hoặc “tái phạm” (Biên dịch).
[3]Ủy ban Bảo vệ Công nhân, một tổ chức của Ba Lan tồn tại trước khi có sự ra đời của Công đoàn Đoàn kết năm 1980. Sau đó nó được đổi tên thành KSS-KOR (Ủy ban Tự vệ Xã hội-KOR) để nhấn mạnh đến cam kết bảo vệ các quyền dân sự cũng như sự ủng hộ của nó đối với các sáng kiến xã hội chống lại các thể chế của nhà nước toàn trị (Biên dịch).
----------------

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

"Thực hiện 3 khâu đột phá chiến lược"". ..được những gì?

Sáng 30/9, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Hội nghị. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Namtrân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư…
> Tính từ 8-2011, hơn hai năm qua 3 khâu ĐPCL đạt được gì?  
Hội nghị của chúng ta diễn ra vào thời điểm giữa nhiệm kỳ khóa XI với nhiều nội dung quan trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng, được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quan tâm. Theo Quy chế làm việc, Văn phòng Trung ương Đảng đã gửi tài liệu để các đồng chí nghiên cứu trước. Sau đây, tôi xin nêu một số vấn đề có tính gợi mở về những nội dung được trình bày trong các Báo cáo, Tờ trình, mong các đồng chí quan tâm trong quá trình xem xét, thảo luận, quyết định….
Từ đó, chỉ rõ những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo cũng như trong quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Xác định cụ thể nguyên nhân khách quan, chủ quan, nguyên nhân thuộc về luật pháp, cơ chế, chính sách, nguyên nhân do tổ chức thực hiện; đâu là nguyên nhân chủ yếu, có tính quyết định. Phải chăng thời gian qua việc tái cấu trúc 3 lĩnh vực ưu tiên theo tinh thần Kết luận của Hội nghị Trung ương 3 được triển khai một cách bị động trong bối cảnh kinh tế vĩ mô không ổn định, cho nên chưa thực hiện được mục tiêu, yêu cầu đề ra; tới đây cần phải tiếp tục có những điều chỉnh và kiên trì tiến hành một cách bài bản, căn cơ hơn, gắn với tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế? Coi đột phá về thể chế, cải cách các chế độ và thủ tục hành chính, chống phiền hà, sách nhiễu, là khâu trọng yếu, bảo đảm phát huy đầy đủ, đúng đắn cơ chế thị trường, tạo xung lực mới cho phát triển nhanh và bền vững?...
Một là, xem xét, quyết định việc ban hành Quy chế bầu cử trong Đảng: ... Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập và có những vấn đề mới đặt ra, đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Vì vậy, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương xây dựng Dự thảo sửa đổi, bổ sung Quy chế bầu cử trong Đảng hiện hành theo nguyên tắc: Kế thừa tối đa những nội dung còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung những vấn đề đã bộc lộ bất cập trong thực tiễn thi hành…  
                  >> Đọc tiếp/Nguồn   
-----------------

"Ta tự hào đi lên! Ôi, Việt Nam"...


Tú Hờ---Nên cười ai khiếm nhã hay "bới bèo ra bọ "?

Nên cười ai khiếm nhã hay "bới bèo ra bọ" ?
Tú Hờ tôi được xem chương trình "Tám" cuối tuầntrên kênh Canal+(một đài TV tư nhân nhỏ tại Pháp) để bới móc mua vui những tin tức chọc phá hay bêu rếu các nhà chính trị..mà câu chuyện TTg VN Nguyễn Tấn Dũng là một thí dụ gần đây nhất. Xem một vài "còm" như đính kèm dưới đây, Tú Hờ xin có ý kiến như sau:
1/ Người đáng trách nhất là phía văn phòng thủ tướng Pháp, họ đã không chuẩn bị chu đáo cho buổi làm việc quan trọng đưa quan hệ Pháp- Việt lên "tầm chiến lược". Từ bố trí bàn ngồi  trước cửa sổ chói chan (vì người Pháp rất thích cảnh sân vườn sau lưng chăng) của Hai vị thủ tướng để ký  kết và họp báo đến hệ thống dịch đuổi bị trục trặc kỹ thuật...gây ấn tượng khiếm nhã, lôm côm trước ống kính của báo đài trong ngoài nước Pháp...
2/Thủ tướng Dũng để lộ cách ứng xử thiếu lịch lãm của một nhà ngoại giao, mồ hôi nhễ nhại, vội vàng cầm tay ông bạn bên cạnh (thủ tướng Pháp) nói tiếng Việt ..(mà thủ tướng Pháp cũng chẳng hiểu mô tê  gì, chỉ nhìn nhân viên của bộ ngoại giao Pháp , hỏi"ça nemarche pas???=nó hỏng rồi, không một lời xin lỗi khách mới là đáng trách). Còn nhìn TTg Dũng lúng túng thì phải chăng TTg nhà mình quen lối ứng xử với cán bộ theo kiểu trong nước [lẽ ra TTg nên ngồi yên gọi cán bộ lễ tân phía ta đến để hỏi lại yêu cầu bạn kiểm tra] hay đúng vào lúc ấy, cán bộ lễ tân biết tiếng Pháp của đoàn VN(hay ĐSQ) chạy đi đâu mất rồi?
3/Phát âm tiếng Pháp không chuẩn khi gọi tên của thủ tướng Pháp có gì mà buồn cười hay lố bịch như Canal+ bêu rếu? Người thiếu văn hóa(hay là loại văn hóa chọc cười của người thuộc "HLM"=Habitation àLoyer Modéré [ chung cư=bình dân] lại là những kẻ trêu đùa, cười toe toét lập lại hình ảnh Ông Dũng nói"Giăng-Mắc-Ê-Rô"(2 lần) trong chương trình.  Thử hỏi ngay như tên hiệu xe hơi nổi tiếng của Pháp là"Renault"  hay thành phố Montréal của Canada thì người nước ngoài, mấy ai đọc đúng nếu không phải là người đã học chương trình Pháp nói gì đến cái tên khó phát âm của thủ tướng Jean Marc Ayrault hiện nay !
 "Bới bèo ra bọ " chẳng hay tí nào, Tú Hờ nghĩ thế!
 có thể xem ngay ở đây: 
TTg NGUYN TN DŨNG
NÓI CHUYN BNG TAY
TRÊN ĐÀI TV PHÁP !
(Mới: Động tác ngoại giao khều)

Nguyễn Tấn Dũng làm trò cười ! trước TV, truyền thông nước Pháp?

Báo cáo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là đài truyền hình Pháp, Canal Plus (con Vịt Cộng), đã mang Thủ tướng ra làm trò hề !!!:
- Phút thứ 1:10, các phóng viên đã chế nhạo thủ tướng khi ông ra hiệu bằng tay để đóng cái màn che ở sau lưng.
- Phút thứ 2, khi máy dịch bị trục trặc, TT VC Nguyễn Tấn Dũng đã đưa tay chạm vào tay TT Jean Marc Ayrault, rồi nói tiếng Việt: "Xin lỗi ngài, chưa nghe được". Rồi sau đó NTD nói tiếp: "Xin lỗi ngài, cho dịch trực tiếp".
- Phút thứ 3, các phóng viên Canal Plus+đã chế nhạo thủ tướng khi phát âm tên của TT Pháp Jean Marc Ayrault là "Giăng-Mắc-Ê-Rô".
Đây là hành động "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của nhà nước", đề nghị thủ tướng cho "điều tra, xử lý nghiêm" việc đài truyền hình Canal Plus (con Vịt Cộng) này đã phát các thông tin "chống Đảng, chống Nhà nước", cũng như ra lệnh cho Văn phòng Chính phủ ra công văn, tương tự như công văn số 7169, ngày 12-09-2012, để cấm dân không được xem đài truyền hình Canal Plus, như thủ tướng đã từng cấm đọc các trang "Dân Làm Báo", "Quan Làm Báo" và "Biển Đông" hồi năm ngoái.

            >> http://youtu.be/1VMb683TeNM
            >> http://youtu.be/WhRNoWIZbMw
Chuyến thăm viếng chính thức nước Pháp của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn toàn lầm lũi. Không có một tờ báo nào đề cập đến, dù chỉ là một dòng. Cũng không có đài phát thanh hay truyền hình nào đưa tin dù chỉ là vài giây. 
Tệ hơn nữa đài Canal Plus, một đài chủ yếu có mục đích giải trí, còn chiếu một đoạn trong buổi họp báo chung của ông Dũng với thủ tướng Pháp Jean Marc Ayrault để làm trò cười. Các ký giả cười ngặt nghẹo vì cử chỉ và ngôn ngữ ngớ ngẩn của ông Dũng và về cách phát âm rất quê mùa của ông khi ông nói tên thủ tướng Jean Marc Ayrault là "Giăng-Mắc-Ê-Rô".
Tuy vậy họ không hiểu tiếng Việt để cười vì câu mở đầu rất ngộ nghĩnh của ông Dũng:
"Tôi xin bày tỏ vui mừng được trở lại thăm nước Pháp ở Châu Âu và trên thế giới".
Các bạn bắt buộc phải coi khúc phim sau đây của đài Canal Plus:
http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20130928212415AAdB3q2
                <Nguồn:  Ở đâ>
----------------

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

QUYỀN LỰC của KHÔNG QUYỀN LỰC - Phần 6

* VÁCLAV HAVEL
(tiếp theo - Phần 6)
IX. 
Sự khủng hoảng nghiêm trọng của con người xuất hiện do sống trong dối trá, một cuộc khủng hoảng mà đến lượt nó lại làm cho một cuộc sống như vậy trở nên khả thi, chắc chắn phải mang một chiều kích đạo đức nữa: nó bộc lộ, bên cạnh những đặc điểm khác, như là một cuộc khủng hoảng đạo đức sâu sắc trong xã hội. Một người đã từng bị hấp dẫn bởi hệ thống giá trị tiêu thụ, người mà bản sắc đã bị hòa tan trong những trang phục hỗn tạp của nền văn minh đại chúng, người không có gốc rễ trong trật tự của tồn tại, không có cảm nhận trách nhiệm về bất kì cái gì ngoài sự sinh tồn của bản thân, là một người bị vô đạo đức hóa. Hệ thống dựa vào sự vô đạo đức hóa này, khoét sâu nó, và trên thực tế hệ thống ấy chính là sự phóng chiếu sự vô đạo đức lên xã hội.
Ngược lại, sống trong sự thật, như là sự nổi dậy của con người chống lại sự sắp đặt cưỡng bức, là một cố gắng giành lại quyền kiểm soát cảm nhận của cá nhân về trách nhiệm. Nói cách khác, nó hiển nhiên là một hành vi đạo đức, không chỉ vì người ta phải trả giá đắt cho nó, mà cơ bản là vì nó vô tư lợi: rủi ro có thể được đền đáp dưới hình thức chữa lành bệnh cho hiện trạng, mà cũng có thể không. Về mặt này, như tôi đã trình bày trước đây, nó là một canh bạc được tất hoặc mất tất, và thật khó mà tưởng tượng được một con người duy lý lại bước lên con đường chông gai ấy chỉ vì anh ta tin rằng hi sinh hôm nay sẽ đem lại lợi ích ngày mai - dưới hình thức sự cảm kích của công chúng. (Nhân tiện, những người đại diện cho quyền lực luôn vu khống những người sống trong sự thật bằng cách không ngừng quy kết những động cơ vị lợi cho họ - sự thèm muốn quyền lực, danh vọng, hay tiền tài - và do đó chúng đã thử, ít nhất là tìm cách dính líu những người sống trong sự thật này vào thế giới của chúng, thế giới của sự phi đạo đức tổng thể).
                Quyền lực  Phần 1;> Phần 2;> Phần 3 ;>Phàn 4 ;  Phần 5   
Nếu cuộc sống chân thật trong hệ thống hậu toàn trị trở thành mảnh đất chính nuôi dưỡng các ý tưởng chính trị độc lập thay thế (alternative), thì mọi xem xét về bản chất và viễn cảnh tương lai của những ý tưởng này nhất thiết phải phản ánh chiều kích đạo đức này như là một hiện tượng chính trị. (Và nếu niềm tin Mác-xít rằng đạo đức là một sản phẩm của thượng tầng kiến trúc đã ngăn cản ai đó trong số bạn bè của chúng ta nhận thức ra ý nghĩa đầy đủ của chiều kích này, và bằng cách này hay cách khác đã gộp nó [đạo đức theo quan điểm của Mác-xít] vào trong thế giới quan của họ, thì người thiệt hại chính là bản thân họ: lòng trung thành khắc khoải với các nguyên lý của thế giới quan này không cho họ hiểu biết đầy đủ những cơ chế ảnh hưởng chính trị của họ, vì thế, nghịch lý thay, nó khiến họ, với tư cách là những người Mác-xít, lại trở nên chính xác là cái mà họ vốn luôn nghi kỵ ở những người khác, đó là trở thành các nạn nhân của “nhận thức sai lầm”) Tầm quan trọng chính trị đặc biệt của đạo đức trong hệ thống hậu toàn trị là hiện tượng mà ít nhất là rất hiếm có trong lịch sử chính trị hiện đại, một hiện tượng rất có thể có những hậu quả sâu xa - như tôi sẽ sớm cố gắng chỉ ra.

X.
Không thể phủ nhận rằng, sự kiện chính trị quan trọng nhất ở Tiệp khắc sau sự kiện Husák lên cầm quyền năm 1969 là sự xuất hiện của Hiến chương 77. Bầu không khí trí thức và tinh thần bao quanh sự xuất hiện của nó, tuy nhiên, không phải là sản phẩm của bất kì sự kiện chính trị trực tiếp nào. Bầu không khí ấy được tạo ra bởi phiên tòa xét xử một số nhạc sĩ trẻ có quan hệ với một nhóm nhạc rock gọi là "Những người nhựa của vũ trụ". Phiên tòa của họ không phải là sự đối đầu của hai lực lượng hay quan niệm chính trị khác nhau, mà là hai quan niệm cuộc sống khác nhau. Một bên là giáo lý khổ hạnh khô cằn của thành tựu hậu toàn trị, và bên kia là một nhóm người không tên tuổi, không muốn gì hơn là sống trong sự thật, chơi nhạc mà họ thích, hát các bài hát thích hợp với cuộc sống của họ, và sống tự do trong danh dự và tình bạn. Những người này không hề có quá khứ hoạt động chính trị. Họ không phải là những thành viên rất tích cực với các tham vọng chính trị, hay là các cựu chính trị gia bị gạt khỏi cấu trúc quyền lực. Họ đã được cung cấp mọi cơ hội để thích nghi với nguyên trạng, sống trong dối trá, hưởng thụ cuộc đời không bị chính quyền quấy nhiễu. Tuy thế, họ vẫn quyết định đi con đường khác. Cho dù thế, hay đúng hơn, chính vì thế, mà trường hợp của họ có một tác động vô cùng đặc biệt tới những người còn chưa tắt hi vọng. Hơn nữa, khi phiên tòa diễn ra, một cảm xúc mới đã cuộn lên bề mặt sau những năm chờ đợi, vô cảm và nghi ngờ mọi hình thức phản kháng. Con người đã "mệt mỏi vì mệt mỏi", họ chán ghét trì trệ, bất động, chỉ trụ hờ vào một niềm tin rằng rồi mọi thứ cuối cùng sẽ phải khá lên. Theo nhiều lẽ, phiên tòa là giọt nước làm tràn bát nước. Nhiều nhóm thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, mà cho đến lúc đó vẫn biệt lập với nhau, vẫn ngại hợp tác, hay những nhóm đã bị ràng buộc vào các hình thức hành động khiến hợp tác trở nên khó khăn, bỗng nhiên bị giáng mạnh bởi một thực tế mạnh mẽ là tự do là không thể phân chia. Tất cả mọi người đều chợt nhận ra rằng tấn công vào tầng hầm âm nhạc Séc (Czech) là tấn công vào cái cơ bản và quan trọng nhất, cái trên thực tế đã kết nối mọi người với nhau: nó là sự tấn công vào chính khái niệm "sống trong sự thật", vào mục đích đích thực của cuộc sống. Tự do chơi nhạc rock đã được hiểu như là quyền tự do của con người, và do đó cũng giống như là quyền tự do tham gia vào nhận thức chính trị và triết học, tự do viết lách, tự do biểu đạt và bảo bệ các lợi ích chính trị và xã hội khác khau trong xã hội. Con người đã được khơi gợi để cảm thấy ý nghĩa thực sự của việc đoàn kết với những nhạc sĩ trẻ, và họ hiểu ra rằng, không đứng dậy cho tự do của người khác, không kể các phương tiện sáng tạo của họ hay thái độ sống của họ cách xa mình đến đâu, đều là từ bỏ quyền tự do của chính mình. (Không có tự do nếu không có bình đẳng trước pháp luật, và không có bình đẳng trước pháp luật nếu không có tự do; Hiến chương 77 đã cho khái niệm cổ này một chiều mới và điển hình, cái có ý nghĩa vĩ đại với lịch sử Czech hiện đại. Cái mà Slábecek, tác giả cuốn Sáu mươi tám, trong một phân tích thiên tài đã gọi là "nguyên tắc loại bỏ", cái luôn nằm dưới gốc rễ của mọi khốn khổ về chính trị và đạo đức ngày nay. Nguyên tắc này ra đời vào cuối Thế chiến II trong một xung đột lạ lùng giữa những người cộng sản và những người dân chủ, và đã được phát triển xa hơn nữa sau đó, thẳng tới "cái đích cay đắng". Lần đầu tiên trong bao thập kỉ, nguyên tắc này đã bị vượt qua, bởi Hiến chương 77: tất cả những người đoàn kết dưới Hiến chương 77 đều, lần đầu tiên, trở thành những đối tác ngang hàng. Hiến chương 77 không chỉ đơn thuần là một liên minh của những người cộng sản và không cộng sản - điều đó thì không có gì lạ về mặt lịch sử và, từ giác độ đạo đức và chính trị thì không có gì là cách mạng - mà là một cộng đồng mà a priori là mở cho tất cả mọi người, và không ai trong đó bị đặt vào vị trí thấp kém một cách tiên nghiệm). Đó chính là không khí mà trong đó Hiến chương 77 đã ra đời. Ai có thể tiên đoán được rằng việc buộc tội một hai nhóm rock lại có những hậu quả sâu xa như thế?
Tôi nghĩ rằng những nguồn gốc của Hiến chương 77 minh họa rất rõ cái tôi đã đề xuất ở trên: trong hệ thống hậu toàn trị, cái nền thực sự cho các phong trào đang dần dần giành được ý nghĩa chính trị thường không bao gồm những sự kiện chính trị nổi bật như các cuộc đối đầu giữa các lực lượng hay quan điểm chính trị công khai. Các phong trào này chủ yếu bắt nguồn từ đâu đó khác, từ lãnh địa rộng hơn rất nhiều của "tiền chính trị", nơi mà "sống trong giả dối" đối đầu với “sống trong sự thật", tức là, nơi mà các đòi hỏi của hệ thống hậu toàn trị mâu thuẫn với mục đích chân chính của cuộc sống. Một cách tự nhiên, những mục đích thực sự này có khả năng mang những hình thức vô cùng đa dạng. Đôi lúc nó xuất hiện dưới dạng các quan tâm vật chất và xã hội cơ bản của một nhóm hay một cá nhân; những lúc khác, chúng có thể xuất hiện dưới dạng các quan tâm trí tuệ hay tinh thần; vào những lúc khác nữa, chúng có thể là những đòi hỏi hiện sinh cơ bản nhất, thí dụ như thôi thúc tự nhiên của con người được sống cuộc đời trong danh dự. Vì vậy, xung đột này khoác lên mình cái vẻ chính trị không phải vì bản chất chính trị sơ đẳng của các mục tiêu đòi hỏi được lắng nghe, mà đơn giản là: với một hệ thống giật dây phức tạp mà trên đó chế độ hậu toàn trị được xây xựng lên và chịu lệ thuộc vào, thì mọi hành vi hay biểu hiện tự do của con người, mọi cố gắng sống trong sự thật không cách nào khác hơn là mang dáng vẻ đe dọa đối với hệ thống, và, vì thế,trở thành những thứ đặc biệt chính trị. Mọi biểu đạt chính trị cuối cùng của các phong trào xuất thân từ nền móng "tiền chính trị" này đều chỉ là thứ yếu. Nó phát triển và chín muồi với tư cách là kết quả của chuỗi đối đầu tiếp theo với hệ thống, chứ không phải vì nó khởi đầu đã là một chương trình, dự án hay áp lực chính trị.
Một lần nữa, những sự kiện năm 1968 khẳng định điều này. Những nhà chính trị cộng sản muốn cải tổ hệ thống đã xây dựng nên chương trình cải tổ của mình không phải vì đột nhiên họ giác ngộ một cách thần bí, mà bởi vì họ bị ép buộc phải làm như vậy do những sức ép liên tục và ngày càng tăng từ nhiều lĩnh vực của đời sống không hề liên hệ gì với chính trị theo nghĩa truyền thống của từ này. Trên thực tế, họ đã cố gắng sử dụng các biện pháp chính trị để giải quyết các xung đột xã hội (mà trên thực tế là đối đầu giữa những mục tiêu của hệ thống và những mục tiêu của cuộc sống) đang hàng ngày diễn ra hầu như tại mọi tầng mức xã hội, và đã nghiền ngẫm về nó trong nhiều năm với những suy tư ngày càng cởi mở. Được hậu thuẫn bởi sự cộng hưởng sống động trên toàn xã hội, các học giả và nghệ sĩ đã nhìn nhận vấn đề theo vô vàn cách và sinh viên thì đòi hỏi câu trả lời.
Sự ra đời của Hiến chương 77 cũng minh họa tầm quan trọng chính trị đặc biệt của khía cạnh đạo đức của những điều mà tôi vừa đề cập. Thật khó tưởng tượng ra Hiến chương 77 nếu thiếu cảm nhận về sự đoàn kết giữa các nhóm rất khác nhau, và mọi người không đột nhiên nhận ra rằng không thể tiếp tục chờ đợi nữa, và rằng sự thật phải được nói lớn lên và nói đồng loạt, bất kể cái chắc chắn hiển hiện về những đòn trừng phạt và những hậu quả sờ mó được trong tương lai gần kề. "Có cái gì đó đáng để hi sinh", Jan Patocka đã viết trước khi chết [5]. Tôi nghĩ rằng những nhà Hiến chương hiểu điều này không chỉ là di sản của Patocka, mà còn là lời giải thích tốt nhất tại sao họ lại làm những việc họ đã làm.
Nếu quan sát từ bên ngoài, và chủ yếu góc nhìn của hệ thống và cấu trúc quyền lực của nó, Hiến chương 77 đến bất ngờ, như là sét giữa trời quang. Tất nhiên, nó không phải là sét giữa trời quang, nhưng ấn tượng ấy cũng thông cảm được, bởi vì sự sục sôi dẫn tới Hiến chương đã diễn ra trong "không gian bí mật", trong vùng mờ tối nơi mà sự vật thật khó được vẽ lại hay phân tích. Những cơ hội để dự đoán sự xuất hiện của Hiến chương 77 cũng mỏng manh như cơ hội vào lúc này để đoán nó sẽ dẫn tới đâu. Một lần nữa, nó quả là chấn động, rất điển hình cho những thời khắc khi mà một điều gì từ không gian bí mật đột nhiên bùng lên xuyên thấu bề mặt bất động của "cuộc sống trong dối trá". Càng bị mắc bẫy trong thế giới của những vỏ hình thức, thì càng ngạc nhiên khi một cái gì như thế xảy ra.
Bản tiếng Việt © 2006 Duy Tân Trẻ (duytantre@walla.com
© 2006 talawas


[1]Phản Hiến chương: ý nói bản tuyên bố do nhà cầm quyền Tiệp Khắc dựng lên nhằm bác bỏ Hiến chương 77. (Hiến chương 77 là một tuyên ngôn công bố vào tháng 1 năm 1977, lên án nhà nước Tiệp Khắc vi phạm các quyền tự do của con người, do 243 trí thức và công dân Tiệp Khắc kí tên. Theo nghĩa rộng, đây là một phong trào dân sự phi cộng sản đã góp phần quan trọng đưa đến sự sụp đổ của nhà nước toàn trị ở Tiệp Khắc).
[2]Faust: nhân vật thần thoại trong văn học nghệ thuật châu Âu, người bán linh hồn cho quỷ dữ để đổi lấy tuổi trẻ, tri thức và sức mạnh. Lần đầu tiên chính thức xuất hiện là trong vở kịch của Christopher Marlowe ở những năm 1590, sau đó trong một vở kinh điển của Johann Wolfgang von Goethe ở thế kỷ 19.
Mephistopheles, Quỷ vương, chính là nhân vật tiến hành mua bán với Faust. Cái tên này được dùng thay cho Satan hay Quỷ sứ, nhưng không có từ ban đầu trong Kinh thánh mà chỉ được hư cấu kể từ thời Phục hưng. Từ thế kỷ thứ 17, nhiều huyền thoại Thiên chúa giáo bắt đầu nói đến Mephistopheles cùng với Lucifer - Ma vương/ Diêm vương - như những thiên thần nổi loạn chống lại Thượng đế vào lúc khởi thủy, bị đuổi khỏi Thiên đàng (talawas).
[3]Alexander I. Solzhenitsyn: nhà văn bất đồng chính kiến Liên Xô, các tiểu thuyết của ông tố cáo sự tàn bạo trong các trại lao động Xô viết (talawas).
[4]Hiến chương 77: một sáng kiến công dân không chính thức ở Tiệp Khắc những năm 1977-1992, đóng vai trò quan trọng trong khoảng thời gian cuối những năm 1980, khi chủ nghĩa cộng sản đi đến sụp đổ tại nước này. Trong số các thành viên sáng lập hàng đầu của Hiến chương 77 có Václav Havel. Lần đầu tiên Hiến chương xuất hiện như một cương lĩnh vào tháng Giêng năm 1977, trên một tờ báo ở Tây Đức, với chữ ký của 243 công dân Czechoslovakia thuộc những ngành nghề, chính kiến và tôn giáo khác nhau. Đến giữa những năm 1980, số chữ ký lên đến 1200. Hiến chương phê phán nhà nước Tiệp Khắc thất bại trong việc thực thi các điều khoản về nhân quyền như đã được ghi trong các văn kiện mà nhà nước này đã ký kết, trong đó có cả chính Hiến pháp Tiệp Khắc, Hiệp ước An ninh và Hợp tác châu Âu, các điều khoản của Liên hợp quốc về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa… Nó mô tả những người tham gia ký Hiến chương như một liên hiệp không cố kết, không chính thức và để mở, thống nhất với nhau do cùng chung ý chí phấn đấu, về mặt cá nhân và tập thể, cho sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền trên đất nước Tiệp Khắc và khắp thế giới. Nó cũng nhấn mạnh đây không phải là một tổ chức, một quy chế hay một cơ chế vĩnh viễn, và không phải là hình thức làm cơ sở cho hành động đối lập chính trị. Phản ứng của nhà nước Tiệp là bôi nhọ và đàn áp. Họ dùng truyền thông chính quyền, kể cả trong truyền thông đối ngoại, để mô tả Hiến chương là “chống nhà nước”, “chống chủ nghĩa xã hội”, là “mị dân” và “phần xỉ nhục của viết lách”. Họ gọi những người ký vào Hiến chương là “những kẻ phản bội và nổi loạn”, là “đầy tớ trung thành và gián điệp của chủ nghĩa đế quốc”, những kẻ “phá sản về chính trị” và “phiêu lưu quốc tế”… Tháng Mười năm 1979, sáu nhà lãnh đạo của nhóm, trong đó có Václav Havelbị đưa ra xử vì tội lật đổ và bị kết án với những mức tù đến năm năm (talawas).
[5]Jan Patocka là một triết gia có ảnh hưởng lớn và là môn đồ của Edmund Husserl. Ông cũng là một trong những phát ngôn viên đã sáng lập ra Hiến chương 77. Ông bị cảnh sát quấy rối nghiêm trọng, bị gọi thẩm vấn triền miên, và theo đúng nghĩa, đã bị cảnh sát săn lùng cho đến tận giường bệnh viện nơi ông trút hơi thở cuối cùng. Trích đoạn trên được lấy từ diễn văn cuối cùng của ông, được dịch ra tiếng Anh là “Political testament” (Di chúc chính trị), Telos, 31 (mùa xuân 1977), trang 151-2.
(Chú thích của biên dịch)
(còn tiếp)
------------------

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Bốn người chết, 13 ngừoi mất tích do bão lũ

Mưa lớn kéo dài những ngày qua đã gây sạt lở nhiều tuyến đường lên các huyện vùng cao của tỉnh Quảng Namvà cô lập 4 xã vùng biên giới. Hàng ngàn hécta lúa, hoa màu ngập nước và hư hỏng; 1.500 m ống nước sinh hoạt của Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc (huyện Tây Giang) bị cuốn trôi. Mưa lớn kèm lốc làm chìm thuyền của ông Nguyễn Văn Lên (ngụ xã đảo Tân Hiệp, TP Hội An) khi đang tránh bão tại âu thuyền Cù Lao Chàm...
… Đến tối 19-9, lực lượng cứu hộ tỉnh Đắk Lắk đã vớt được thi thể 2 nạn nhân và cứu sống 4 người trong vụ nước lũ cuốn trôi 12 người trưa 17-9 tại huyện Ea Súp. Hai người chết là ông Đào Văn Lý (49 tuổi) và bà Hầu Thị Mỵ (44 tuổi), cùng ngụ xã Cư K’bang. Lực lượng cứu hộ cũng đã đưa bà Lý Thị Pằng (47 tuổi, vợ ông Lý) cùng 2 con là Đào Thị May (16 tuổi) và Đào Thị Thủy (16 tháng tuổi) cùng ông Đào Văn Thanh (46 tuổi) vào khu vực an toàn. Hàng trăm người thuộc lực lượng công an, quân đội, dân quân tự vệ và người dân với hàng chục canô, thuyền máy vẫn tiếp tục chạy dọc sông Ea H’leo để tìm thi thể 6 nạn nhân còn lại. Sáu người này trong 4 gia đình gồm: 2 con gái bà Pằng là Đào Thị Phương (7 tuổi) và Đào Thị Thúy (4 tuổi); ông Đào Văn Dinh (58 tuổi), Dương Thị Hoa (34 tuổi, con dâu ông Dinh), Đào Thị Nhành (11 tuổi, con của chị Hoa) và bà Lý Thị Di (43 tuổi).
Tỉnh Đắk Lắk có 554 công trình hồ chứa và 14 cầu cống bị cuốn trôi và hư hỏng, nhiều đoạn đường sạt lở gây chia cắt, hơn 2.000 ngôi nhà ngập sâu trong nước khiến hàng ngàn hộ dân phải di dời. 
                   >> Đọc tiếp/Nguồn  
--------------

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Cần sửa Nghị định 72 trước khi quá muộn

Nghị định 72 có hiệu lực từ ngày 01/9/2013 của Chính phủ Việt Nam hàm chứa nhiều điểm bất hợp lý và có thể tạo kẽ hở và điều kiện cho lạm dụng quyền lực, hạn chế các quyền tự do thông tin của người dân, theo bà Phạm Chi Lan, cựu thành viên Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ.
Trao đổi với BBC hôm Chủ Nhật, cựu Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kêu gọi nhà nước, các cơ quan lập pháp, tư pháp và lập pháp sớm xem xét lại bản nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành từ ngày 15/7.
Bà Phạm Chi Lan nói:
"Nghị định 72 gây ra nhiều bức xúc trong xã hội nhất là trong cộng đồng mạng ở chỗ đưa ra những quy định ví dụ như cấm các mạng đưa ra những thông tin có tính chất tổng hợp chung và chỉ được đưa đúng mục tiêu của mạng đó..."
Cựu cố vấn Thủ tướng Chính phủ cho rằng nghị định đã tạo ra một sự cấm đoán không cần thiết.
Bà nói: "Nếu với cách thức ngăn cấm như vậy, tôi cho là không phù hợp với yêu cầu thông tin của bạn đọc ngày nay, của người đọc ở khắp các nơi, nhất là với hoạt động của các trang mạng. Nó là một sự cấm đoán không cần thiết và không đúng.
"Nó không đúng với quyền thông tin của các trang mạng, cũng như quyền được thông tin của người dân, những người hay đọc trên mạng."
Cựu quan chức lãnh đạo VCCI đưa ra lời kêu gọi:
"Đối với Nghị định 72, tôi chỉ mong và hy vọng Chính phủ có thể nhìn nhận vấn đề sớm hơn và sửa nó để cho đừng gây ra những tác động không tốt với xã hội.".
(From: Nguồn BBC  )
----------------

Bộ trưởng Phạm Bình Minh trả lời DÂN

                                         Click => Xem từ VTV ở đây 
 “Cộng đồng ASEAN” được dựa trên 3 trụ cột, gồm Chính trị, Kinh tế và Văn hóa – Xã hội. Về Chính trị, được xây dựng trên cơ sở thiết lập mối quan hệ tin cậy về chính trị giữa các nước thành viên ASEAN, trên các tiêu chuẩn về giá trị chung của ASEAN, đó là Hiệp ước về thân thiện và hợp tác của ASEAN.
Hay có thể nói là xây dựng một mối quan hệ giữa các nước ASEAN hợp tác với nhau, thân thiện, hợp tác và tin cậy chính trị, đồng thời quan hệ với các nước bên ngoài của cộng đồng ASEAN.
Khi “Cộng đồng ASEAN” chính thức ra đời thì các doanh nghiệp nói chung trong ASEAN và Việt Nam nói riêng sẽ được hưởng lợi từ những ưu đãi trong “Cộng đồng ASEAN”, nhưng cũng phải chịu nhiều thách thức.
Những ưu đãi ở đây là thị trường với 600 triệu dân, người sản xuất ở Việt Nam sẽ không chỉ hướng vào sản xuất nội địa nữa mà sẽ hướng ra thị trường rộng lớn hơn. Rộng lớn hơn 600 triệu dân là những đối tác của ASEAN với bên ngoài, vì ASEAN cũng có một số hiệp định thương mại tự do với các đối tác như là Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác…
                    >>   Đọc bài VOV   
-----------------

ĐỘC LẬP PHẢI ĐI LIỀN VỚI TỰ CHỦ, TỰ QUYẾT DÂN TỘC

   
* BÙI VĂN BỒNG
               Nhìn lại lịch sử từ ngày 2-9-1945 đến nay, 68 năm rồi, dù đã Tuyên ngôn độc lập, nhưng Việt Nam ta chưa hề có độc lập dân tộc thực sự theo đúng nguyên nghĩa của từ. Đến tận thời điểm này, đất nước Việt Nam đâu đã được yên lành để sống trong một quốc gia hoàn toàn được độc lập, tự do? Mới giành độc lập được 20 ngày thì ngày 23-9-1945, thực dân Pháp (với đồng minh Anh-Ấn, cùng Tàu Tưởng, Nhật) đã quay trở lại xâm lược nước ta.
Câu nói trong Tuyên ngôn của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để gìn giữ quyền tự do, độc lập”. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta…”. Nay, ai coi thường, thậm chí vì “16 chữ vàng, 4 tốt’ mà ngăn chặn lòng yêu nước là đi ngược lại lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng nhờ ‘lòng yêu nước nồng nàn’, suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dân và quân ta đã giành nhiều thắng lợi, quân đội ta từ chỗ chỉ có 34 chiến sĩ tuyên thệ dưới bóng đa Tân Trào, đã lên cấp đại đoàn, nhiều đại đoàn:

 “Tiền, gạo của dân
       súng đạn cũng nhờ dân
Đâu dễ quên
những "đồng tiền kháng chiến”
Chắt chiu từ xương máu đồng bào
Từ mồ hôi chát mặn khát khao
Từ nước mắt cay nồng bom lửa…
Đoàn quân lớn lên từ không đến có                                
Từ nhỏ nhoi thành cao lớn phi thường
Cũng nhờ mỗi củ khoai hạt lúa
Nhờ hòn than giấu lửa suốt mùa mưa”…
                           (“Nhìn lại dấu xưa” – Bùi Văn Bồng)
            Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, kết thúc cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng kế đó toàn dân ta lại phải lao vào cuộc chiến mới vì nền độc lập,  cả dân tộc lại phải dồn hết tâm sức suốt gần 20 năm mới giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng tiếp đến, tưởng được như lời tuyên bố mừng rỡ của cố TBT Lê Duẩn “đất nước ta từ nay vĩnh viễn sạch bóng quân xâm lược”, thì ngay sau đó lại chiến tranh biên giới Tây Nam, con em người dân Việt lại phải đổ biết bao máu xương làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, rồi nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, lại rối tinh rối mù bất ổn bởi tranh chấp biển Đông và tình trạng người Trung Quốc thâm nhập, tung hoành khắp mọi miền đất nước.
Từ khi nước ta giành được độc lập dân tộc, Trung Quốc luôn luôn rình rập, chớp mọi thời cơ đánh chiếm các quần đảo thuộc chủ quyền cuat Việt Nam. Năm 1946, quân Tàu Tưởng đánh chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, vì sợ Pháp lại không dám đánh tiếp. Năm 1956, Pháp vừa rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc đã cho quân xâm chiếm một số đảo phía Đông của Hoàng Sa. Mỹ nhảy vào miền Nam, Trung Quốc thấy mất thời cơ, đành co lại. Năm 1973, Mỹ vừa rút quân khỏi Việt Nam thì ngày 19-1-1974, Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa…
Để đánh Việt Nam từ phía Tây Nam, Trung Quốc đã dựng lên chế độ diệt chủng Polpot, mượn tay Polpot đánh dọc toàn tuyến biên giới Tây Nam, bắt đi hơn 500 người dân rồi chiếm đảo Thổ Chu, lăm le chiếm đảo Phú Quốc, lại có kế hoạch diệt hết người Khmer để đưa người Trung Quốc vào chiếm luôn Campuchia làm bàn đạp chiếm toàn Đông Dương, áp sát Thái Lan, Mianma và tràn xuống Đông Nam Á. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc xua quân xâm lược toàn tuyến 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm một phần thuộc quần đảo Trường Sa.
Năm 1989, toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam rút về nước. Năm 1990, thấy “trên đà thắng lợi”, Trung Quốc bày ra ‘cái bẫy’ Hội nghị Thành Đô (TQ) để tiếp tục chính sách chi phối Việt Nam theo kiểu mới và cxoi như Đảng CSVN bị vướng bẫy. Đi dự hội nghị Thành Đô là sự “ngoan ngoãn tự băng bó vết thương” để sang mà nghe kẻ thù tiếp tục bóp nghẹt, chặt chém theo kiểu “đấm xong, nay xoa để còn đấm tiếp” cho đến khi ngã gục.
Thực chất Hội nghị Thành Đô 1990 là cách chạy tội của Trung Quốc khi đã là chủ mưu gây ra nạn diệt chủng ở Campuchia và gây ra chiến tranh biên giới phía Bắc, xâm chiếm Hoàng Sa, gây ra cuộc hải chiến rồi chiếm một số đảo, bãi đá ngầm ở Trường Sa. Nhưng cái chính là TQ bày ra Hội nghị Thành Đô với chủ đích vừa xoa dịu, vừa “cài bẫy”,  dùng lời lẽ ngon ngọt dụ dỗ Việt Nan để thực hiện “chiến lược xâm lược mềm”, “trỗi dậy hòa bình”, phá vỡ sự nghiệp đổi mới của Việt Nam, từng bước làm suy yếu Việt Nam, buộc VN phụ thuộc nhiều hơn vào TQ để đạt mục đích cuối cùng là xâm lược nước ta lần nữa. Đã quá thừa minh chứng để nhận diện bộ mặt thật của Trung Quốc. Hội nghị Thành Đô là thế, nhưng sau Hội nghị này, thấy Trung Quốc không tôn trọng Việt Nam, can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ, nói mà không làm, lại liên tiếp gây căng thẳng để ép Việt Nam từ nhiều phía, thiết nghĩ rất cần nhanh chóng nhận diện mà cảnh giác. Cũng cần chỉ thẳng ra rằng, “diễn biến hòa bình”, “thế lực thù địch” không ai khác mà chính là Trung Quốc.
Suốt hơn 20 năm qua, cái mồi câu “16 chữ vàng” và “4 tốt” cứ nhấp nhứ dần để chi phối Việt Nam về mọi mặt, từ chính trị đến kinh tế, ngoại giao và cả an ninh trật tự, văn hóa xã hội. với mưu đồ bành trướng, bá quyền, Trung Quốc muốn chiếm Việt Nam và cả Đông Dương để thực hiện mục đích thành lập tỉnh Quảng Nam. Ý đồ lăm le này càng thêm rõ suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhưng cho đến nay, từ lâu Trung Quốc đã có tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, còn tình Quảng Nam đầy mưu mô và tham vọng vẫn còn để dành, vẫn bỏ ngỏ để rồi “hãy đợi đấy!”.
Khổ một nỗi là Đảng ta vì qua tin “ông bạn vàng”, “đàn anh” tốt, “cộng sản lớn”, mải miết bám theo “đoàn kết, hữu nghị, anh em, cùng lý tưởng cộng sản” mà từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ rồi cho đến nay vẫn chưa thoát ra được kịch bản, đạo diễn của Trung Quốc về những lĩnh vực trọng yếu và những tình huống mang tính bước ngoặt lịch sử. Tại sao mỗi lần nghe theo Trung Quốc là một lần thất bại, kể cả can thiệp về nhân sự, loại bỏ những người trong nguồn quy hoạch lãnh đạo có đức có tài, có chính kiến, đã nhiều lần bị trả giá quá đắt, mà cái tư tưởng “phủ phục thiên triều” vẫn chưa dứt ra được?
Không nhận diện ra tốt-xấu, phải-trái, không đánh giá được đâu là bạn, đâu là thù, không phân biệt đâu là mưu mô và đâu là“sự giúp đỡ chí tình”, hàm ơn vô lý, chính là sự tự sát. Không nhận diện đâu là cộng sản chân chính, đâu là vỏ bọc, giả hiệu thì còn “chạy việt dã vô cự ly”đến hết hơi rồi chịu gục ngã. Một nước đã Tuyên bố độc lập, thế nhưng do thiếu tính tự chủ, tin vào thứ Chủ nghĩa xã hội trá hình kiểu Tàu, trở thành con bài của Mao-ít, để rồi cung cúc đi theo, nghe xúi giục làm theo, trả giá biết bao lần mà nay chưa kiên quyết thể hiện tự chủ của một nước độc lập, cuối cùng chỉ chuốc lấy sự trì trệ và những mất mát, tang thương không lường hết được.
            Đến lúc này mà còn ráng sức bơi ngược dòng, trung thành với những cam kết hoàn toàn do sự áp đặt rõ nhất và thâm hiểm nhất từ Hội nghị Thành Đô ngay trong dịp kỷ niệm 2-9-1990, những cài bẫy “16 chữ vàng, 4 tốt”, “chống diễn biến hòa bình”, "cùng lý tường, cùng ý thức hệ"…của Trung Quốc từ hơn 20 năm trước, rõ ràng là sự mắc mưu “Trung Cộng”, dẫn tới nguy cơ đưa đất nước vào kết cục bi thảm dưới bàn tay của Chủ nghĩa bành trướng mang đậm bán chất Đế quốc Đại Hán. Độc lập mà không biết tự chủ thì coi như độc lập chỉ là thứ hình thức không đủ trang sức, không có nghĩa lý gì! Cho nên rất cần tỉnh táo, cảnh giác cao độ, tránh được sự sai khiến, áp dặt để thực sự tự chủ tự quyết là điều không đơn giản. 
             Cũng là bài cũ, trò lường gạt ‘Cái gậy và củ cà rốt’, nhưng cái gạy thủ sẵn từ lâu của Trung Quốc nay đã to hơn, chắc hơn, không cần giấu sau lưng nữa, đã công khai huơ lên mấy lần đe dọa và rập rình đập chết “con mồi”, trong khi đó củ cà rốt có khắc số 16 CV+ 4T nay đã thối, teo quắt, chẳng lẽ ta cứ bài cũ mà làm theo? Để "xâm lược mềm", Trung quốc không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào, kể cả dùng tiền dụ dỗ, như một sự bố thí. Mới đây, một chuyện hết sức kỳ cục đã xảy ra vào tháng 7-2013: Tướng Vũ Đông Lập, Cục trưởng Cục Quản lý biên phòng thuộc Bộ Công an Trung Quốc trong chuyến sang thăm và làm việc tại Việt Nam, đã thưởng “nóng” cho Đồn Biên phòng Móng Cái của Việt Nam 50 triệu đồng, dĩ nhiên là đồng Việt Nam. Nếu đồn biên phòng Mõng Cái có chút tự tôn, tự trọng dân tộc thì không nhận khoản tiền đó. 

            Cần có bản lĩnh Việt Nam, ý chí Việt Nam và mưu trí Việt Nam đã được hun đúc suốt hơn 4.000 năm lịch sử, khẳng định được quyền tự chủ trong công cuộc gìn giữ nền độc lập, tự do, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Những hoạt động mang danh “hữu nghị” như: Thanh niên hữu nghị hai nước, biên giới hữu nghị, tuần tra chung trên biên giới và biển, hội chợ hữu nghị, giao lưu văn hóa hữu nghị…có là thực lòng, được bao nhiêu thực chất? Phải chăng, đó chỉ là những “đường lượn chiến thuật” ngoắt ngoéo của sâu đục thân đang làm héo mòn dần ý chí, năng lực, quyền tự chủ của Việt Nam, đang mang theo niềm tự hào 68 năm độc lập dân tộc?
               Một diều cần nhìn nhận, đánh giá chuẩn xác từ thực tế chính tri.-xã hội hiện nay: Đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ đã làm được đầy đủ lời khẳng định, vừa là lời dạy này của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay chưa? Bác nói:: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” (!?). 
               Vững tin vào nhân dân, vững tin ở lòng yêu nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tổng lực sức mạnh nội tại  (nội lực) của đất nước, có bản lĩnh và ý chí tự chủ và tự quyết dân tộc, thì nền độc lập, tự do mới trường tồn, lãnh thổ, lãnh hải được giữ vững. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ  "Đất nước' đã viết:
... "Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng năm 
Ta đã lớn rồi, chín đầy hy vọng
Hãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng của nắng
Hỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi..

Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi đừng rơi
Đừng tự do, đừng hoài nghi nữa
Hãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủ
Hãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dân
Nhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùng
Thế vô tận của nghìn năm giết giặc
Lửa đã cháy hồng hào mặt đất
Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù!

- Không bao giờ xương máu phải bơ vơ
Ôi sông núi nghi ngàn dặm đất
Có nghe tiếng chúng con: Xin có mặt
Nguyện làm người xung kích của quê hương
Đây tiếng hát chúng con:
Tiếng hát xuống đường!".
_ (NKĐ).
BVB
-------------

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

Ông Bá Thanh không còn dễ "Hốt liền", "Nhốt ngay"!

… Ông Nguyễn Bá Thanh nhấn mạnh: Nhiệm vụ, trách nhiệm của Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy được giao là hết sức khó khăn, phức tạp đòi hỏi chúng ta không những phải tinh thông về nghiệp vụ, có bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, mà còn phải có phương pháp công tác, cách thức tổ chức thực hiện phù hợp, thường xuyên học tập, trao đổi, tích lũy kinh nghiệm…..
                      >>  Đọc tiếp/Nguồn  
--------------------

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Thượng tướng Hoàng Cầm qua đời !

Thượng tướng Hoàng Cầm (tên khai sinh Đỗ Văn Cầm), sinh năm 1920, tại xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội); trú tại số nhà 244, đường PASTEUR, phường 6, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội khóa VII; nguyên: Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4; Tư lệnh Quân khu 4; Tổng Thanh tra Quân đội (nay là Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng) đã nghỉ hưu. Ông được phong quân hàm cấp Thượng tá (8/1958); thăng quân hàm: Đại tá (11/1960), Thiếu tướng (4/1974), Trung tướng (4/1980), Thượng tướng (12/1984). Tháng 11/1992, đồng chí được Nhà nước cho nghỉ hưu.
Ông đã từ trần hồi 14 giờ 30 phút ngày 19/8/2013, tại Bệnh viện quân y 175.Do có nhiều công lao, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, Thượng tướng Hoàng Cầm đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác.
                  >> Đọc tiếp/Nguồn   
----------------

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Ấn Độ ra mắt HÀNG KHÔNG MẪU HẠM tự chế

Hôm nay 12/08/2013 Ấn Độ đã trình làng chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên do nước này tự chế tạo, trong nỗ lực hiện đại hóa trang thiết bị quân sự hầu hết là mua của Liên Xô cũ, để đối phó với sức mạnh đang lên của Trung Quốc.
Chiếc INS Vikrant có trọng tải 40.000 tấn sẽ được đưa vào hoạt động từ năm 2018, sau khi tiến hành xong một loạt thử nghiệm. Sự kiện này sẽ giúp Ấn Độ bước vào câu lạc bộ các quốc gia có thể tự thiết kế và đóng được hàng không mẫu hạm, đến nay chỉ mới có bốn nước là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga.
Chương trình này tốn kém khoảng 5 tỉ đô la, bị trễ hạn so với kế hoạch hai năm. Tuy nhiên đây là một giai đoạn đáng nhớ - theo như tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng A.K.Antony, hiện diện trong buổi lễ ra mắt chiếc tàu sân bay trên tại cảng Cochin ở miền nam Ấn Độ. Ông nói : « Đây là bước đầu tiên của một chuyến hành trình dài, và là bước đầu quan trọng ».
Theo các nhà phân tích, Ấn Độ tìm cách đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của một cường quốc châu Á khác là Trung Quốc, bằng cách hiện đại hóa kho vũ khí của mình. Chuyên gia Rahul Bedi của tạp chí quốc phòng Jane’s nhận định : « Chiếc hàng không mẫu hạm sẽ được triển khai tại Ấn Độ Dương, nơi quy tụ các lợi ích thương mại và kinh tế của thế giới. Ấn Độ luôn lưu ý đến năng lực của Trung Quốc ».
New Delhi đầu tư nhiều tỉ đô la cho công cuộc hiện đại hóa trang thiết bị quân sự. Theo cơ quan tư vấn KPMG, Ấn Độ chi 112 tỉ đô la cho vũ khí từ 2010 đến 2016.
Hôm thứ Bảy 10/08/2013, chính phủ Ấn cũng đã loan báo chiếc tàu ngầm nguyên tử đầu tiên INS Ariahant đã sẵn sàng hoạt động thử. Theo chuyên gia của Jane’s, thì tất cả các chương trình này là nhằm « phô trương sức mạnh của Ấn Độ, nối dài thêm cho chính sách ngoại giao ».
Còn theo C.Uday Bhaskar, cựu sĩ quan Hải quân Ấn và là cựu giám đốc Quỹ Hàng hải Quốc gia, thì chiếc hàng không mẫu hạm được giới thiệu hôm nay « sẽ tăng cường uy tín của Ấn Độ », nhưng « không làm thay đổi tương quan lực lượng với Trung Quốc. Kỹ thuật về nguyên tử và đóng tàu của Trung Quốc cao hơn Ấn Độ ».
Bắc Kinh hồi tháng 9/2012 đã đưa vào hoạt động chiếc Liêu Ninh, hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước này, được cải tạo từ chiếc Varyag ban đầu được đóng cho Hải quân Liên Xô nhưng chưa hoàn tất.
Từ nay đến cuối năm, New Delhi sẽ nhận được chiếc tàu sân bay Admiral Gorshkov mua lại của Nga, đặt tên mới là INS Vikramaditya, được giao trễ bốn năm.
Hiện nay Ấn Độ chỉ sở hữu một hàng không mẫu hạm đã 60 tuổi mua lại của Anh vào năm 1987, được đặt lại tên là INS Viraat, sẽ dần dần bị thải loại trong những năm tới.
 Thụy My
----------------