Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Mộng bá vương với 6 CUỘC CHIẾN !

Tham vọng của Trung Quốc không chỉ là "lưỡi bò"







* Nguyễn Nguyên Bình (st)
@ - Đôi lời thưa với bạn đọc:
               Bà Nguyễn Nguyên Bình, con gái của tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người rất quen thuộc với giới Blogger Việt Nam, từng là phóng viên báo QĐND, là chuyên gia về Trung Quốc; cuốn sách mà bà tặng tôi có tựa đề “Thời đại anh hùng”, do bà dịch từ nguyên bản tiếng Trung, dày hơn 1.000 trang, mà tôi đã có dịp giới thiệu với bạn đọc; qua đó để nói rằng vốn tiếng Trung của bà là rất đáng nể.
                Ngoài ra, bà nói và nghe tiếng Trung rất tốt (trong chiến tranh biên giới 2/1979, bà là người được bên quân đội cử đi phỏng vấn tù bình Trung cộng...). Bà vừa gửi cho tôi bài viết có tựa đề như sau, được lấy từ TTXVN tại Bắc Kinh.
                Đọc bài để thấy tham vọng của người Trung Quốc, cuối bài báo là “ước mơ” ngông cuồng của hậu duệ đế quốc Đại Hán:
               Sau khi kết thúc sáu cuộc chiến tranh, TQ trở thành cường quốc kinh tế và quân sự duy nhất trên thế giới, TQ cùng với châu Âu, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, châu Phi và Braxin thiết lập trật tự thế giới mới do TQ chủ đạo.
               Ngoài 6 cuộc chiến tranh, trong đó có thu hồi các đảo tại biển Đông Việt Nam, người viết bài này còn nghĩ đến Trung cộng cần phải chia Ấn Độ ra làm nhiều nước nhỏ để làm suy yếu Ấn Độ trước khi gây cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng v.v…
              Xem ra, tham vọng của bọn bành trướng Bắc Kinh là ghê gớm, sở dĩ tôi nhấn mạnh đoạn nói về Ấn Độ là bởi vì, chính Trung cộng chứ không phải Ấn Độ sẽ bị chia thành nhiều nước nhỏ; “tham thì thâm”, như chính câu nói xuất phát từ… Khựa!
             Xin giới thiệu đến bạn đọc và rất cảm ơn bà Nguyễn Nguyên Bình!
Sáu cuộc chiến tranh 
trong 50 năm tới của Trung Quốc
TTXVN (Bắc Kinh 30/7)
             Gần đây, trang “Tin tức Trung Quốc” đăng bài viết “Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc” (không đề tên tác giả), có nội dung như sau:
            Trung Quốc (TQ) là một nước lớn chưa thống nhất, đây là nỗi nhục của dân tộc Hoa Hạ, là nỗi hổ thẹn của con cháu Viêm Hoàng đế thống nhất đất nước và sự tôn nghiêm của dân tộc, trong vòng 50 năm tới, TQ cần phải tiến hành sáu cuộc chiến tranh.

Cuộc chiến tranh thứ nhất: Thống nhất Đài Loan (giai đoạn 2020 - 2025).
           Mặc dù, quan hệ hai bờ hiện nay đang có xu hướng đi vào hòa hoãn nhưng đừng hy vọng nhà đương cục Đài Loan (cho dù là Quốc dân đảng hay Dân tiến đảng) muốn thống nhất hòa bình với TQ đại lục, vì điều này không phù hợp với lợi ích tranh cử của đảng cầm quyền tại Đài Loan, cho nên trong thời gian dài sẽ tiếp tục nêu chủ trương giữ nguyên hiện trạng với TQ đại lục (như vậy đều có lợi cho hai đảng, Dân tiến đảng hung hăng một chút, Quốc dân đảng hòa hoãn một chút, cả hai đều giành được lợi ích chính trị trên chính trường Đài Loan), “độc lập” nhưng không giám độc lập thật sự, chỉ có thể kích động dư luận để kiếm lợi, trong khi đó “thống nhất” cũng sẽ là không thống nhất thật sự, chỉ có thể là đề cập chung chung. Đài Loan không thống nhất, đây là một tổn thương lớn nhất của TQ.

                  Cho nên trong 10 năm tới, tức trước năm 2020, TQ cần phải nắm cho được phương châm chiến lược thống nhất, tuyên bố trước Đài Loan về thời hạn cuối cùng để thống nhất đất nước là năm 2025, hoặc là Đài Loan chấp nhận thống nhất hòa bình (đây là kết quả mà toàn thể người Hoa trên khắp thế giới mong đợi), hoặc là phải sự dụng vũ lực để thống nhất (đây là sự lựa chọn duy nhất mà TQ đại lục buộc phải làm). Để thống nhất, TQ phải làm tốt công tác chuẩn bị từ 3 đến 5 năm (thời điểm này, TQ hoàn toàn có ddr thực lực quân sự để thống nhất Đài Loan, như hàng không mẫu hạm của TQ chính thức được đưa vào biên chế, máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4 được hoàn thiện…). khi thời điểm đến, cho dù là sự dụng phương thức thống nhất như thế nào, TQ vẫn nhất định phải thống nhất, đây là một sứ mệnh lịch sử của dân tộc Hoa Hạ.

               Theo phân tích tình hình hiện nay, Đài Loan tất sẽ cự tuyệt thống nhất, TQ đại lục duy nhất chỉ có con đường sử dụng vụ lực để thống nhất. Cuộc chiến tranh thống nhất này là một cuộc chiến tranh đích thực mang ý nghĩa hiện đại hóa kể từ sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, là một cuộc chiến tranh kiểm nghiệm toàn diện sức chiến đấu hiện đại hóa của quân đội TQ. Trong cuộc chiến này, TQ có thể dễ dàng giành chiến thắng, nhưng cũng có thể sẽ gian nan giành chiến thắng. Tình hình này phụ thuộc vào quyết định tham chiến của Mỹ, Nhật Bản đối với Đài Loan. Mỹ, Nhật Bản viện trợ cho Đài Loan, thậm chí xuất quan phản công Đại lục, TQ buộc phải sử dụng tổng lực để đối kháng Mỹ, Nhật Bản, như vậy sẽ trở thành cuộc đại chiến gian khổ và kéo dài. Nếu Mỹ, Nhật Bản không giám đối kháng với TQ, để TQ đại lục thu hồi Đài Loan, quân đội Đài Loan đương nhiên không thể chống đỡ, nhiều nhất là 3 tháng là có thể kiểm soát hoàn toàn Đài Loan.

                   Mặc dù hiện nay ai cũng cho là TQ có đủ khả năng chống lại các thế lực can thiệp, nhưng trước khi thu hồi Đài Loan, tốt nhất là tiến hành bố trí thế cục, để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến, như vậy TQ mới có thể thần tốc đánh chiến Đài Loan. Vậy phải bố trí thế cục thế nào để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến? Tốt nhất là gây ra một hoặc hai cuộc chiến tranh trước đó, vi dụ như chiến tranh Itxraen – Iran, chiến tranh Nga – Nhật, chiến tranh Ấn Độ - Pakitxtan, hay đối đầu giữa hai miền Triều Tiên, như vậy Mỹ, Nhật khó có thể kịp thời hoặc không dám tham chiến.

                   Đương nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, cuối cùng TQ đều giành chiền thắng, đây là điều không phải nghi ngờ. Nhưng khác biệt ở chỗ, nếu Mỹ, Nhật tham chiến, nguyên khí kinh tế của TQ sẽ bị tổn thương nặng nề; nếu Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không tham chiến, kinh tế của TQ sẽ không bị tổn thất. Tuy nhiên, cho dù Mỹ, Nhật có tham chiến hay không, về mặt quân sự, TQ sẽ có bước phát triển mang tính nhảy vọt. Vì sau khi thống nhất Đài Loan, hợp nhất kỹ thuật quân sự của Đài Loan, trong vòng từ 5 đến 10 năm, kỹ thuật quân sự của TQ sẽ có bước phát triển vượt bậc.

                   Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ không tham chiến còn có thể giữ được địa vị độc bá của mình, một khi tham chiến, địa vị độc bá tất bị lung lay. Sauk hi bị tổn thất nặng nề trong cuộc chiến này, địa vị bá chủ thế giới của Mỹ sẽ bị các nước nghi ngờ, đặc biệt là các nước nhỏ Đông Nam Á, đối diện với một TQ láng giềng hung mạnh, buộc các nước này không thể không tính toán lại xem đi theo hướng nào, đi theo ai. Mỹ không tham chiến còn có thể duy trì địa vị bá chủ thế giới khoảng 40 năm nữa, trong 40 năm này, TQ sẽ không có cớ thách thức bá quyền của Mỹ, TQ chỉ có thể tiếp tục chuyên tâm vào sự nghiệp thống nhất đất nước.
Điểm có lợi nhất của cuộc chiến thống nhất Đài Loan là TQ đã phá vỡ chuỗi đảo bao vây thứ nhất của Mỹ để hướng ra Thái Bình Dương, như vậy TQ từ đó có thể tiến quân ra đại dương, mở rộng lợi ích thiết thân của TQ.

Cuộc chiến tranh thứ hai: Thu hồi các đảo tại biển Đông (giai đoạn 2025 - 2030).

                     Sau khi TQ thống nhất Đài Loan, nghỉ ngơi chỉnh đốn nhiều nhất là 2 năm, trong khoảng thời gian này TQ tuyên bố với các nước có tranh chấp tại biển Đông về thời hạn cuối cùng TQ sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo là năm 2028, tất cả các nước xâm chiếm đảo của TQ tại biển Đông có thể đàm phán với TQ trong khoảng thời gian này, hoàn trả các đảo xâm chiếm cho TQ. TQ sẽ xuất phát từ quan điểm láng giềng hữu nghị và phong cách nước lớn, TQ còn có thể bảo đảm một phần lợi ích kinh tế của các nước xung quanh đã đầu tư vào các đảo ở biển Đông, nếu không TQ sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo, đồng thời tịch thu toàn bộ lợi ích kinh tế, cũng như các khoản đầu tư trên các đảo này.

Cuộc chiến tranh thứ ba: Thu hồi Nam Tây Tạng (giai đoạn 2035 - 2040).
                  Hai mươi năm sau, mặc dù thực lực quân sự của Ấn Độ không bằng TQ, nhưng khi đó cũng là một trong số không nhiều nước lớn trên thế giới, vì vậy “đá chọi với đá” chắc chắn sẽ chịu nhiều tổn thất, cho nên tác giả cho rằng tốt nhất là ngay từ bây giờ TQ phải tìm mọi cách khiến Ấn Độ bị chia cắt thành mấy nước nhỏ, để Ấn Độ không còn sức đối kháng với TQ, tuy nhiên sách lược chia cẳ Ấn Độ không chắc chắn thực hiện được, nhưng ở mức độ thấp nhất cũng phải làm cho bang Assam tiếp giáp với Nam Tây Tạng (Ấn Độ gọi là bang Arunachal Pradesh) và Sikkim bị Ấn Độ xâm chiếm được độc lập, làm suy yếu thực lực của Ấn Độ trong đối kháng với TQ, như vậy mới là thượng sách.
                  Trung sách là chuyển thành một lượng lớn vũ khí quân sự tiên tiến sang Pakixtan, trong khoảng thời gian năm 2035, ngầm giúp Pakixtan tấn công khu vực Nam Casơmia của Ấn Độ, giúp đỡ Pakixtan hoàng thành đại nghiệp thống nhất lãnh thổ. Tất nhiên, trong khí Ấn Độ và Pakixtan chưa thể kết thúc chiến tranh, TQ thần tốc tấn công Ấn Độ thu hồi khu vực Nam Tây Tạng đang bị chiến đóng. Ấn Độ sẽ không thể cùng lúc tác chiến với hai cuộc chiến tranh, kết cục đều gặp thất bại, như vậy TQ có thể dễ dàng lấy lại khu vực Nam Tây Tạng, Pakixtan cũng có thể hoàn thành việc kiểm soát hoàn toàn Casơmia. Đây là trung sách, là một biện pháp hay có thể thực hiện, TQ có thể tấn công trực diện Ấn Độ để thu hồi Nam Tây Tạng.

                   Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh thứ nhất và thứ hai, TQ đã có thời gian khôi phục và tiếp tục phát triển trong vòng 10 năm, khi đó TQ đã là cương quốc mang tầm thế giới cả về kinh tế lẫn quân sự, duy chỉ có Mỹ và châu Âu là có thể xếp trên TQ (thời điểm đó có thể châu Âu sẽ hoàn thành nhất thể hóa). Vì vậy, sau khi thống nhất Đài Loan và thu hồi các đảo tại biển Đông, kỹ thuật quân sự của TQ đã có bước phát triển nhảy vọt, các trang thiết bị vũ khí hải, lục, không quân và vũ trụ đều có bước tiến dài, nhiều kỹ thuật quân sự ở vào trình độ dẫn đầu thế giới, khi đó sức mạnh quân sự của TQ chỉ có thể xếp sau Mỹ. Với thực lực như vậy, trong cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng, Ấn Độ chắc chắn chịu một cuộc đại bại. Thứ nhất, sức mạnh tổng hợp của Ấn Độ yếu hơn nhiều so với TQ, Ấn Độ không có khả năng nghiên cứu, phát triển cũng như độc lập sản xuất các loại vũ khí mũi nhọn kỹ thuật cao. Năng lực động viên kinh tế cho thời chiến của Ấn Độ không bằng 1/10 của TQ, cho nên trong cuộc chiến với TQ, Ấn Độ không thể duy trì chiến tranh lâu dài, trong khi đó khả năng chiến tranh thần tốc của Ấn Độ lại kém xa so với TQ, vì vậy trong cuộc chiến tranh này, Ấn Độ thất bại là điều không phải nghi ngờ. Thứ hai, trong cuộc chiến tranh này, tuyệt đối không có quốc gia nào dám công khai giúp đỡ Ấn Độ. Khi đó, TQ đã là cường quốc thế giới, không có nước nào (kể cả Mỹ) dám công khai coi TQ là kẻ thù, nhiều khả năng nhất chỉ có 3 nước là Mỹ, Nga, Nhật Bản sẽ ngấm ngầm cung cấp vũ khí cho Ấn Độ, nhưng động thái này sẽ không gây ra những vấn đề lớn; ngược lại Pakixtan có thể nhân cơ hội này tấn công Ấn Độ. Thứ ba, Ấn Độ không dám và không thể sử dụng vũ khí hạt nhân. Mặc dù nói Ấn Độ đã có vũ khí hạt nhân, nhưng trong cuộc chiến này, Ấn Độ không dám sử dụng vũ khí hạt, vì vũ khí hạt nhân của Ấn Độ không đủ để hủy diệt TQ; đã không thể hủy diệt, một khi sử dụng, khả năng phản kích của TQ có thể hủy diệt vĩnh viễn Ấn Độ. Sau khi thu hồi Nam Tây Tạng, TQ sẽ đóng trọng binh tại đây, Ấn Độ sẽ không dám phản công, cuối cùng phải thừa nhận là lãnh thổ của TQ, như vậy vẫn có thể bao toàn thực lực nước lớn tại khu vực.

Cuộc chiến tranh thứ tư: Thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (giai đoạn 2040 - 2045).
                   Thời điểm đến giữa thế kỷ 21, TQ đã là cường quốc thế giới thật sự, khi đó Nhật Bản, Nga suy yếu, Mỹ, Ấn Độ không phát triển, TQ và châu Âu đồng thời nổi lên, là thời cơ tốt nhất để TQ thu hồi đảo Diếu Ngư và Lưu Cầu (Nhật Bản gọi là Okinaoa) bị Nhật Bản chiếm đóng.
                   Nói tới đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu, có lẽ nhiều người chỉ biết rằng đảo Điếu ngư là lãnh thổ vốn có của TQ, nhưng lại không biết Nhật Bản đã xâm chiếm Lưu Cầu. Hiện nay bất luận là trong diễn đàn nhân dân hay cấp trung ương, khi đề cập đến vấn đề Đông Hải giữa TQ và Nhật Bản, đề cập đến cái gọi là “đường trung tuyến” do Nhật Bản hoạch định, hay vấn đề Lưu Cầu đều bị Nhật Bản dẫn giải sai lầm về lịch sử và chính trị - tức cho rằng Lưu Cầu là lãnh thổ của Nhật Bản.

                Nhật Bản đã xâm chiếm đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu của TQ nhiều năm qua, đánh cắp phi pháp nhiều tài nguyên tại Đông Hải của TQ, vì vậy đây sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại từ tay Nhật Bản. Vì thời điểm đó, Mỹ muốn can dự cũng khó, châu Âu càng không quan tâm đến vấn đề này, trong khí đó Nga cũng chỉ có thể ngồi nhìn. Nhiều nhất là trong vòng nửa năm, cuộc chiến có thể kết thúc, TQ đại thắng, Nhật Bản đành phải thừa nhận kết cục thất bại – đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu trở về vô điều kiện với TQ. Đông Hải trở thành nội hải cùa TQ.

Cuộc chiến tranh thứ năm: Thống nhất Ngoại Mông (giai đoạn 2045 - 2050).
              Mặc dù hiện nay có người cổ vũ Ngoại Mông (Mông Cổ) trở về TQ, nhưng điều này có hiện thực không?
                   TQ chỉ có thể sau khi thống nhất Đài Loan, lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa dân quốc làm căn cứ. Như vậy sẽ có người hỏi, vì sao phải lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa dân quốc làm căn cứ? Làm như vậy khác nào nói CHND Trung Hoa bị Trung Hoa dân quốc thống nhất? Nói như vậy không có gì vô nghĩa cả, CHNH Trung Hoa là TQ, Trung Hoa dân quốc cũng là TQ, không cần quan tâm ai thống nhất ai, làm người TQ, chỉ cần TQ thống nhất, không bị làm nhục là tốt nhất. Cũng phải biết rằng hiện nay CHND Trung Hoa thừa nhận nề độc lập của Ngoại Mông, nếu lấy hiến pháp và bản đồ của CHND Trung Hoa làm căn cứ để thống nhất Ngoại Mông, thì rõ ràng đây là hành động đi xâm lược, cho nên chỉ có thể lấy hiến pháp và bản đồ của Trung Hoa dân quốc làm căn cứ để tiến hành thống nhất Ngoại Mông, như vậy xuất quân mới danh chính ngôn thuận. TQ cần đề xuất đại cương thống nhất với Ngoại Mông, tạo dựng bầu không khí dư luận xã hội Ngoại Mông trở về TQ, đồng thời tìm kiếm những tộc người tại Ngoại Mông có mong muốn sáp nhập vào TQ để ra sức giúp đỡ, cố gắng để họ có thể tiếp cận với tầng lớp có quyền quyết sách, nhằm chuẩn bị tốt cho sự nghiệp thống nhất Ngoại Mông. Bên cạnh đó, sau khi thu hồi Nam Tây Tạng (dự kiến vào năm 2040) TQ cũng phải tuyên bố với các nước trên thế giới rằng Ngoại Mông là lợi ích cốt lõi của TQ.
                     Đương nhiên, Ngoại Mông có thể ra điều kiện để trở về, như vậy là điều tốt nhất so với việc phải dung vũ lực để thống nhất. Nếu thế lực bên ngoài can dự hoặc Ngoại Mông cự tuyệt thống nhất, TQ cần phải làm tốt mọi sự chuẩn bị về trang bị vũ khí nhằng thống nhất Ngoại Mông. Tài liệu cho rằng TQ vẫn có thể áp dụng mô hình như đã thống nhất Đài Loan, đưa ra thời hạn cuối cùng để thống nhất là vào năm 2045, để Ngoại Mông có thời gian mấy năm suy nghĩ, khi đến thời điểm nếu không chủ động chấp nhận trở về, cuối cùng mới sử dụng vũ lực thống nhất.
                    Tới thời điểm đó, bốn cuộc chiến tranh đã kết thúc, TQ đã có đầy đủ thực lực về chính trị, quân sự và ngoại giao để thống nhất Ngoại Mông, Mỹ, Nga suy yếu sẽ không dám tham chiến, chỉ có thể tiến hành phản đối bằng ngoại giao, trong khi đó châu Âu sẽ giữ thái độ nước đôi, Ấn Độ không lên tiếng. Không đến ba năm, TQ có thể hoàn thành thống nhất mang tính tuyết đối đối với Ngoại Mông. Sau khi thống nhất Ngoại Mông, tuyến đầu sẽ bố trí trọng binh nhằm ngăn chặn Nga, đồng thời trong vòng 10 năm, ra sức tiến hành xây dựng mang tính nền tảng và thiết bị quân sự, để chuẩn bị cho sau này tiến hành thu hồi lãnh thổ do Nga xâm chiếm.

Cuộc chiến tranh thứ sáu: Thu hồi lãnh thổ bị Nga xâm chiếm (giai đoạn 2055 - 2060).
               Hiện nay Trung – Nga được coi là láng giềng hữu nghị, song chẳng qua là vì cớ cùng mục tiêu chống Mỹ, thực chất vẫn tồn tại sóng ngầm và cảnh giác lẫn nhau.
            Sau khi giành được thắng lợi trong năm cuộc chiến tranh trước đó (khoảng năm 2050), TQ phải lên tiếng đòi Nga, phải trả lại lãnh thổ đã xâm chiếm của TQ từ đời nhà Thanh, tạo dư luận trên toàn thế giới có lợi cho TQ, nhưng tốt nhất là khiến Nga một lần nữa bị giải thể, tách thành nhiều nước nhỏ.
Trước đây, Nga đã xâm chiếm tổng cộng khoảng 1,6 triệu km2 lãnh thổ của TQ, tương đương 1/6 tổng diện tích lãnh thổ lục địa của TQ hiện nay, Nga vẫn là kể thù truyền kiếp của dân tộc Trung Hoa, cho nên sau khi kết thúc năm cuộc chiến tranh trước, sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại lãnh thổ bị Nga xâm chiếm từ đời Thanh.
                 Mặc dù thời điểm này các phương diện về hải, lục, không quân và vũ trụ của TQ đã vượt Nga, nhưng rõ rang đây là một cuộc chiến tranh nhằm vào một cường quốc hạt nhân, cho nên lúc đó TQ phải huy động mọi khả năng hạt nhân, như các loại vũ khí có khả năng đánh chặn hạt nhân tầm xa, tầm trung và tầm ngắn. Khả năng Nga đánh trả khi tiếp cận TQ là không thể, vì vào thời điểm này Nga đã không còn là đối thủ của TQ, chỉ có thể chấp nhận trả lại phần lãnh thổ đã xâm chiếm của TQ, nếu không cái giá phải trả là quá đắt.
                 Mộng bá vương đặc sệt máu đế quốc Đại Hán là: Sau khi kết thúc sáu cuộc chiến tranh, TQ trở thành 'cường quốc kinh tế và quân sự duy nhất trên thế giới' (!?), TQ cùng với châu Âu, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, châu Phi và Braxin thiết lập trật tự thế giới mới do TQ chủ đạo.
(NguồnBlog Nguyễn Hữu Quý)

THẤU XÉNG CHIU SÂU KHOAN TAI !


Hàng binh Trung Quốc ở biên giới Cao Bằng
THẤU XÉNG CHIU SÂU KHOAN TAI !
(T’ou xi’ang jiu shou kuan dai!)

* NGUYỄN NGUYÊN BÌNH
(Viết nhân kỷ niệm 34 năm chiến tranh
Trung Quốc xâm lược Việt Nam)            
       Lại một tháng 2 nữa đã đến, và lại đến ngày 17-2, một ngày ghi đậm dấu ấn một hành tung đen tối của kẻ “lớn mà không đàng hoàng” ở biên giới phía Bắc nước ta. Ai cũng biết, bọn cầm quyền ở Tàu xưa nay chẳng bao giờ muốn một nước láng giềng nào lớn mạnh và tồn tại độc lập bên cạnh họ.
Vì vậy khi Việt Nam thu non sông về một mối, chuẩn bị công cuộc xây dựng hòa bình, máu đế quốc Đại Hán nổi lên xúi giục, cung cấp vũ khí, đồ dùng quân sự cho bọn tay sai Polpot–Iêngsari diệt chủng hết dân tộc của họ, hòng đưa người Trung Quốc chiếm cứ Campuchia, lại kích động  bè lũ Polpot đánh phá khi ta suốt dọc tuyến biên giới Tây Nam. Khi bọn tay sai không hoàn thành được như ý muốn của họ thì tự họ nhảy ra phát động chiến tranh đánh Việt Namta. Trước cuộc tấn công 17-2, bọn Tàu xấu bụng cũng đã ít nhiều để lộ âm mưu qua một số kênh khác nhau. Chúng ta chỉ bị bất ngờ về thời điểm nổ súng của chúng, chứ chúng ta cũng đã có sự chuẩn bị nhiều mặt cho cuộc chiến đấu với ‘anh bạn vàng tham lam, trở mặt’.
Chính vì chuẩn bị đối phó nên từ hàng năm trước, các cơ quan hữu quan ở Bộ Quốc phòng đã tìm một số cán bộ quân đội biết tiếng Trung Quốc, tập trung nghiên cứu về đối tượng tác chiến mới này.Với truyền thống coi trọng công tác vận động binh sĩ địch ra hàng để tránh đổ máu thương vong vô ích cho cả hai bên, cơ quan địch vận cũng khẩn trương vào cuộc. Hồi đó tôi cũng được điều động về giúp việc nghiên cứu trạng thái chính trị tinh thần của quân Trung Quốc ở cơ quan địch vận. Đồng thời với việc nghiên cứu, cơ quan cũng đã chuẩn bị được một loạt câu kêu gọi ngắn gọn gửi cho các đơn vị. Một trong số đó có câu “Thấu xéng chiu sâu khoan tai”. Phiên âm như vậy chưa thật chuẩn nhưng người Trung quốc nghe cũng có thể hiểu ra, đó là lời nhắn nhủ: “Đầu hàng thì sẽ được đối xử tử tế.” Sau khi nhận được những khẩu hiệu nhỏ đó, nhiều đơn vị đã nhanh chóng cho cán bộ chiến sĩ học thuộc để vận dụng trong chiến đấu. Thế rồi, cuộc chiến mới diễn ra chừng hai chục ngày, đến đầu tháng 3-1979, từ Cao Bằng đã có tin báo về: Cả một đại đội quân Trung Quốc đã ra đầu hàng! Thật là một sự kiện hiếm hoi. Chắc đây là kết quả của lời kêu gọi “Thấu xéng chiu sâu khoan tai” thì phải?

    
    Tin mới này đã khiến chúng tôi phải gấp rút lên đường. Chúng tôi gặp đại đội ra hàng đó ở một trại tạm giam khi họ đã được đưa về tuyến sau. Lúc đó, quả thật tôi mới là một phiên dịch bất đắc dĩ (năm 1965, tôi vừa học xong một năm chuyên tu tiếng TQ, bị cuộc ‘cách mạng văn hóa vô sản’ của ông Mao phá đám, phải về nước học cái khác, bỏ luôn tiếng Trung Quốc cả 13 năm, nay chưa kịp ôn lại đã phải đi dịch, đành ôm theo cuốn từ điển, vừa dịch vừa tra, thật rõ khổ!)

Thật tiếc, nhiều nôị dung khai thác được lúc đó tôi đã để rơi rụng mất kha khá, nay chỉ còn một ít trong trí nhớ mà thôi. Cái đại đội ra hàng đó là thuộc trung đoàn bộ binh 448, sư đoàn 150, quân đoàn 50, quân khu Thành Đô. Đơn vị còn có đầy đủ cả bộ sậu: Đại đội trưởng, chính trị viên, cả ban chi ủy, các trung đội trưởng…và đầy đủ vũ khí trang bị. Cùng đi với đại đội còn có hai cán bộ do trung đoàn phái xuống để đốc chiến, một ‘vị’ là tham mưu phó trung đoàn, ‘vị’ kia là phó chính ủy trung đoàn. Cả đại đội còn đầy đủ cả trăm con người. Đơn vị này thuộc thê đội hai của chiến dịch, mới ngơ ngáo tiến vào vùng núi  Cao Bằng trập trùng bí hiểm, bị quân dân địa phương dồn đuổi mấy ngày, hoang mang quá, không biết làm thế nào, đã bàn nhau (bàn trong chi ủy Đảng CSTQ hẳn hoi) kéo cờ trắng ra hàng.

       Tiếp xúc càng nhiều với đám lính ‘quân giải phóng TQ’ này tôi càng ngạc nhiên.  Trước khi gặp họ, tôi hình dung về họ khác lắm kia. Thời gian tôi học ở Trung Quốc đúng vào lúc TQ vừa hồi phục sau thảm bại của cuộc ‘đại nhảy vọt’ điên rồ với hàng triệu người chết đói và một đất nước kiệt quệ bên bờ vực kinh tế. Phục hồi chưa được bao lâu, đất nước đã lại chuẩn bị bước vào một cơn co giật động trời khác, đó là cuộc ‘đại CM văn hóa vô sản’ nổi tiếng khủng khiếp trên thế giới. Thời gian đó, khắp đất nước TQ đâu đâu cũng đỏ rực những lời đao to búa lớn của lãnh tụ vĩ đại. Ngày ngày người ta kêu gọi thanh niên phải “Sống ở Trung Hoa, mắt đưa khắp thế giới”, phải “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng”, phải “tiến hành CM vô sản đến cùng để giải phóng toàn thế giới”. Đối với cán bộ chiến sĩ quân giải phóng TQ thì đã có nguyên soái Lâm Bưu luôn đốc thúc họ phải ngày ngày tâm niệm: “Đọc sách của Mao Chủ tịch, nghe lời Mao Chủ tịch, làm theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, làm chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch”. Từng ấy thứ được nghe, được thấy ở TQ lúc đó khiến tôi cứ tưởng rằng những người lính quân giải phóng TQ chí ít cũng phải thế nào chứ. Đằng này…
     
      Chính trị viên đại đội Phùng Tăng Mẫn, khi chưa lâm trận, ý hẳn cũng muốn phấn đấu theo lời nguyên soái nên đã đặt bí danh là Hồng Trị (Chính trị viên đỏ). Khi trở thành tù binh thì nhũn như chi chi, chẳng thấy vai trò chính trị viên đâu nữa, chỉ luôn đáp ứng yêu cầu của cán bộ hỏi cung, hỏi gì khai nấy, lại luôn cố gắng ‘làm thân’ với cán bộ chiến sĩ trong trại. Có lần phải ra khai cung sớm, bữa sáng chưa kịp ăn, bị kiến bò vào. Khi trở về, thấy cơm bị kiến bò, anh ta đã khóc, than vãn mãi về việc bị kiến ăn tranh mất suất cơm. Khi được hỏi có yêu cầu gì đối với trại, anh ta chỉ đề nghị được ăn cơm nóng một chút, thức ăn nhiều dầu mỡ muối hơn một chút, vì người Tứ Xuyên hình như ăn mặn hơn người của trại!


      Đại đội trưởng Lý Hòa Bình, thân hình to cao, trông bên ngoài có vẻ chất phác, luôn cố gắng sửa bớt cái giọng Tứ Xuyên nặng chịch để cán bộ nghe được dễ hơn. Anh ta đã có kinh nghiệm khi gặp cán bộ khai thác mà cứ nói nặng tiếng địa phương là phiền lắm. Quả cái tiếng Tứ Xuyên rất khó nghe, chúng tôi nghe nhiều thành quen mới hiểu nổi, chứ vị khách nào mới đến phỏng vấn thì nghe gà hóa cuốc là việc thường tình. Có lần chúng tôi lên trại, anh ta mới gặp đã khóc nức nở kể chuyện bị oan ức vì một cán bộ mới đến nghe không rõ, cứ khăng khăng bảo anh ta ‘ngoan cố, không thành khẩn khai báo’. Anh ta sợ bị cho là không thành khẩn thì sau này hết chiến tranh có thể sẽ không được trao trả về nước với gia đình, hoặc sẽ bị đối xử kinh khủng thế nào đó chưa biết được.


      Tham mưu phó trung đoàn tên là Phó Bồi Đức, khá thạo tin về quân sự, nói giọng dễ nghe, nhiều người xác nhận thuộc loại ‘thật thà khai báo’, anh này thường nói mình vốn đang mang bệnh rối loạn nhịp tim, đang xin ra quân thì bị điều động đi đánh Việt Nam, chứ thực lòng không muốn đi tí nào. Anh ta còn nói, nghe trên tuyên truyền Việt Nam khiêu khích TQ, nhiều lần quấy rối, đánh sang biên giới TQ thì cũng biết vậy thôi, quân khu Thành Đô có ở biên giới đâu mà nói là thật hay không. Khi đơn vị đánh sang đất Cao Bằng của VN thì trên lại bảo đấy là ‘phản kích, dạy VN bài học xong rồi sẽ rút quân’. Trên bảo đơn vị trung đoàn 448 này vào đất VN để yểm hộ bộ đội rút quân…Vì vậy, Phó Bồi Đức cứ tiếc hùi hụi, giá không mắc kẹt với bộ đội Cao Bằng thì chẳng bao lâu nữa sẽ được lệnh rút về. Chỉ mong nhanh chóng ra quân để nghỉ ngơi và chữa cái bệnh tim thôi (cán bộ trại cũng đã cho thày thuốc khám bệnh, xác minh đúng anh ta có bệnh tim và đã cấp cho ít thuốc).
     Phó chính ủy trung đoàn Long Đức Xương, ngoài những tin tức quân báo đã cung cấp, khi nói chuyện có tính tâm sự với cán bộ trại, anh ta thường than thở: Mình nay đã quá tuổi phát triển, sức khỏe lại kém, đã thuộc vào loại cán bộ quá độ, không còn tiền đồ gì (trông anh ta quả cũng hơi hom hem, tuổi áng chừng trên 40 thật); lần này đơn vị bị điều đi đánh trận là bản thân rất bất ngờ, chưa kịp chuẩn bị gì, ra đi mà trong lòng hoang mang, bối rối… Anh ta lo lắng nhiều cho sự sống chết của bản thân vì ở nhà còn gánh gia đình rất nặng. Còn việc có tin hay không những tuyên truyền của chính phủ và quân đội về lý do phải ‘dạy cho VN bài học’, thì anh ta nói: Đời mình đã trải qua quá nhiều phong trào, quá nhiều vận động rồi, bây giờ chẳng thiết tin hay không tin cái gì cả.

     Khi hỏi các binh lính  (ngoài số các cán binh của đại đội nọ, trong trại còn có một số lính TQ bị bắt ở các nơi khác): Tại sao đi bộ đội? Phần lớn đều nói: Để hy vọng kiếm được việc làm sau khi hết thời hạn phục vụ. Nhưng nhiều người cũng có vẻ bi quan về vận may của mình, họ nói: Mù chữ, vô nghề nghiệp chẳng dễ mà kiếm được việc, đến đâu hay đến đấy… Chả thấy ai nói muốn trở thành quân nhân để tiến hành cách mạng vô sản đến cùng, để giải phóng toàn thế giới cả.

      Thời gian mấy tháng ở trại, binh lính TQ thường tỏ ra ‘ngoan’, không dám quấy phá chống đối gì đáng kể. Họ quan tâm nhiều đến bữa ăn. Khi có phái đoàn Chữ thập đỏ Quốc tế đến thăm trại, một số người tố khổ: Cơm ăn không đủ no, thức ăn thì ít thịt cá dầu mỡ, rau thì toàn loại rau ‘rỗng ruột’(tức rau muống) với dây lá bí rợ (rau bí)…Có người cũng vặn hỏi cán bộ trại: Việt Nam nói đầu hàng thì được đối xử tử tế, sao lại cho chúng tôi ăn như vậy? Lúc đó thật là khó giải thích cho họ hiểu, họ đâu biết hoàn cảnh khắc nghiệt về kinh tế của Việt Nam vào thời điểm ấy. Mỗi ngày họ được giành 700g gạo không độn mì mốc, ngô răng ngựa, bo bo hạt; lại có chút thịt cá dầu mỡ là phía ta đã cố gắng lắm rồi! Thời gian sau, khi trại  được củng cố ổn định hơn, tù binh được cử người cùng đi nhận thực phẩm ở kho chung với cán bộ chiến sĩ của trại, được tận mắt chứng kiến phần thực phẩm giành cho bộ đội VN còn ít hơn phần của tù, họ mới hiểu ra và thừa nhận là trong hoàn cảnh đó, thực sự họ đã được đối xử tử tế.
       Ở thời điểm năm 1979 đó, mặc dù chính tai được nghe, chính mắt được thấy, nhưng tôi vẫn nghi nghi hoặc hoặc. Tôi không thể hình dung nổi sao lại có cái khoảng cách quá lớn giữa hình tượng người lính được tuyên truyền rầm rĩ ở TQ về  ‘người chiến sĩ tốt của Mao Chủ tịch’ với thực trạng tù binh mà tôi đã gặp. Sau này, khi có dịp đọc một số sách của các nhà văn TQ , tôi mới hết nghi hoặc. Hình ảnh những người lính đánh VN năm 79 trong cuốn tiểu thuyết ‘Ma chiến hữu’của nhà văn Mạc Ngôn còn thảm hại, khốn khổ khốn nạn hơn cả những người lính ở trại tù binh kia. Thế thì có lẽ các vị lãnh đạo đất nước TQ chuyên xây dựng ra xã hội và con người kiểu ‘thùng rỗng kêu to’chăng?  Cái “biển người” tràn ngập 6 tỉnh biên giới phía Bắc VN với những người lính bạc nhược, tham sóng sợ chết đến như vậy thì lấy đâu ra sức mạnh?

     Từ 1979 đến nay đã là 34 năm, quân đội Trung Quốc nghe nói giờ đã chính qui hiện đại hơn nhiều lắm, vũ khí trang bị chả thua kém cường quốc nào trên thế giới với đủ cả khí tài điện tử, máy bay tàu bò, hàng không mẫu hạm v.v..Và nay kinh tế TQ cũng mới thấc lên, tham vọng của những người lãnh đạo nhà nước lại bùng lên như những thời kỳ phục hồi trước đây. Vũ khí, trang bị hiện đại và lắm tiền đâu có thay thế được con người. Thế mà họ lại lên dây cót xã hội, lại muốn ăn tươi nuốt sống cả thế giới…Nhưng thử ngẫm mà xem: Vũ khí trang bị thì đổi mới có thể nhanh chóng và không khó khăn gì nhiều đối với nền kinh tế đang giàu xổi của TQ; còn con người thì sao? Liệu ba bốn chục năm đã đủ để xã hội con người trút khỏi cái bản tính ‘thùng rỗng kêu to’chưa? Hơn nữa, những ‘ông vua con’ trong các gia đình (kết quả của chính sách dân số mỗi gia đình chỉ sinh một con) và hậu phương của họ liệu có sẵn sàng coi cái chết nhẹ như lông hồng để phục vụ cho tham vọng nuốt sống quả địa cầu không? Hay là khi lâm trận, gặp khó khăn nguy hiểm thì lại sẵn sàng nghe theo lời kêu gọi “Thấu xéng chiu sâu khoan tai”??
     N.N.B 

THƯ NGỎ - đến Nhà Đỏ, Nhà Vàng, Nhà Trắng...

Nguyễn Trung
10(60A) ngõ 45 A phố Võng Thị
Phường Bưởi, Quận Tây Hồ
Hà Nội                                                                         
   Hà Nội, ngày 19-02-2013                        
Thư ngỏ

Kính gửi:
- Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,
- Toàn thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt nam,
- Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  
Kính thưa,
               Tôi là Nguyễn Trung, 78 tuổi, trú tại 10(60A) ngõ 45A, phố Võng Thị, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Với tư cách là một trong những người tham gia Kiến nghị của 72 nhân sỹ trí thức về việc sửa đổi Hiến pháp[1] (gọi tắt: Kiến nghị 72),  xin được phép trình bầy một số suy nghĩ của tôi liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp đang được lấy ý kiến nhân dân cả nước

• Một là, tôi nghĩ rằng sau 37 năm độc lập thống nhất, lần đầu tiên đất nước lại đứng trước nhiều nguy cơ lớn. Đó là:

-    Cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa hiện nay đất nước đang lâm vào khoảng một thập kỷ nay trầm trọng đến mức đe dọa sự mất còn chế độ chính trị và Đảng Cộng Sản Việt Nam(ĐCSVN). Điều này cũng có nghĩa cuộc khủng hoảng này đe dọa nghiêm trọng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải báo cáo tình hình này trước cả nước tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Bộ Chính trị nhận trách nhiệm về mình và đã xin lỗi trước cả nước và toàn Đảng.  

-    Chủ nghĩa thực dân mới siêu cường Đại Hán đang trở thành vấn đề của cả thế giới - đặc biệt là đối với khu vực Biển Đông, uy hiếp trực tiếp các nước tại đây; đồng thời căng thẳng đang leo thang với nguy cơ có thể xảy ra chiến tranh trên Biển Đông. Sự lũng đoạn của Trung Quốc đối với các nước láng giềng – đặc biệt ở Đông Nam Á – đã tới mức nguy hiểm, trong đó có Việt Nam với tính cách là chướng ngại vật tự nhiên đầu tiên mà Trung Quốc nhất thiết phải khuất phục trên đường vươn ra đại dương. Cần nhìn thẳng vào sự thật là sự lũng đoạn mọi mặt của Trung Quốc hiện nay trên thực tế đã đặt Việt Namlọt thỏm vào vòng kiềm tỏa nhiều mặt của Trung Quốc. Không ít ý kiến trong nhân dân cho rằng về nhiều mặt Việt Namtrên thực tế đã trở thành một chư hầu kiểu mới của chủ nghĩa thực dân mới siêu cường Đại Hán.

-   Hệ thống chính trị của Việt Nam có quá nhiều bất cập để có thể cùng một lúc giải quyết 3 vấn đề lớn nóng bỏng đang đặt ra cho đất nước: (1) cần ổn định kinh tế để tìm đường đi vào một thời kỳ phát triển mới, nhưng hiện nay vẫn chưa có kế sách khả thi nào, nguy cơ kinh tế rơi xuống đáy sâu hơn nữa vẫn là thường trực; (2) chế độ chính trị tha hóa và quá yếu kém; tình hình đã đến mức vô hiệu hóa nhiều nỗ lực cứu chữa đã bỏ ra, tiếp tục kìm hãm sự phát triển của đất nước; trong khi đó hệ thống chính trị vẫn tiếp tục lún sâu hơn nữa vào độc tài toàn trị, để xảy tay có thể dẫn đến đổ vỡ; (3)đất nước vừa cần một sức mạnh bên trong làm nền tảng cho chính sách đối ngoại, vừa cần một đường lối đối ngoại độc lập tự chủ để đứng vững được trong tình hình căng thẳng và rất nhạy cảm hiện nay – đặc biệt là trên Biển Đông; song hiện nay cả hai đòi hỏi này cho mặt trận đối ngoại đều chưa có.

Có thể nói, những yếu kém của đất nước trong bối cảnh mới của tình hình quốc tế và khu vực – nhất là hiện tượng leo thang gây căng thẳng của Trung Quốc, đặc biệt là trên Biển Đông  – đang uy hiếp nghiêm trọng độc lập chủ quyền và kìm hãm sự phát triển của đất nước ta.

• Hai là, toàn bộ tình hình nêu trên đã được hàng nghìn ý kiến cảnh báo trong những kỳ chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc lần thứ X và lần thứ XI của ĐCSVN, rất tiếc rằng không được lãnh đạo lắng nghe và tiếp thu.

Trong những ý kiến cảnh báo ấy, ý kiến quan trọng nhất là nhận định cho rằng nguyên nhân cơ bản của tình hình đất nước hiện nay là sự tha hóa và bất cập của toàn bộ hệ thống chính trị, bắt đầu từ Đảng. Nhận định này kết luận: Tình hình đòi hỏi phải thực hiện một cuộc cải cách chính trị triệt để và toàn diện để mở lối ra cho đất nước. Song trong thực tế, đòi hỏi vô cùng quan trọng này chẳng những bị gạt đi, mà toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước trong gần một thập kỷ vừa qua ngày càng tiếp tục lún sâu vào bảo thủ, giáo điều, quan liêu; tệ nạn tiêu cực và tham nhũng ngày càng nặng; các quyền tự do dân chủ của nhân dân ngày càng bị xâm phạm. Chính thực trạng này là nguyên nhân gốc làm cho những năm vừa qua là thời kỳ phát triển xấu nhất, nguy hiểm nhất trong suốt 37 năm độc lập đầu tiên của đất nước.
Nói riêng về ĐCSVN, những năm vừa qua cũng là thời kỳ quyền lực Đảng phạm nhiều sai lầm và có nhiều hiện tượng hư hỏng, suy đồi chính trị và đạo đức nhất kể từ khi thành lập.  

• Ba là, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã phần nào nhận ra thực trạng nguy hiểm nêu trên của đất nước và của Đảng, nhưng lại bất cập không dám nhìn thẳng vào toàn bộ sự thật, do đó chưa nhìn ra được nguyên nhân gốc là lỗi của hệ thống chính trị và của những quan điểm sai lầm của Đảng trong đường lối chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước.

Với cách nhìn sự thật phiến diện như vậy, Hội nghị Trung ương 4 lấy tự phê bình và phê bình kiểm điểm cá nhân là phương thức giải quyết mọi sai lầm và yếu kém hay là bước đột phá đầu tiên; trong khi đó tiếp tục giữ nguyên và xiết chặt hơn nữa hệ thống chính trị theo hướng tăng cường “đảng hóa”, với mục đích tăng cường khả năng đối phó của Đảng với sự bất bình chính đáng đang ngày càng tăng trong nhân dân về mọi vấn đề của đất nước. Điển hình nhất của tình trạng “xiết” này là những hiện tượng: tăng cường “19 điều cấm trong Đảng”, sự kìm kẹp chưa từng thấy đối với trên 700 báo chí các loại của hệ thống chính trị (được gọi là báo chí “lề phải”), xuất hiện cái gọi là “đội ngũ dư luận viên” chưa hề có ở một quốc gia dân chủ nào, thẳng tay trấn áp đối với những người bất đồng chính kiến và đối với những cuộc biểu tình của nhân dân bảo vệ biển đảo của tổ quốc… v.v…    

Cũng với cách nhìn sự thật theo kiểu tránh né nguyên nhân gốc như vậy. Hội nghị Trung ương 5 và 6 sau đó lấy chống tham nhũng là mặt trận chính. Quyết định này sai lầm ở chỗ (a) chủ yếu nhằm vào xử lý vụ việc, chứ không phải nhằm vào sửa lỗi hệ thống là chính, (b)đặt vấn đề chống tham nhũng lên trên mọi vấn đề cấp bách khác quan trọng hơn nhiều, nghĩa là rất cảm tính và thiên lệch – ví dụ như vấn đề ổn định kinh tế vỹ mô, trả lại các quyền tự do dân chủ của dân để thực hiện được chủ quyền của nhân dân cho phát huy sức mạnh nội lực, vấn đề tạo ra sự công khai minh bạch trong đời sống mọi mặt của đất nước, đòi hỏi trả lại vai trò phải có cho nhà nước pháp quyền để cả nước – bao gồm cả Đảng  ̶  phải tuân thủ pháp luật… Với hai sai lầm lớn như vậy trong việc đặt ra vấn đề chống tham nhũng, lại thực hiện trong tình trạng Đảng và toàn bộ hệ thống chính trị có quá nhiều tiêu cực và yếu kém, nên đến nay kết quả thực hiện các nghị quyết của các Hội nghị Trung ương 4, 5, 6 liên quan đến chủ đề này có nhiều biến tướng rất đáng lo ngại, đến nay có thể nói là thất bại. Chính đồng chí Tổng bí thư không dưới một lần gián tiếp nhưng đã phải công khai thừa nhận như vậy.

Hơn nữa, trong khi tập trung mũi nhọn vào chống tham nhũng một cách phiến diện như vậy, đã xảy ra một số sự việc, một số phát ngôn rất thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm (đôi khi có cả thứ ngôn ngữ mang đặc tính “anh chị”) của một số người có trọng trách… Những hiện tượng này hình như cho thấy câu chuyện đang diễn ra không phải chỉ có việc chống tham nhũng, mà còn là biểu hiện bên trong của những động cơ, những hiện tượng “đánh nhau”, “đối phó với nhau”… không thèm đếm xỉa đến tác động như thế nào đối với  kỷ cương, sự uy nghiêm và mối an/nguy của quốc gia. Những hiện tượng này hoàn toàn không được phép xảy ra với những chính khách chân chính!

Qua các Hội nghi Trung ương 4, 5 và 6, quyền lực của Đảng đang tự mình tiếp tục làm mất thêm uy tín của Đảng và gây thêm nhiều khó khăn nguy hiểm cho đất nước. Đơn giản bởi lẽ “nhóm” nào thắng thì đất nước cũng thua; vì hệ thống chính trị có quá nhiều sai lầm và quyền lực của nó vẫn được bảo toàn nguyên vẹn, thậm chí đang được “siết” thêm. Trong khi đó trí tuệ và nguồn lực mọi mặt của đất nước không được tập trung vào xử lý những vất đề cấp bách nhất của đất nước; xảy ra quá nhiều hiện tượng “vạch áo cho người xem lưng” làm ảnh hưởng đến an ninh và thể diện quốc gia. Toàn bộ tình hình nhạy cảm này chỉ tăng thêm cơ hội cho sự lũng đoạn của Trung Quốc…

Tình hình mọi mặt hiện nay của đất nước đã đi tới thời điểm không thể trì hoãn cuộc cải cách chính trị toàn diện. Bối cảnh quốc tế vừa đòi hỏi, thách thức, cũng vừa tạo ra những thuận lợi chưa từng có cho một cuộc cải cách chính trị để xây dựng nên một thể chế chính trị dân chủ cho Việt Nam. Đất nước ta hiện nay lại đang đứng trước yêu cầu bức thiết phải sửa đổi Hiến pháp và thực tế đang cho thấy Hiến pháp 1992 dù sửa thế nào cũng không thể đáp ứng những đòi hỏi phát triển mới của đất nước; vì những lẽ này, xây dựng một Hiến pháp mới phù hợp là bước khởi đầu đúng đắn cho tiến hành cải cách chính trị.

• Bốn là, tôi xin trình bầy một số điểm chính về cải cách chính trị, với tất cả mong muốn thiết tha ĐCSVN không được trốn tránh – (1) vì lẽ: Đảng nợ nhân dân nhiệm vụ lịch sử sau khi đất nước đã được độc lập thống nhất, đó là xây dựng một thể chế chính trị dân chủ để thực hiện những quyền và hạnh phúc của nhân dân như đã ghi trong Tuyên Ngôn Độc Lập 02-09-1945; và (2) còn vì lẽ: ĐCSVN cần tranh thủcơ hội cuối cùng này để tự giải phóng chính mình khỏi sự nô lệ của quyền lực, giành lại vai trò lãnh đạo dựa vào tính tiền phong chiến đấu của mình như ĐCSVN đã từng có một thời trong cộng đồng dân tộc suốt giai đoạn kháng chiến cứu nước, để trên cơ sở này phấn đấu trở thành đảng cầm quyền trong hệ thống nhà nước pháp quyền dân chủ.

Dưới đây là một số ý kiến cụ thể:

1.   Kết thúc Hội nghị Trung ương 6, Bộ Chính trị đã nhận lỗi trước nhân dân và trước toàn Đảng về trách nhiệm đã để cho đất nước gặp nhiều khó khăn và lâm vào hoàn cảnh bị uy hiếp như hôm nay, đã tự giác tuyên bố sẵn sàng nhận kỷ luật của Đảng. Cá nhân tôi đánh giá cao việc nhận lỗi này. Tuy nhiên, tôi xin đề nghị Bộ Chính trị tự đặt ra cho mình mức kỷ luật là: Toàn thể Bộ Chính trị khóa XI hết nhiệm kỳ này sẽ thôi không tham gia vào bất kỳ cấp ủy nào của Đảng dù ở địa phương hay trung ương.

Toàn thể Bộ Chính trị khóa XI cam kết trước cả nước và toàn Đảng sẽ dẹp hết sang một bên mọi khúc mắc riêng tư với nhau, một lòng cùng nhau trong suốt thời gian còn lại của nhiệm kỳ khóa Đại hội XI này đem tất cả tinh thần và nghị lực với ý thức trách nhiệm cao nhất phát huy trí tuệ cả nước và toàn Đảng để

(a) tháo gỡ những khó khăn cấp bách nhất,
(b) thực hiện thắng lợi giai đọan đầu của cuộc cải cách chính trị;
(c) xây dựng được Hiến pháp mới và thiết lập được thể chế của nhà nước pháp quyền dân chủ.

2.   Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa XI cũng phải cùng chịu trách nhiệm với Bộ Chính trị khóa XI về tình hình đất nước hiện nay, cần nhận lỗi trước toàn dân và toàn Đảng. Với tinh thần này, và đồng thời đáp ứng yêu cầu đem lại cho Đảng sức sống mới, toàn thể các đảng viên đã tham gia 2 khóa là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng sẽ thôi không tham gia vào danh sách bầu cử hay tự ứng cử vào BCHTƯ khóa XII nữa; và từ đây trở đi hình thành nguyên tắc không đảng viên nào được tham gia BCHTƯ quá 2 nhiệm kỳ, xóa bỏ hẳn cái “lệ” sống lâu lên lão làng. Từ đây tạo cơ hội thay đổi hoàn toàn việc tổ chức và xây dựng Đảng cho đúng với đòi hỏi phấn đấu trở thành đảng cầm quyền trong một thể chế chính trị dân chủ của nhà nước pháp quyền.

3.   Bộ Chính trị khóa XI huy động trí tuệ cả nước và tận dụng kinh nghiệm các nước đi trước cũng như khai thác mọi thành quả của văn minh nhân loại, phát huy bằng được chủ quyền và quyền năng của nhân dân, dấy lên tinh thần đoàn kết – hòa giải dân tộc, cùng nhau xây dựng thành công Hiến pháp mới cho một nước Việt Nam là tổ quốc muôn vàn yêu quý và là quê hương độc lập – tự do – hạnh phúc của mọi người dân Việt Nam. Nước ta sẽ cùng dấn thân với cả loài người tiến bộ cho hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, tất cả cho con người và vì quyền con người.

Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ căn cứ vào Hiến pháp mới do dân định này, để xây dựng và tổ chức lại đảng mình, để có được khả năng, ảnh hưởng và vai trò lãnh đạo trong xã hội dân sự, để từ đó phấn đấu được nhân dân lựa chọn (qua bầu cử trung thực) làm đảng cầm quyền theo những đòi hỏi và quy định của nhà nước pháp quyền (đặc biệt là những quy định về tự do bầu cử, tự do ứng cử và về sự tuyển chọn công chức của nhà nước pháp quyền). 
Hiến pháp mẫu 2013 kèm theo Kiến nghị 72 rất đáng được đưa ra thảo luận rộng rãi trong nhân dân; cần khuyến khích có thêm một vài hiến pháp mẫu như thế và trao đổi công khai mọi ý kiến đóng góp khác nhau cho vấn đề Hiến pháp để nhân dân dễ so sánh, đối chứng.., qua đó tối ưu hóa sự lựa chọn của nhân dân.

 Xin lưu ý: Chủ quyền tối cao của quốc gia thuộc về nhân dân, kể cả ĐCSVN cũng phải phục tùng và tuân thủ; vai trò lãnh đạo của ĐCSVN phải được thể hiện ở chỗ tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện đầy đủ chủ quyền này. Đảng phải coi nội dung lãnh đạo như thế là nhiệm vụ tối cao và thiêng liêng nhất của mình trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

4.   Đề nghị Quốc Hội, Bộ Chính trị và Chính phủ giao nhiệm vụ cho trên 700 báo chí của toàn bộ hệ thống chính trị tìm hiểu, nắm vững những kiến thức tiên tiến nhất của văn minh thế giới về hiến pháp, nhằm tổ chức học tập và quảng bá rộng rãi trong cả nước và trong toàn Đảng những kiến thức mới về xây dựng một chế độ chính trị dân chủ dựa trên kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự. Toàn bộ nguồn lực trí tuệ của cả nước cần được huy động cho việc nâng cao dân trí, nâng cao khả năng của nhân dân thực hiện chủ quyền của mình đối với đất nước và đối với chế độ chính trị, cổ vũ nhân dân tham gia xây dựng Hiến pháp mới, coi đây là nhiệm vụ đầu tiên đặt nền móng cho toàn bộ quá trình cải cách chính trị của đất nước.
Đồng thời Quốc hội, Bộ Chính trị và Chính phủ thả hết những người bất đồng chính kiến đang bị tù tội, chỉ thị cho các cấp và các địa phương phải tôn trọng mọi quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và sự công khai minh bạch phải được bảo đảm trong mọi lĩnh vực của đời sống đất nước.
Cải cách chính trị cần được xem là một quá trình thường trực, lâu dài, để luôn luôn đổi mới, và cần được tiến hành song song – vừa là cứu cánh, vừa là tiền đề - với sự nghiệp canh tân đất nước.

5.   Đề nghị Quốc hội, Bộ Chính trị và Chính phủ huy động trí tuệ cả nước, đăc biệt là cố sao mời gọi được trí tuệ của các trí thức có tầm nhìn và tâm huyết với đất nước, hình thành một chiến lược tổng thể và thiết kế các bước đi của một cuộc cải cách chính trị triệt để, nhằm thay đổi đất nước toàn diện và sâu sắc, sao cho quá trình cải cách này diễn ra một cách hòa bình, hài hòa, kinh tế ổn định và có hướng phát triển mới, đồng thời tiếp tục nâng cao vị thế đối ngoại của đất nước. Rất đáng tham khảo kinh nghiệm của Myanmar cho cuộc cải cách chính trị này ở nước ta – đặc biệt là những kinh nghiệm về phát huy chất xám của trí thức, kinh nghiệm thiết kế trình tự và tiến độ rất hợp lý các bước đi, sự lồng ghép các bước đi… trong quá trình thực hiện dân chủ, để vừa giữ được ổn định, vừa từng bước tháo gỡ khó khăn và phát triển kinh tế, tiến hành được cải cách hệ thống nhà nước pháp quyền, đồng thời nâng cao vị thế quốc tế để gìn giữ an ninh quốc gia.

Trong cải cách, cũng như trong khắc phục những sai lầm trên mọi phương diện kinh tế và chính trị, cần chú trọng quan tâm đến khắc phuc những lỗi hệ thống và những yếu kém vỹ mô là chủ yếu; cố gắng thực hiện tối đa nguyên tắc khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố; đồng thời nỗ lực hết mức thực hiện hòa giải, cố tránh hết sức có thể việc hình sự hóa các vấn đề… Tất cả nhằm giảm xuống mức thấp nhất mọi tổn thất và đổ vỡ mới, phòng ngừa phát sinh những rạn nứt mới có thể xảy ra trong quá trình cải cách, đồng thời nhờ đó có thể tạo ra sự tin cậy nhau và đồng tâm hiệp lực hướng về phía trước, phát huy tối đa mọi khả năng và nguồn lực cho việc mau chóng chuyển đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới.

Hòa giải, khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố, tránh hết mức có thể việc hình sự hóa – đấy là cách mở lối thoát cho những vấn đề bế tắc hay có thể gây xung đột lớn trong quá trình cải cách, để vĩnh viễn khép lại quá khứ, để giảm xuống mức thấp nhất mọi tổn thất, để bảo tồn và chắt chiu mọi nguồn lực cho nhiệm vụ mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Riêng những vấn đề liên quan đến ruộng đất, cần được giải quyết trên cơ sở ưu tiên lợi ích của nông dân.  

Toàn bộ bộ máy nhà nước và các lực lượng vũ trang cần được giữ nguyên trong quá trình cải cách để bảo đảm sự vận hành liên tục và thông suốt mọi hoạt động của quốc gia, điều duy nhất phải thay đổi là toàn bộ bộ máy nhà nước và các lực lượng vũ trang từ nay chịu sự điều hành của Hiến pháp và các cơ quan hiến định.

Xây phải được đặt ở vị trí quan trọng hơn chống như trình bầy trên trong cải cách chính trị chính là với ý nghĩa: thỏa hiệp chấp nhận sự (đã) trả giá cho thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản hoang dã vừa qua, để từ đây chấm dứt thời kỳ này, để hòa bình và sớm chuyển nhanh một cách hài hòa sang thể chế mới, thời kỳ phát triển mới.[2].

Xin lưu ý: Chính quyền của tổng thống Myanmar Thein Sein trong vòng 20 tháng đã hoàn thành được cả 3 việc khó tương tự như ở nước ta là: (1) cải cách chính trị, (2) ổn định và phát triển kinh tế, (3)nâng cao vị thế quốc tế của quốc gia. Đáng chú ý là việc chuyển đổi chính quyền quân phiệt độc tài Myanmar sang thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ, không tốn một phát súng, không mất một nhân mạng. Nguyên nhân thành công chủ yếu là những người nắm quyền lực cao nhất của đất nước này đã thấy được sự cần thiết và đồng lòng nhất trí tiến hành cuộc cải cách có ý nghĩa sống còn này, huy động được chất xám trong lòng dân tộc theo tinh thần hòa giải cho sự thành công của cải cách. Đấy chính là một cuộc cải cách chính trị tử trên xuống và thành công ngoạn mục, mặc dù đấy mới chỉ là những bước đi đầu tiên trên con đường vạn dặm để tiến tới một Myanmar phát triển.

Nhân đây xin cảnh báo: “Đục nước béo cò”, “cướp cờ”, “nguy cơ xuất hiện Lê Chiêu Thống đời mới” (ví dụ nhân danh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN…) luôn luôn là những thủ đoạn các con buôn cơ hội đủ mọi chủng loại, dù là trong nước hay nước ngoài, thường xử dụng để kiếm lợi trên tổn thất và xương máu của đất nước ta vào lúc đất nước ta thực hiện bước ngoặt đi vào cải cách. Mong trí tuệ cả nước đừng bao giờ mất cảnh giác!
          Tôi xin nhấn mạnh, việc sửa đổi/soạn thảo Hiến pháp mới nhất thiết phải được coi là bước mở đầu và là nền tảng cho toàn bộ quá trình tiến hành cải cách chính trị và cải cách ĐCSVN. Không cải cách chế độ chính trị và hệ thống nhà nước hiện hành, không cải cách và tổ chức lại ĐCSVN, Hiến pháp được sửa đổi hay Hiến pháp mới dù được viết hay như thế nào cũng sẽ là vô nghĩa, thậm chí sẽ chỉ càng gây thêm hiểm họa mới cho đất nước. 

Kính thưa Quốc hội, Bộ Chính trị và Chính phủ,                    
Khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ và vượt lên nỗi sợ, quyết tâm dựa hẳn vào dân, lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay ngồi lại với nhau thì hoàn toàn có thể cùng nhau hội đủ mọi điều kiện trong tay thực hiện thắng lợi một cuộc cải cách chính trị từ trên xuống để đổi đời đất nước và đổi đời chính ĐCSVN trong hòa bình, mở đầu bằng xây dựng một Hiến pháp mới. Chắc chắn cả nước sẽ một lòng sắt đá với tinh thần Diên Hồng đứng đằng sau một quyết định hòa bình đổi đời như thế của lãnh đạo Đảng và Nhà nước! Như thế có gì mà sợ? Chỉ ở Việt Nam mới có tình huống này. Diễn tiến của lịch sử Việt Namkhách quan tạo ra như vậy. Càng để muộn, cơ hội này có nguy cơ lại vuột đi, như ba lần cơ hội lớn đã vuột đi trong gần bốn thập kỷ vừa qua[3].

Xin cứ ngẫm mà xem, trên cả thế giới này, chỉ một mình Việt Nam mới có những điều kiện đặc thù lịch sử dành cho ĐCSVN khả năng thực hiện một kịch bản hòa bình đổi đời như thế, nhất thiết lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay phải có tâm và đủ bản lĩnh nắm lấy! Đó cũng là kịch bản tối ưu duy nhất, đáng mong muốn nhất cho đất nước và kế thừa được truyền thống vinh quang trước đây của ĐCSVN, là trách nhiệm không thể thoái thác của ĐCSVN trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước. Ở các nước khác mà như ta hiện nay sẽ khó có chuyện này, chí ít thì cũng đã phải xảy ra vài ba cuộc “mùa xuân Ả Rập” rồi!.. Tuy nhiên cũng phải nhắc nhở: Sự chịu đựng của nhân dân ta đang ở mức báo động đỏ.
Nếu lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay bạc nhược bỏ lỡ kịch bản hòa bình đổi đời này, một kịch bản sụp đổ như ở Liên Xô vào lúc nào đó, sớm muộn sẽ xảy ra ở nước ta, do chế độ chính trị đang ngày càng mục nát bên trong và không đương đầu nổi những thách thức quyết liệt từ bên ngoài. Khác chăng so với Liên Xô hồi ấy là: Ở Việt Nam sẽ rất hỗn loạn và đẫm máu.
Trong cuộc chiến tranh 17-02-1979, Trung Quốc trong cùng một giờ đã cho khoảng nửa triệu quân ào ạt tấn công toàn bộ tuyến biên giới phía Bắc nước ta; sự việc này cho thấy: Một khi xảy ra sụp đổ chế độ chính trị như thế ở Việt Nam, không loại trừ xuất hiện tình huống vì bất kể lý do gì, quân đội Trung Quốc lúc nào đó sẽ can thiệp… Đất nước ta sẽ đi về đâu?.. Thế rồi sẽ làm sao tránh khỏi nguy cơ vấn đề Biển Đông là chuyện đã rồi như Hoàng Sa?!.. Vân vân và vân vân…

Sự nghiệp đất nước độc lập thống nhất phải hy sinh chiến đấu nhiều thế hệ mới giành được làm sao có thể bảo toàn nếu cứ kéo dài mãi tình trạng đất nước èo uột, lệ thuộc như hiện nay?! Lấy gì giữ vững sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia trong tình hình mới? Giữ đại cục mà nhiều yếu kém thế này liệu đất nước có được yên? Giữ đại cục đến mức nào thì là sự đầu hàng trá hình?..

Câu chuyện ngày càng rõ: Ngày nay giữ nước phải có toàn dân tộc và cả thế giới, chứ không phải là giữ Đảng như đang là đảng hiện nay! Ngày nay giữ nước, đất nước càng phải mau chóng trở thành một quốc gia phát triển!
Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cần nghiêm túc nghĩ lại tất cả! Dứt khoát cần thông qua cải cách chính trị xốc toàn dân tộc đứng dậy phát triển đất nước bền vững, xây dựng Việt Nam là một thành trì bất khả xâm phạm, cùng với cả thế giới gìn giữ hòa bình.
Bí quyết thành công của Cách mạng Việt Nam là: Tinh thần yêu nước Việt Nam đã từng đủ bản lĩnh giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ làm nên Cách mạng Tháng Tám và hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, giành lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, tranh thủ được sự hậu thuẫn của cả thế giới cho sự nghiệp vẻ vang này, và đồng thời đã xác lập được cho quốc gia vị trí quan trọng trên trường quốc tế.

Trước những thách thức mới quyết liệt từ bên ngoài, trước những đòi hỏi phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, hơn bao giờ hết Việt Nam cần tiếp tục giương cao ngọn cờ dân tộc – dân chủ với trí tuệ mới,  để xây dựng được đất nước độc lập – tự do – hạnh phúc, để có thể dấn thân cùng đi với cả thế giới. Tinh thần này cần trở thành linh hồn cho một Hiến pháp mới của đất nước bây giờ và mãi mãi về sau.

Bốn cuộc chiến tranh trong vòng một đời người, và biết bao nhiêu thương đau đến hôm nay đất nước vẫn đang còn phải chịu đựng, như thế là quá nhiều rồi! Mà đến hôm nay đất nước vẫn chưa ra khỏi cái nghèo và lạc hậu, có nhiều mặt tiếp tục lạc lõng! Tôi không thể chấp nhận nhân dân ta, đất nước ta lúc nào đó lại một lần nữa sẽ phải trầm luân trong một cuộc bể dâu mới đẫm máu.

Vì vậy tôi cho rằng phải thông qua hòa giải dân tộc để thực hiện cải cách toàn diện, nhờ đó thực hiện sự nghiệp canh tân đổi đời đất nước đến nay vẫn bị bỏ lỡ. Tiến bộ của văn minh nhân loại, của khoa học kỹ thuật và công nghệ, toàn cầu hóa ở nấc thang hiện tại.., tất cả vừa tạo cơ hội, vừa thách thức nước ta phải lựa chọn con đường của phát triển, bắt đầu từ thực hiện tự do, dân chủ.  

Đúng ra phải nói thật với nhau cải cách chính trị đã để muộn mất 37 năm rồi – ngay sau khi đất nước độc lập thống nhất, chí ít là muộn 23 năm nay rồi – ngay sau khi chiến tranh lạnh kết thúc và Việt Namhoàn toàn có thể đứng trên hai chân của mình! Không thể để muộn hơn nữa!

Chính sự chậm trễ này là nguyên nhân gốc làm cho đất nước độc lập mà nhân dân vẫn chưa có tự do, lối ra cho cuộc khủng hoảng đất nước đang lâm vào chưa rõ, mục tiêu cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020 trở thành ảo tưởng.

Chính sự chậm trễ này khiến cho đất nước đang lâm vào tình trạng bị động chiến lược đầy nguy hiểm: Chưa có một tầm nhìn, một lời giải nào thuyết phục cho những thách thức kinh tế và chính trị, đối nội và đối ngoại đất nước đang phải đối mặt trong bối cảnh siêu cường đang lên Trung Quốc trở thành vấn đề của cả thế giới mà Việt Nam ở vào vị trí địa lý tự nhiên, vị trí địa kinh tế và địa chính trị cực kỳ nhậy cảm.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước bây giờ đòi hỏi hơn bao giờ hết phải có toàn dân tộc và cả thế giới, sự chậm trễ này chưa giúp chúng ta trả lời làm như thế nào?!

Vì những lẽ trên, cải cách hệ thống chính trị của đất nước trở thành chuyện sống còn. Đòi hỏi xây dựng Hiến pháp mới đang cho đất nước một cơ hội.

Không có một thế lực nào bên trong hoặc bên ngoài có thể cấm nước ta đi vào một cuộc cải cách chính trị triệt để và toàn diện như thế, chỉ có sự tha hóa của hệ thống chính trị và tình trạng kìm hãm không dám thức tỉnh sự giác ngộ của nhân dân đang cản trở đất nước tiến hành nhiệm vụ này. Tự nhận về mình vai trò lãnh đạo, tại sao ĐCSVN không dám đứng lên tiền phong chiến đấu khắc phục hai trở lực này?

Tuy nhiên, mười bạn của tôi hôm nay, thì có đến chín người nói đòi hỏi ở ĐCSVN hiện nay, đòi hỏi chế độ chính trị này tự mình đổi đời bây giờ là điều không thể. Không ít bạn bè chí cốt và người thân trong nhà mắng tôi tư duy cải cách như thế là kẻ ngu trung, quở trách tôi sao không để cho ngôi nhà đã mục nát sụp đổ quách đi cho nhanh, kéo dài sự đau khổ của đất nước làm gì!?..  Vậy chỉ còn cách những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay hạ quyết tâm vượt qua điều không thể này.

Tôi nghĩ lãnh đạo Đảng và Nhà nước đang đứng trước cơ hội và có trách nhiệm ràng buộc khởi xướng cuộc cải cách chính trị hòa bình đổi đời đất nước và đổi đời chính bản thân ĐCSVN, bắt đầu từ xây dựng một Hiến pháp mới. Hoặc là để vuột mất cơ hội này và mắc tội đối với đất nước? Tôi không thay đổi được suy nghĩ của mình.
                                                            Kính thư,
                                                            Nguyễn Trung


[1] Xin gọi tắt là Kiến nghị 72, ngày 04-02-2013 đã được trao chính thức cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
[2] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, tiểu thuyết “Lũ” http://viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm
[3] (1) Cơ hội thực hiện hòa giải và thống nhất dân tộc ngay sau 30-04-1975; (2) Cơ hội độc lập đi với cả thế giới sau khi LXĐÂ sụp đổ; (3) Cơ hội đẩy nhanh quá trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN và gia nhập WTO.

------------------
Nguồn:http://webwarper.net/ww/~av/www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_ThuNgoGuiLanhDao.htm

XA DÂN LÀ ĐẢNG TỰ TIÊU


 * BÙI VĂN BỒNG
           Khi đương chức, ông Sáu Dân (Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) nói: “Ai cũng hô vì dân, nhưng gặp dân thì né, ngại nghe dân nói, bị dân phê bình thì cứ giãy nãy lên. Cán bộ chỉ thích khen, không thích ai phê bình. Xa dân là Đảng tự tiêu, tồn tại sao được? Mà Đảng không được dân ủng hộ coi như tự mình đánh mất dân, thì Đảng còn tồn tại để làm gì?”. 
                Phóng viên Huỳnh Phan (Tuần Việt Nam) phản ánh: Khi trao đổi về dân chủ và phê bình, ông Sáu Dân đã nói: "Gần đây, tôi thấy buồn và lo ngại trước hiện tượng thủ tiêu đấu tranh phê bình, chủ yếu thiên về vuốt ve nhau. Một người sai, nhiều người biết nhưng không nói, hoặc không dám nói. Hoặc giả có định phê một câu thì phải rào trước đón sau, phải nêu, thậm chí phải tụng ca một loạt ưu điểm, rồi mới đưa ra khuyết điểm. Mà điều đáng lo ngại ở chỗ hiện tượng này đã trở thành phổ biến, không kể ở cấp nào, từ cơ sở tới cấp Trung ương."
                Đó là chưa nói đến có trường hợp ý kiến dân đề xuất với Đảng nhưng cấp ủy không báo cáo lên trên; hay chỉ báo cáo chung chung, phiên phiến; hoặc các tổ chức đoàn thể nắm bắt không kịp, không đủ, nắm sai thông tin nên báo cáo không chu đáo; có khi còn vì động cơ khác mà giấu nhẹm thông tin, thiếu mạnh dạn, thiếu bản lĩnh đấu tranh, sợ mất lòng, ngại đụng chạm...
            Niềm tin của dân chính là sự thể hiện rõ nét hiệu lực lãnh đạo của Đảng. Cho nên, nếu xa dân là tự tách mình ra khỏi hiện thực cuộc sống, không có những thông tin xác thực cần cho người lãnh đạo, mất lòng dân mà không biết nguyên nhân sâu xa từ những lý do gì. Khi người dân được quyền tự do dân chủ, nhận rõ sự phát huy ngày càng cao bản chất ưu việt của một Đảng cầm quyền, đem lại lợi ích thiết thực cho họ, thì niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được khẳng định vững chắc. Thực tế chứng minh rằng, nếu cán bộ đảng viên không chăm lo “tích thiện”, từ đạo đức, lối sống đến tư cách, tác phong không làm gương trước quần chúng, thì bị mất ngay niềm tin, tạo ra hố ngăn cách giữa dân với Đảng. Và như vậy, rất có hại cho cách mạng, trì kéo, kìm hãm sự phát triển của xã hội, báo động về nguy cơ mất chế độ chính trị-xã hội. 
           Phải luôn luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ tương hỗ: Nhờ dân mới có Đảng, và dân xây dựng Đảng để giao quyền lãnh đạo cho Đảng. Người dân chỉ phục tùng, chấp nhận sự lãnh đạo của đảng khi đảng thực sự vì dân, giữ được uy tín và hiệu lực lãnh đạo của đảng cầm quyền.  Cho nên, mất lòng dân là Đảng tự đánh mất chính mình. Khi một đất nước có một chính đảng cầm quyền biết tôn trọng dân và thực thi dân chủ một cách thường xuyên, thực sự đi đúng đường lối, chủ trương, chính sách, thực hiện đúng và sáng tạo với hiệu quả cao các nghị quyết đã đề ra, thì lòng tin của nhân dân đối với Đảng sẽ được dân đồng tâm xây đắp, không ngừng củng cố ngày càng bền vững.
                 Điều lệ Đảng đã quy định rõ nhiệm vụ của người đảng viên, nhiệm vụ của tổ chức Đảng các cấp là phải thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân:  “Phải tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của quần chúng, chăm lo đời sống của quần chúng, đoàn kết với quần chúng, học tập quần chúng, tìm hiểu nguyện vọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng, để phản ánh trung thực cho Đảng và kịp thời giải quyết một cách thích đáng. Phải ủng hộ sáng kiến, nghiên cứu áp dụng kinh nghiệm sáng tạo của quần chúng. Phải thường xuyên làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, xa rời quần chúng”.
                 Cương lĩnh, Điều lệ, các Nghị quyết của Đảng, rồi biết bao thông tri, chỉ thị, các văn bản chuyên đề của Trung ương hướng dẫn về công tác Đảng đều nhấn mạnh yêu cầu giữ vững nguyên tác tập trung, dân chủ, yêu cầu phát huy vũ khí sắc bén đấu tranh phê bình, tự phê bình, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với dân, nhưng bệnh quan liêu, xa thực tế, xa dân, làm mất dân chủ vẫn tràn lan. Đó là sự tự thân của chính những cán bộ, đảng viên có chức có quyền đã làm cho Đảng bị yếu kém. 
              So với Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Nhất năm 1935 (Đảng Cộng sản Đông Dương lúc đó có hơn 600 đảng viên), nay Đảng ta đã có số lượng đảng viên đông gấp hơn 5.000 lần (hơn 3,6 triệu đảng viên). Đảng cần phải mạnh, chất lượng phải tương ứng với số lượng. Đông mà không mạnh, số lượng nhiều mà chất lượng kém là điều rất đáng lo ngại, và như thế cũng chẳng có gì đáng tự hào. Không ngẫu nhiên mà người ta đã phải đúc kết: “Nhìn thấy đảng viên nhan nhản mà Cộng sản được mấy người?”. Đó là nỗi lo lớn, đặt ra sự cần thiết, cấp bách phải chỉnh đốn Đảng. Sự mất chất Cộng sản trong khi vẫn mang danh đảng viên đã làm xói mòn niềm tin trong nhân dân đối với Đảng lãnh đạo. Khi cố tình làm trái pháp luật thì không nghĩ đến đảng, nhưng khi có nguy cơ lung lay cái ghế, những gian tham bị lộ tẩy, thì lại bấu víu vào đảng để tự trì bám quyền lực: "Tôi không xin, nhưng đảng còn tín nhiệm thì tôi làm theo yeu cầu của đảng!". Tấm bình phong đảng quả là có sức bao trùm lớn.
                  Có những vị lãnh đạo rất ít khi đi cơ sở, ít gặp người dân, quan liêu trên mây, mặt vênh lên hợm hĩnh. Cho nên, khi đã đối thoại với dân, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải “tâm tự vấn tâm”, đối thoại với chính mình, hỏi lại lòng mình. Như phát biểu của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Từng cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là người đứng đầu, người chủ trì phải tự giác, gương mẫu làm trước (ngay sau Hội nghị này, không phải chờ gì cả) tự kiểm điểm, soi lại mình, đơn vị mình, gia đình mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà "phán", hoặc "chờ xem", coi như mình vô can”. Nói vậy, nhưng mấy ai tự soi. Biết tự soi đã không làm bậy! Tham quyền cố vị khi uy tín đã mất thì quả là thái độ trơ lỳ thực dung, không biết xấu hổ. 
                  Có những vị có đến 3 khóa liền là "cận tứ trụ", vài khóa giữ cương vị trong "tứ trụ" ngồi tót trên thượng đỉnh Trung ương'. nhưng chỉ xuất hiện gọi là đi cơ sở tỉnh, huyện vài lần, phần nhiều lễ lạt, khánh thành này kia được mời giải quyết khâu oai, xe đưa xe đón, xe bám đít rồng rắn cả mấy chục chiếc. Khó tìm ra ông có bức ảnh nào gần gũi, chân tình tiếp xúc nói chuyện với nông dân, công nhân, các thành phần lao động khác. Lên bục phát biểu thì chẳng cần suy nghĩ cân nhắc gì, phần nhiều đọc những văn bản có sẵn được nghĩ và viết ra từ cái đầu người khác. Đến đâu cái mặt cũng nghênh ngang, hai cánh tay khuỳnh ra chống nạnh, nhìn người dân không được nửa con mắt, ý kiến góp ý của 'đồng chí' và nhân dân cứ bị coi như dế gáy ve kêu:
              Chức ông lớn, ghế ông cao
Tưởng mình chẳng khác vi sao trên trời
              Đi đâu phải có lời mời
Đến đâu cũng thấy rực trời cờ hoa
              Đi theo cả đám lâu la
Mâm cao, cỗ hậu lại quà trao tay
              Nhậu say, lời nói càng sai
Lúc nào cũng thấy "tương lai tuyệt vời"...
               Đừng có đổ vấy cho "thế lực thù địch" nào để che đậy những xấu xa, mục ruỗng ngay trọng nội tại cơ thể đảng. Quan liêu, tham nhũng, hủ hóa là sự "tự diễn biến" làm mất hẳn niềm tin, uy thế lãnh đạo của một đảng cầm quyền. Khi đi tiếp xúc với dân thì nhũn nhặn, hứa hão để lấy lòng, xin phiếu. Khi được dân bầu lên, có ghế cao chức lớn thì quay lại đè dầu cưỡi cổ dân lành. Hỏi có còn cái thứ đạo đức nào dơ dáy hơn không? Tự thả lỏng cho mình, khắt khe với người khác cũng là sự ích kỷ quá đáng. Thiệt thòi và bất lợi cho người lãnh đạo là bị người dân sợ tiếp xúc, người dân xa lánh và nhất là không nghe được những lời nói thẳng, nói thật từ miệng người dân. Khi khoảng cách chưa bị triệt tiêu, sự xa lánh, né tránh còn đầy tâm tư, người dân còn phải “tỏ thái độ” thì không ai muốn nói, và càng không nói thật. Nếu như ý kiến đã phát biểu, lãnh đạo nghe hết, nhưng nghe rồi để đó, không làm, thì chẳng ai muốn nói. Khi người ta không tin, thì có gặng hỏi người ta cũng không nói. Bởi vì: “Nói ra làm gì, chẳng đi đến đâu, mất công lại thêm bị để ý, bị thù oán…”  Cho nên, tổ chức đối thoại phải đi vào thực chất, phải có hiệu quả, nếu không thì coi như chỉ là thứ hình thức, mị dân, lừa dối dân. Cũng vì thế, văn hóa đối thoại là phải biết lắng nghe, phải chống bệnh bảo thủ, phải thực sự khiêm tốn, cầu thị và cái gì đã hứa thì phải làm.
               Thực trạng giảm uy tín của Đảng lãnh đạo đối với nhân dân đã rõ, nhưng không thể không có lối ra. Trong bất kỳ khó khăn nào, khi có dân ủng hộ nhiệt tình, Đảng ta đều có thêm sức mạnh nội tại của lòng dân để vượt qua. Thế nên, cần nhắc lại một đúc kết đã thành chân lý: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu / Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.Vững tin ở sức mạnh toàn dân, biết coi trọng “dân là gốc, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân”, thực sự biết dựa vào dân, việc gì dù gian khó đến mấy cũng hoàn thành. Chỉ có những kẻ đã mất chất Cộng sản, phản bội các nguyên tắc điều lệ Đảng, đi ngược lại lý tưởng, tự cho mình cái quyền đứng trên thiên hạ, gây thù chuốc oán cho dân, bị dân khinh thường mới sợ phải đối thoại với nhân dân.
BVB