Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

> CẦN DẸP BỎ NHỮNG GÌ?



  * MINH DIỆN
                 Trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII, bàn về tăng mức lương tối thiểu từ 1.030.000 lên 1.300.000 đồng từ tháng 5-2013, Bộ trưởng tài chính Vương Đình Huệ nói rất khó thực hiện, trừ khi Quốc hội cho phép in thêm tiền. Nhiều đại biều phản ứng: “Thế thì thà đừng tăng lương!” .             
                Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng hiến kế: “Hạn chế mua xe, bớt hội hè lấy tiền tăng lương!”.
                Phó chủ tịch Tòng Thị Phóng có sáng kiến: “Bớt một nửa số chuyến đi nước ngoài cũng  được kha khá” .
                Thế mới biết tiền chi tiệc tùng, xe pháo, lễ hội, đi nước ngoài lớn cỡ nào? Tất nhiên  đảng  biết , chính phủ biết, còn dân vẫn bị  mù tịt.
                Nhưng xem ra, sáng kiến của ông Hùng, bà Phóng chẳng qua cũng chỉ là chuyện quá vụn vặt! Tưởng “đỉnh cao trí tuệ” có kế hoạch dài hơi , ai ngờ lại theo kiểu “giật gấu vá vai” như vậy?
               Thử hỏi, nếu cắt giảm hết chi phí công, bỏ hết các chuyến công du nước ngoài thì được bao nhiêu tiền? Có đủ thêm mỗi công chức 100.000, hơn nữa thỉ 300.000 đồng ăn tết chứ đừng nói thường xuyên liên tục?  Hãy  lấy 26 triệu người ăn lương nhân với 100.000-300.000 sẽ thấy con số lớn cỡ nào?
                Không quốc gia nào trên thế giới đội ngũ công chức ăn lương nhà nước hùng hậu như Việt Nam
                Ông Nguyễn Thế Trung, Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương thừa nhận:  “Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về sự cồng kềnh bộ máy  công chức từ cấp xã đến trung ương. Ngân sách mỗi năm đã phải chi một khoản quá lớn để trả lương cho bộ máy đó mà cuối cùng lương lại quá thấp!” (Tham luận tại Hội thảo “Đổi mới hệ thống chính trị” tại Học viện Nguyễn Ái Quốc 31-1-2013).

                Nước Pháp dân số 64.044.000 người, tổng thu nhập quốc dân (GDP) 2.700 tỷ đô la, có 5.300.000 công chức, chiếm 8%.
                Việt Nam dân số 88.780.000 người, tổng thu nhập quốc dân 106 tỷ đô la, có 26 triệu công chức hưởng lương Nhà nước, chiếm gần 30%.
                Thu nhập kém người ta 25,47 lần, số lượng người ăn lương hơn người ta khoảng 5 lần, công chức phải hưởng đồng lương chết đói thì không có gì lạ!
               Ơ Pháp, cũng như các nước khác, khái niệm về lương là tiền công và lợi ích người sử dụng lao động trả cho người lao động. Người sử dụng lao động được hiểu theo nghĩa rộng, là nhân dân, người lao động là toàn bộ hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương. Tiền thuế của dân và tiền khai thác tài nguyên của đất nước được dùng làm ngân sách chi cho an ninh quốc phòng, kiến thiết đất nước, và trả công cho bộ máy chính phủ  điều hành đất nước theo hiến pháp và pháp luật. Chính phủ là người làm thuê, phải hoàn thành công việc của Chủ là  nhân dân giao cho, tương xứng với mức lương đã được thỏa thuận. Người dân không đóng thuế để nuôi báo cô bất kể tổ chức chính trị xã hội nào .
                 Một nền kinh tế đứng thứ 5 thế giới như Pháp, chỉ phải  nuôi một bộ máy nhà nước chiếm tỷ lệ khiêm tốn 5,3% đã chật vật, công chức biểu tình, đình công  rần rần. Việt Nam chưa thoát nghèo, càng nghèo hơn khi phải nuôi bộ máy công chức khổng lồ 26 triệu người, bình quân cứ bảy người dân phải nuôi hai cán bộ ngổi trên đầu trên cổ mình.
                Nhà bào lão thành Thái Duy có lần viết trên báo Đại Đoàn Kết: “Không ở đâu như dân ta, phải è lưng đóng thuế nuôi ba bộ máy đảng, nhà nước, và đoàn thể”.
               Nói thế chưa đúng, vì Việt Nam chẳng đào đâu ra ba bộ máy,  mà chỉ có một bộ máy lãnh đạo duy nhất là Đảng cộng sản Việt Nam. Nhà nước của đảng, chính phủ của đảng, các đoàn thể của đảng. Thử hỏi có tổ chức, hội, đoàn  nào đảng không nắm quyền lãnh đạo? Chỉ nhỏ xíu như cái  “Hội người mù” cũng phải có người của đảng lãnh đạo mới không đi trệch đường lối, và tất nhiên dân phải trả lương lãnh đạo hội đó.
              Quyền lực của Đảng cộng sản Việt Nam bao trùm lên toàn bộ đất nước,  dù toàn bộ đảng viên chỉ chiếm 4% dân số. Quốc hội với danh nghĩa cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho nhân dân, nhưng 95% đại biểu là đảng viên.
               Tiến sỹ Tống Đức Thảo phát biểu trong hội thảo đổi mới hệ thống chính trị: “ Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, của dân, nhưng là đảng cử, dân bầu. Bầu cho những ứng viên đã được định trước theo sắp xếp của cấp ủy, của đảng. Thực chất là hình thức, ai ngồi ghê snào đã sắp sẵn trước cả rồi, như ‘bỏ cối không trật”, dân chả có quyền hành gì!”.
               Để  duy trì quyền lãnh đạo độc tôn, Đảng cộng sản đã phát triển hệ thống quyền lực từ trung ương đến địa phương với một lực lượng hùng hậu chưa tứng có trong lịch sử.
               Dân “chả có quyền hành gì” mà phải còng lưng nuôi bộ máy quyền lực đó. Người bán mặt cho đất bán lưng cho trời trên đồng ruộng, người đằm mình trong gió bão ngoài biển khơi, người vắt kiệt mồ hôi trong các nhà máy xí nghiệp, người ra nước ngoài làm thuê...Từ  bà bán ve chai vé số đến nhà doanh nghiệp, từ đứa trẻ ẵm ngửa đến người chết, đều phải đóng thuế  nuôi  bộ máy của đảng. Tiền thuế không đủ thì bán tài nguyên, bán rừng bán biển, thì vay nợ đời sau con cháu trả.
              Bộ máy khổng lồ ấy đã làm gì cho dân cho nước? Lạm phát tăng, GDP giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng, phúc lợi xã hội giảm, tỷ lệ người nghèo tăng, tội phạm tăng. Một  bộ máy quá đông, đông như “quân tàu ô”. Nguy hại hơn cả là trong bộ máy đó có đội ngũ nắm quyền lực bao trùm đất nước nhưng lại có “Một bộ phận không nhỏ đã suy thoái chính trị, thoái hòa  đạo đức, lối sống” đã thành  “một bầy sâu ăn hết phần của dân”.
                Thượng bất chính hạ tắc loạn, trên thối một, dưới thối mười, nạn mua  chức mua quyền lấy lương , ăn bổng, tạo cửa tham những, bỏ bê công việc tràn lan như nấm .
               Ông Nguyễn Thế Trung, Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương nói: “Có nơi tỏ ra chủ quan nói 70-80 % công chức làm việc, có nơi bi quan bảo 30%, nhưng  tỷ lệ thực tế  50 % người làm, 50% người ngồi chơi ăn lương!”.
                 Nhận định ấy cũng đã có cách đây hơn hai chục năm rồi. Ngày đó nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiêt đã tỏ ra kiên quyết xử lý nạn cán bộ “chân trong chân ngoài” và ông nói: “Phải cải cách chế độ công chức và tiền lương, để công chức sống được bằng lương, tận tâm làm việc!”.


                 Như hình như càng cải cách bộ máy càng phình ra.
                 Trong nhiệm kỳ X, cơ quan lãnh đạo của đảng giảm được hai ban nội chính và kinh tế; nhiệm kỳ XI lại tái thành lập. Bởi khi tinh giảm bộ máy, đinh vít lỏng lẻo, đảng thấy quyền lực bị lung lay, lại phải gia cố thêm, và bộ máy lại phình ra. Càng phình ra càng đẻ thêm nhiều cán bộ, và  cái nghề “kinh doanh quyền lực” phát triển.
                Nhiệm kỳ V của Đảng cộng sản Việt Nam có 101 Ủy viên trung ương, nhiệm kỳ XI tăng lên gấp đôi gồm 175 ủy viên chính thức, 25 dự khuyết.   
                Trước kia, một Bộ nhiều lắm 3 thứ trưởng, giờ tăng hai, ba lần. Cụ thể, Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn, Bộ công thương 10 thứ trưởng, Bộ tài nguyên môi trường, Bộ nội vụ, Bộ xây dựng 7 thứ trưởng, các bộ khác từ 5 đến 6 thứ trưởng. Các ban của đảng cũng không kém, trung bình mỗi ban 5 phó ban, cá biệt có ban  9  cấp phó,  các  vụ  thì một vụ trưởng kèm bảy, tám vụ phó. Có những cục thuộc loại làng nhàng cũng có đến 6 cục phó. Ủy ban Kiểm tra Trung ương thì có 6 Phó Chủ nhiệm…
                 Ở tỉnh Thanh Hóa có xã vài ngàn dân mà 500 cán bộ, ở Nghệ An  có phòng 3 sếp mà chỉ có một nhân viên, thậm chí có ban toàn cán bộ không có nhân viên. Ví dụ, Sở nội vụ 31 biên chế thì 1 giàm đốc, 4 phó giám đốc, 14 trưởng phó phòng, vị chi 19 cán bộ  lãnh đạo 12 nhân viên, phòng công chức viên chức  4 người thì một trưởng phòng, hai phó phòng một nhân viên, phòng kế hoạch sở nông nghiêp phát triển nông thôn 1 trưởng phòng, 6 phó phòng 2 nhân viên...
                 Các trụ sở đảng, chính quyền đoàn thể và các các cơ quan  mấy năm gần đây đều được xây dựng mới đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Như như ông Trần Đình Nghiên phát biểu là: “ Vẫn chật không có chỗ cho dân len chân vì nhiều quan quá! Nhiều quan nhưng việc không chạy, cứ ì ra, làm khổ dân”.
                Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thừa nhận: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% công chức không dùng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả nào!”.
                Ông Nguyễn Xuân Phúc nói như thế là vẫn khiếm tốn. Trong diễn đàn hội nghị “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị” tại Học viện Nguyễn Ái Quốc 31-1- 2013 vừa qua, nhiều đại biểu nhận định số công chức “sáng cắp ô đi tối cắp về” là 50%.
                 Nhưng chỉ cần dẹp đi 30% công chức “không dùng được” như  Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói,  thì những công chức tử tế đã được tăng 30%  lương rồi.
                 Hãy dẹp bỏ cái bọn không dùng được ấy, cùng những hội,  đoàn thể “ăn theo nói leo” tự khắc đời sống công chức sẽ khá hơn và chúng ta có quyền đòi hỏi họ làm việc tốt hơn. Nhưng, biết là khó, dù là những công chức không làm được việc, biên chế thừa, bộ máy ồng kềnh nhưng cũng không nguy hại bằng “bộ phận lớn trong số chức lớn to quyền” mà vơ vét tham nhũng, trong mấy năm mà khui rỗng quốc khố hàng triệu tỉ đồng. Họ cũng là đầu têu và đầu mối mua quan bán tước, tuyển chọn công chức để vơ vét cho đầy tràn túi tham. 
M.D 

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

> Nguyễn Bá Thanh dám nói, NAY VÀO CUỘC LÀM ?



GDVN _ Sau hơn 1 tháng Bộ Chính trị ra quyết định, bắt đầu từ ngày 1/2, Ban Nội chính Trung ương với Trưởng ban Nguyễn Bá Thanh đã chính thứ nhận nhiệm vụ với nhiều thách thức và công việc rất quan trọng sẽ phải thực hiện... Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, ngày 28/12/2012, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 158-QĐ/TW về việc thành lập Ban Nội chính Trung ương; Quyết định số 159-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Nội chính Trung ương.
Bộ Chính trị cũng ban hành các Quyết định số 655-QĐNS/TW về việc phân công ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành uỷ,  giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương.

Đảng tin, dân kỳ vọng
Ngay sau khi các quyết định này được công bố rộng rãi đã có rất nhiều ý kiến bày tỏ sự ủng hộ và đặt niềm tin vào một lãnh đạo được đánh giá “dám nói, dám làm, thẳng thắn, quyết liệt”.
```Hoan nghênh quyết định tái lập Ban Nội chính, nguyên Phó Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra Trung ương Vũ Quốc Hùng khi trao đổi với PV Báo Giáo dục Việt Nam cũng bày tỏ niềm tin tưởng đối tân trưởng  Nguyễn Bá Thanh.

“…Ở TP. Đà Nẵng, đồng chí Thanh đã làm tốt rồi thì khi ra Hà Nội cũng sẽ làm tốt công việc của một Trưởng ban để Ban Nội chính trở thành nòng cốt trong việc phòng, chống tham nhũng.
         Việt Namđã có nhiều Nghị quyết về phòng, chống tham nhũng. Công tác phòng và chống phải được thực hiện song song với nhau. Phòng là để cán bộ không sa vào nạn tham nhũng, còn chống là khi cán bộ đã đánh mất mình thì phải được xử lý một cách triệt để”, ông Hùng nói.
         
Cũng đánh giá về việc bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức T.Ư Nguyễn Đình Hương cũng cho rằng, dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Bá Thanh, công tác phòng chống tham nhũng của ta sẽ có những khởi sắc.
“Ông Thanh là con người cụ thể, thiết thực, không nói chung chung. Ông ấy ở Đà Nẵng kiểm tra cán bộ rất sát, nhân viên có thể không biết nhưng từ phó giám đốc trở lên là ông kiểm tra công việc rất chặt chẽ, giao việc nào phải làm việc đó, làm hay không làm được, vì sao, không lơ mơ được.
Tôi cho rằng ông là một tướng lĩnh ra trận để chỉ huy, đánh đông dẹp bắc thì rất giỏi. Nếu so với nhân vật trong Tam Quốc diễn nghĩa thì ông là Triệu Tử Long”, ông Hương so sánh.

Còn ông Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện Trưởng Viện Lịch sử Đảng Việt Nam cũng cho rằng: “Nhìn ở các địa phương tôi thấy ông Nguyễn Bá Thanh là người đứng đầu có trách nhiệm.
Từ lãnh đạo một địa phương như vậy, tôi có niềm tin là Nguyễn Bá Thanh sẽ làm tốt công việc của mình ở cương vị Trưởng ban Nội chính. Một lãnh đạo có tầm trí tuệ, có trách nhiệm với Đảng, Nhà nước, với công việc mình được giao và một lòng vì dân thì dù ở vị trí nào cũng thành công”.
Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị Vũ Oanh cũng bày tỏ: “Tôi biết anh Nguyễn Bá Thanh từ lâu, đó là người dám nói, dám làm. Anh ấy đã làm được nhiều việc cho Đà Nẵng: xây dựng được một thành phố Đà Nẵng sạch đẹp và phát triển mạnh.
Anh ấy ra Hà Nội là một điều tiếc cho Đà Nẵng nhưng tôi hi vọng việc này sẽ phát huy tác dụng trong công tác phòng chống tham nhũng. Anh ấy là người có nhiều suy nghĩ mới”.
Cùng với những ý kiến bày tỏ niềm tin của nhiều bậc lão thành, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhân dân Đà Nẵng nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đều bày tỏ sự vui mừng và đặt những kỳ vọng vào tân trưởng ban Nguyễn Bá Thanh.

Độc giả Bùi Ngọc Hưng cho biết: “Những lời khen ngợi ông do chính những người dân lao động Đà Nẵng dành tặng cho ông! Kể từ đó, tôi luôn tìm hiểu về con người ông, về những việc ông làm và những câu nói của ông trong nghị trường.
Tôi thật khâm phục ông! Sự điều động vừa qua thể hiện sự quyết đáp vô cùng sáng suốt của Đảng ta. Tôi nghĩ ông sẽ làm tốt và sẽ gánh vác nhiều trọng trách quan trọng hơn nữa! Việt Nam cần những người lãnh đạo như ông”.
Mặc dù, tỏ ý tiếc nuối khi nghe tin Bí thư Nguyễn Bá Thanh sẽ ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới nhưng đa phần người dân Đà Nẵng đều dành tặng những lời chúc, niềm hy vọng vào việc ông Thanh sẽ đạt được những dấu ấn mới ở cương vị được Đảng, Nhà nước giao đảm nhận này.

Không ít thách thức, khó khăn đang chờ…
Bên cạnh niềm vui, tin tưởng, nhiều lãnh đạo, người dân cũng nêu lên những thách thức, khó khăn trong công việc ở cương vị mới mà ông Thanh sẽ phải vượt qua.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc khi trả lời PV Báo GDVN cũng đã nêu ra ba thách thức trực tiếp với tân Trưởng ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh.

- “Thứ nhất là về thể chế hoạt động để tổ chức có thể thực thi công việc của mình được tốt.
- Thứ hai là đội ngũ nhân sự để thực hiện sứ mệnh này. Cá nhân ông Nguyễn Bá Thanh là một yếu tố tốt nhưng còn cả một hệ thống tổ chức bây giờ được lập lại là một vấn đề không đơn giản. Đội ngũ cán bộ trong ban phải là những người “tinh nhuệ”, dám nghĩ, dám làm.
- Thứ ba là quy định thẩm quyền của Ban Nội chính Trung ương được thể chế hóa như thế nào để có thể phát huy được hiệu quả trong điều kiện mới trên tinh thần thượng tôn pháp luật chứ không phải được thực hiện bằng các văn bản khác. Đó cũng là ba thách thức trực tiếp”, ông Phúc nói.

Trong khi đó người tiền nhiệm của ông Thanh, ông Phạm Quốc Anh, nguyên quyền Trưởng ban Nội chính Trung ương, hiện là Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam lại cho rằng: “Đồng chí Nguyễn Bá Thanh tuy đã gặt hái được nhiều thành tích ở Đà Nẵng nhưng đây là trong lĩnh vực xây dựng đô thị. Khi chuyển sang đấu tranh với tự bản thân, nội bộ cán bộ đảng viên thì đây là lĩnh vực hoàn toàn mới. Cho nên bản thân đồng chí Nguyễn Bá Thanh cũng gặp rất nhiều khó khăn”.
Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị Vũ Oanh lại quan ngại về việc: “Nhưng tôi có một điều ngại rằng trong bối cảnh hiện nay, nạn tham nhũng đang hoành hành, nếu không được sự giúp đỡ đắc lực từ các cán bộ khác trong Ban Nội chính Trung ương thì một mình đồng chí Thanh cũng chẳng thể làm gì và như thế thì sẽ thui chột nhân tài”.
Còn độc giả Đinh Thành Trung cũng nhắn gửi: “Bác Thanh ra Hà Nội nhận nhiệm vụ ở cương vị mới vô cùng quan trọng và đầy thách thức. Mong rằng Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tập thể, nhân dân ủng hộ để bác Thanh làm việc một cách chí công vô tư, không khoan nhượng cho bất cứ hành vi phạm tội nào. Vì tiêu cực nó tinh vi và xảo quyệt, tôi mong rằng Bộ Chính trị và Ban Bí thư hết sức tiếp lửa và lắng nghe nhiều hơn nữa từ tân Trưởng ban Nội chính”.
Không ít ý kiến của nhân dân cũng bày tỏ sự quan ngại, lo lắng cho việc ông Nguyễn Bá Thanh chỉ “tay trần” nhưng sẽ phải bắt những con “sâu độc”, sâu có nọc nguy hiểm chết người, đang nấp ở trong nhiều lớp vỏ, lại được che chắn chằng chịt bởi gai, bụi.

Quyết liệt và thẳng thắn
          Dù chưa ra Hà Nội nhận công tác chính thức, nhưng trong hơn 1 tháng được xem là những ngày cuối trên cương vị lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, Bí thư Thành uỷ Nguyễn Bá Thanh vẫn thể hiện rõ quan điểm, phong cách làm việc thẳng thắn, quyết liệt, “nói đi đôi với làm”.
Ông điểm mặt, chỉ rõ những tệ quan liêu, làm việc tắc trách, vấn nạn tham nhũng còn đang nhức nhối. Và khi đề cập đến vấn đề Ngân hàng, ông Thanh chỉ rõ: "Tham ô, tham nhũng, lấy tiền ngân hàng ra là như thế đấy. Không có ú ớ gì nữa, không có "vô tình" gì nữa hết. Ổng nâng lên để rồi người vay cho lại mấy tỉ liền, nên ổng nhắm mắt định giá khống. Nên bây giờ mới xảy ra nợ xấu ngân hàng, cả nước lên tới mấy chục tỉ đô la chứ có ít đâu. Chừ ôm cục đất đó khóc, không biết làm chi hết!".

Với tư cách Trưởng Ban Nội chính TƯ, ông Nguyễn Bá Thanh tuyên bố: "Sắp tới tôi sẽ rà vô một số cái (của lĩnh vực ngân hàng - PV), cho "hốt liền", không nói nhiều. Cho nên một số ông giờ đang ngồi run. Mấy cái đó ông lãnh đạo kiểu gì? Ông có phải học sinh mẫu giáo đâu, ổng quá trời lãi nhưng vẫn cố tình làm như thế để kiếm chác. Đó là ăn mà còn phá nữa nhưng chả ai nói gì!".
Khi nhắc chuyện mấy ngày qua, dư luận xôn xao về kết luận của Thanh tra Chính phủ về sai phạm đất đai ở Đà Nẵng với con số được công bố trên 3.400 tỉ đồng, ông Nguyễn Bá Thanh cho rằng: “Chuyện này cứ bình tĩnh giải trình lại với thanh tra, giải trình lại với cơ quan chức năng để hiểu và thông cảm với điều kiện của thành phố như vậy”.

           Từ ngày 2/1,  Ban Nội Chính Trung ương chính thức đi vào hoạt động,  sự kiện đang được rất nhiều người dân trên cả nước quan tâm chú ý.
  Những niềm tin, sự kỳ vọng vẫn tiếp tục được gửi tới tân Trưởng ban Nguyễn Bá Thanh, như bà Bùi Thị An – Đại biểu QH TP. Hà Nội chia sẻ: “Tôi hy vọng đồng chí Nguyễn Bá Thanh với những kinh nghiệm trong đó bao gồm cả những thành công và cả sự va vấp trong quá trình lãnh đạo Nhân dân và Đảng bộ Đà Nẵng vững mạnh sẽ tiếp tục phát huy trên cương vị mới. Đó là người có bản lĩnh và sẽ thể hiện được khả năng của mình trong tầm vĩ mô hơn”.

Cũng như độc giả Bùi Hải đã viết: “Thanh “Thượng phương bảo kiếm” ấy, nếu có, đó chính là bản – thân – ông, chứ không phải một công cụ nào khác. Kinh nghiệm, sự dày dạn, sự cứng cỏi của ông chính là đế kiếm.
Sự sắc sảo, quyết liệt đến cùng, có phương pháp khoa học trong đấu tranh chống tham nhũng của ông, sẽ là lưỡi kiếm sắc bén.
Một thanh kiếm thật vua ban, dù là bảo vật, thì càng dùng nhiều sẽ càng mẻ, cùn, hỏng. Sức bền vật liệu luôn có giới hạn.
Nhưng thanh kiếm làm bằng tài năng, đạo đức, ý chí, phương pháp khoa học của con người, thì rất có thể, càng dùng nhiều càng sắc bén. Sức mạnh đạo đức, ý chí, niềm tin, uy tín thì ngày càng lan tỏa và nhân lên”
.(gdvn)
----------------------------------
*        *        *

Những chia sẻ 
sau ngày đầu tiên hoạt động 
của Ban Nội chính Trung ương
“Thành uỷ, tỉnh uỷ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng là phải hơn Ban chỉ đạo cấp tỉnh, TP về phòng chống tham nhũng hiện nay”, ông Phạm Anh Tuấn nói.

Chiều tối 1/2, trao đổi với Giáo dục Việt Nam về ngày làm việc đầu tiên của Ban Nội chính Trung ương, ông Phạm Anh Tuấn – Phó Trưởng ban này cho hay:
“Trong chiều ngày 1/2 – ngày đầu tiên Ban Nội chính Trung ương hoạt động, Ban Nội chính Trung ương đã có buổi chuyển giao 22 cán bộ, công chức của Vụ Nội chính và Vụ Pháp luật thuộc Văn phòng Trung ương Đảng về Ban.

Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh
Trước đó, về mặt tổ chức nhân sự, ngày 31/1, đã chuyển 86 cán bộ, nhân viên của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng sang Ban Nội chính Trung ương. Như vậy về mặt cơ học, Ban Nội chính Trung ương có 108 cán bộ, công chức không tính lãnh đạo Ban”.
Ông Tuấn chia sẻ: “Cũng trong ngày đầu, toàn Ban tập trung cao độ cho phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng vào ngày 4/2. Đó cũng chính là ngày chính thức ra mắt Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và cũng là ngày ra mắt cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng là Ban Nội chính Trung ương”.
Khi được hỏi về lý do không lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh, TP về phòng chống tham nhũng, ông Phạm Anh Tuấn giải thích: “Không phải là chúng ta không tổ chức việc phòng, chống tham nhũng cấp tỉnh mà để tiếp tục nâng cao hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị có giao nhiệm vụ này trực tiếp cho các Thành uỷ, tỉnh uỷ.

Phó Trưởng Ban Nội chính T.Ư Phạm Anh Tuấn.

Điều này thể hiện rằng Thành uỷ, tỉnh uỷ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng phải hơn Ban chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố về phòng chống tham nhũng như trong thời gian vừa qua”.
Cũng theo ông Phạm Anh Tuấn, quyết định thành lập Ban Nội chính các Thành uỷ, tỉnh uỷ là quyết định của Bộ Chính trị. Và Ban Nội chính các Tỉnh, Thành uỷ cũng làm việc với tư cách là cơ quan tham mưu cho Thành uỷ, Tỉnh uỷ về những chủ trương chính sách lớn trong lĩnh vực nội chính.
Đồng thời là cơ quan thực hiện nhiệm vụ chuyên trách về công tác phòng, chống tham nhũng. Ở đây không có chỗ trống, không bị ngắt quãng trong công tác phòng, chống tham nhũng. “Đây là một bước tiến chứ không phải bước lùi trong công tác phòng, chống tham nhũng”, ông Phạm Anh Tuấn khẳng định.

6 nhóm nhiệm vụ của Ban Nội chính Trung ương
Thứ nhất là nghiên cứu, đề xuất những quan điểm, định hướng lớn của Đảng về công tác xây dựng pháp luật (trọng tâm là những đề án liên quan đến lĩnh vực nội chính và PCTN); một số chủ trương, chính sách về an ninh quốc gia và PCTN; về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nội chính (được xác định gồm VKS, tòa án, tư pháp và các cơ quan có chức năng tư pháp trong công an, quân đội) và Hội Luật gia VN, Liên đoàn Luật sư VN. Cũng trong nhóm này, Ban Nội chính có nhiệm vụ đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN cho chủ trương, định hướng xử lý một số vụ việc, vụ án.
Thứ hai là hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc các cấp ủy, tổ chức đảng trong lĩnh vực nội chính; phối hợp kiểm tra, giám sát hoạt động ở các cơ quan nội chính và hai tổ chức xã hội nghề nghiệp đã đề cập. Phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn xử lý một số vụ việc, vụ án được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN giao.
Thứ ba là nhiệm vụ thẩm định các đề án về lĩnh vực nội chính và PCTN trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Thứ tư, Ban Nội chính Trung ương sẽ tham gia ý kiến trong việc bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật với các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý trong các cơ quan nội chính theo phân công, phân cấp, bao gồm cả việc bổ nhiệm kiểm sát viên cao cấp, thẩm phán TAND Tối cao.
Thứ năm, Ban Nội chính Trung ương thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN.
Thứ sáu, Ban sẽ thực hiện một số nhiệm vụ khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao.

(GDVN)
--------------------------

> XẤU HỔ, NHỤC !

MỘT THỰC TẾ ĐÁNG XẤU HỔ
* NGUYỄN QUANG LẬP
Đọc bài :“Trí thức Hà Nội mong được tạo điều kiện phản biện” (tại đây) mình hơi bị sốc. Đọc kĩ bài thì thấy không ai nói câu đó cả, chỉ cho hai người nói, một là nhà thơ Bằng Việt, hai là ông hiệu trưởng Phan Lê Hòa, nhưng dù nói năng nhạt nhẽo hai người này không nói như vậy. Cũng có thể trong cuộc gặp gỡ đầu xuân của lãnh đạo Hà Nội với “đại diện trí thức Hà Thành”, toàn bộ cuộc gặp gỡ đã toát lên cái ý đó nên tác giả Chu Hoàng đã giật tít vậy chăng?
Nếu đúng vậy thì hèn quá, kém quá, xấu hổ quá! Mấy ông đó không thể đại diện cho trí thức Hà Thành được đâu, không bao giờ!
Phản biện là quyền con người, ấy là quyền mở miệng hà cớ gì phải xin? Ở một Đất nước mà tự do ngôn luận xếp thứ 172 trong 179 quốc gia thì đợi chính quyền cho phản biện rất chi là không tưởng, nó cho thấy cái sự xin- cho, ý thức ” mọi việc có đảng lo” đã thấm vào máu của đám trí thức giả cầy này rồi.
Phản biện là quyền con người, là đạo đức của trí thức, cho nên trí thức phải đòi cho được, giành cho được cái quyền ấy các vị “đại diện trí thức Hà Thành” ơi!
Bài báo làm mình nhớ cuộc phỏng vấn mình của ông Đào Tuấn cách đây vài tháng. Nay đăng lại cho bà con coi, cũng là lời nhắn gửi tới mấy ông gọi là “đại diện trí thức Hà Thành” kia.
- Nhiều ý kiến coi phản biện chỉ là “nói ngược”, thậm chí còn suy diễn thêm động cơ “để được nổi tiếng”, theo ông, phản biện là thế nào và nó có ý nghĩa thế nào đối với hai chữ ý thức. Theo ông, phản biện xã hội có phải là một vai trò không thể thiếu của trí thức?
> NQL:Tôi nghĩ phản biện là phản ứng tự nhiên của con người có ý thức trước mọi vấn đề anh ta gặp phải, do đó phản biện là nhu cầu của cuộc sống giúp hoạt động của con người đúng đắn hơn, chất lượng hơn. Rõ ràng phản biện là một hoạt động khoa học của con người có ý thức, biết tư duy. Tự bóp nghẹt hoặc bị bóp nghẹt ý thức phản biện sẽ làm cho tuy duy bị đình trệ hoặc lệch lạc, chứng điên cũng từ đây mà ra.
Từ phản biện của con người cá nhân ta dễ dàng thấy phản biện xã hội. Ở đây tôi thích ý kiến của Nguyễn Trần Bạt: “Nếu một xã hội không có phản biện và mỗi hành động đều được đương nhiên tiến hành thì đấy là cách thể hiện rõ rệt nhất tính chất phi dân chủ của xã hội.”
Theo đó ta thấy cố tình nói ngược để được nổi tiếng không phải là hành động khoa học của phản biện, nó là trò chơi vô lối của những người thân kinh không bình thường. Những ai coi phản biện chỉ là chỉ thích nói ngược để được nổi tiếng cũng là người có thần kinh không bình thường.
- Trong cuộc tranh luận hồi đầu năm, có một thuật ngữ đã được đưa ra: “Trí thức trùm chăn”. Theo ông, hiện tượng này có thể lý giải thế nào từ vấn đề tự thân của người trí thức, và các nguyên nhân khác?
NQL: Phản biện là hoạt động khoa học thường xuyên của trí thức trong môi trường chuyên môn của anh ta, giúp cho anh ta ngày càng tiệm cận đến chân lý. Ai không biết phản biện kẻ đó không phải là trí thức.
Phản biện xã hội là đạo đức của trí thức để thể hiện quyền công dân và ý thức xã hội của anh ta. Vì trí thức là người có học, tiếng nói của anh ta rất được xã hội coi trọng và chú ý nên phản biện xã hội là nghĩa vụ của anh ta, khi xã hội cần tiếng nói phản biện anh ta phải lên tiếng. Trí thức từ chối hoặc né tránh nghĩa vụ đó gọi là trí thức trùm chăn.123
Cho rằng mình lo công việc chuyên môn cho tốt là được rồi, mọi việc có đảng và nhà nước lo là lý lẽ của những ai không phải trí thức hoặc của trí thức trùm chăn. Trí thức trùm chăn tất nhiên là rất đáng khinh bỉ.
Việc phản biện của giới trí thức hiện nay phải chăng là đang rất yếu ớt, một diễn đàn công khai, một sự tự do nhất định trong phản biện, hay điều gì sẽ khiến người trí thức có thể mạnh dạn đóng góp chất xám và kiến thức của mình cho xã hội, cho đất nước?
NQL: Câu hỏi thực dễ trả lời nhưng khó nói, bởi vì ta chưa có môi trường cho phản biện phát triển. Trí thức muốn phản biện phải bước qua sợ hãi. Có 50% trí thức nước ta không dám bước qua sợ hãi, 49,9999% trí thức không dại gì phản biện, họ cần vinh thân phì gia hơn là phản biện. Chỉ còn 0,00001% trí thức dám bước qua sợ hãi để phản biện. Đó là một thực tế đáng xấu hổ.
Phần còn lại của câu hỏi tôi xin nói thẳng thế này: Nếu chúng ta còn coi tự do ngôn luận là không có lợi và nguy hiểm thì chớ có nói đến một diễn đàn công khai cho trí thức phản biện, nó rất viễn vông.
NQL
(Theo quechoa)

> BẢN LĨNH TRÍ THỨC, VĂN NGHỆ SĨ

Giới trí thức thanh phố Hồ Chí Minh bày tỏ thái độ
bảo vệ công lý, hòa bình, chủ quyền đất nước
* BÙI VĂN BỒNG
Hơn 3 tuần trước, nhà báo Võ Văn Tạo đã viết bài “Hiện tượng Kim Chi”. Theo bài báo: “Một ngày sau khi lá thư gửi hội Điện ảnh Việt Nam của nữ diễn viên khóa 1 - đạo diễn điện ảnh Nguyễn Thị Kim Chi, cảm ơn Hội quan tâm, nhưng từ chối làm hồ sơ nhận bằng khen của thủ tướng, với lý do xác đáng: “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo Đất nước, làm khổ Nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác bị xúc phạm” .
Dư luận khắp nơi trong và ngoài nước, trong đó có nhiều trí thức, văn nghệ sĩ tên tuổi và trung chính đã bày tỏ kính phục, ngưỡng mộ nhân cách cao cả, khí phách phi thường của nghệ sĩ Kim Chi. 
          Tác giả đã có những lý giải đúng khi viết về “Hiện tượng Kim Chi”. Thực tế, hiện tượng bất bình, phản ứng với nạn tham nhũng, dối trá, độc đoán chuyên quyền của "bộ phận lớn" trong Đảng đã rất phổ biến đối với đa số người Việt trong và ngoài nước. Tôi không muốn coi việc làm của nữ nghệ sĩ điện ảnh Kim Chi là một “hiện tượng” mà đây chính là BẢN LĨNH, lòng dũng cảm, thái độ dứt khoát, cương trực và thẳng thắn bộ lộ chính kiến của mình trước cuộc sống và thực trạng xã hội hiện nay.  
             Tương tự, gàn 4 năm trước, ở Ba Lan có một nghệ sĩ cũng tỏ rõ bản lĩnh như vậy. Đó là nghệ sĩ dương cầm hiện đại nổi tiếng Zimerman. Ông là  người Ba Lan sống ở Thụy Sĩ, đã đoạt giải nhất cuộc thi quốc tế mang tên Frédéric Chopin vào năm 1975. Trong buổi trình diễn ngày 27/4/2009 tại Cung hoà nhạc "Walt Disney Concert Hall" ở Los Angeles, ông đã lên án việc tù nhân bị tra tấn tại Guantanamo và kế hoạch xây dựng lá chắn chống hoả tiễn của Mỹ tại Ba Lan. Mặc dù được thính giả Mỹ ái mộ rộng rãi, Zimerman nói "tôi không muốn chơi nhạc ở một đất nước mà quân đội muốn kiểm soát toàn thế giới". Tờ "Los Ageles Times" cho rằng Ziermen "tẩy chay" Mỹ, vì ông nói đây là chuyến lưu diễn cuối cùng tại Mỹ. Ông cũng nói, ông lên tiếng không phải với tư cách của người nghệ sĩ mà trước hết là của một con người.
          Zimmerman nói đúng, đã là con người dù bất cứ cương vị, nghề nghiệp nào sông phai rbiết ngửng cao đầu, nhận diện những gia strị đích thực, phân biệt tốt-xấu, chính-tà trong cuộc sống. Nhà cách mạng Pháp thế kỷ thư 18, Jean Paul Marat đã để lại câu nói bất hủ: “Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống!”.Ông là trí thức chân chính và đầy khí phách. Ông là  một nhà khoa học có tài, đồng thời nhà lý luận chính trị trong cuộc đại cách mạng Pháp thời kỳ đó. 

Điện hoa từ miền Nam gửi ra tỏ lời khâm phục
bản lĩnh của nghệ sĩ Kim Chi

          Không riêng nghệ sĩ Kim Chi, mà trong mấy năm gần đây, một hiện tượng “phi truyền thống” là đã có nhiều nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ từ chối các giải thưởng để phản đối sự gian lận, những trò dịch vụ thực dụng kiểu xôi thịt, “tiền tệ hóa” trong xét giải thưởng, phản đối Ban tổ chứcm ban giám khảo giải, cũng là tỏ thái độ dứt koát, trực diện chống lại sự thiếu công bằng do những tiêu cực xã hội gây ra.
          Đó thực sự là bản lĩnh sóng. Đó thực sự là tư duy cách mạng. Đó thực sự là quan điểm, chính kiến rõ ràng, minh bạch trong cuộc sống.
          Trên các phương tiện truyen fthông mấy năm qua, ai cũng thấy sự nổi trội đáng nể của giới trí thức thành phố Hồ Chí Minh. Họ đã cố kết lại với nhau, thông snhất về quan điêm rvà bản lĩnh sống, bảo vệ những gia strị tốt đẹp của cuộc sống xã hội, bảo vệ nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Giới trí thức T.p HCM đã gửi nhiều kiến nghị tới Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ về những vấn đề chiến lược Bảo vệ, Xây dựng, Phát triển đất nước, về phòng-chống tham nhũng, về bảo vệ chủ quyền biển đảo, lãnh hải, về những trường hợp bị bắt oan sai do đấu tranh cho công bằng, lẽ phải, và hiện nay  là Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp đã có gần 3.000 chữ ký; ...
          Trong khi đó, ở Hà Nội và nhiều thành phố, địa phương khác, những hoạt động của “lực lượng tinh hoa, trí tuệ” trong trí thức, văn nghệ sĩ còn rất mờ nhạt, chưa rõ bản lĩnh để bày tỏ quan điểm, chính kiến, thái độ và nhất là trực góp ‘chất xám’, ý kiến, kiến nghị về những vấn đề cấp bách liên quan đến người dân, lợi ích quốc gia, dân tộc.
Ngày 31/1 mới đây, phát biểu tại cuộc gặp mặt đầu năm mơi vơi lãnh đạo thành phố Hà Nội, nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Liên hiệp Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội, cho biết các thành viên trong hội cũng như giới văn nghệ sĩ luôn nhiệt tình đấu tranh cho một thủ đô văn minh, chống những biểu hiện tha hóa trong xã hội. Ông nó: "Trí thức, văn nghệ sĩ ý thức rõ vai trò giám sát và phản biện xã hội trong khuôn khổ các chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc, mong thành phố tạo điều kiện tổ chức những diễn đàn để chúng tôi được phát biểu thẳng thắn, chân thành ý kiến về các vấn đề về xây dựng Đảng, chính quyền của dân, do dân, vì dân, dân chủ cơ sở, giúp thành phố bảo đảm các chính sách ban hành ra hợp lòng dân, góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh xã hội". Giáo sư Trần Hữu Dũng bình: Đây là quyền của trí thức, văn nghệ sĩ, phải “Đòi”, chứ không phải chỉ đề xuất “Mong” nữa! 
Đúng thế, đó là quyền con người, quyền công dân, chính quyền có trách nhiệm phải tôn trọn quyền cơ bản đó, mắc mớ gì phải hạ cố xin xỏ?
          Một bài viết mới đây đã đăng tải trên nhiều trang mang đã đưa thông tin bàn về vai trò, bản lĩnh  của trí thức, văn nghệ sĩ đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước, của xã hội.  Người ta nói rằng: Danh sách những người ký tên phản đối dự án Bauxite Tây Nguyên dường như vắng bóng các khuôn mặt từ giới nghệ sĩ sân khấu-điện ảnh và showbiz của VN. Rằng:  "Họ không biết gì về bản kiến nghị, hay là vô cảm trước số phận của mảnh đất Tây Nguyên?". Hậu quả nặng nề của dự án khai thác bauxite giờ đây đè nặng lên vai của nhân dân trước hết thuộc trách nhiệm những người điều hành đất nước đã đành, nhưng có cả phần trách nhiệm của giới tinh hoa. Chính vì tinh thần phản kháng của giới tinh hoa nói riêng và của xã hội nói chung chưa đủ mạnh, nên ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn "triều kiến" (chữ của tờ "Finance Times") Trung Quốc món thầu trọn gói với số tiền đầu tư được thông báo dưới 10 ngàn tỷ đồng (khoảng 500 riệu USD) để không quá mức phải được quốc hội chấp thuận. Thế nhưng trong tiến trình thi công đã phải đầu tư bổ sung hàng trăm triệu đôla cho các hạng mục cơ sở hạ tầng không được (?) đưa vào dự toán, đến nay vẫn tiếp tục nảy sinh bê bối, ước tính mỗi năm lỗ 35 triệu đôla và không bao giờ có lãi! 


          Điều đó khiến dư luận rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân: Tình trạng bàng quan với chính trị, mũ ni che tai, chỉ chăm chú tỉa tót bộ lông cánh của mình, thậm chí hạ thấp nhân cách tới mức lố bịch, là lối sống bao trùm lên giới có học thức, văn nghệ sĩ và showbiz ở VN. Có những vị trí thức, văn nghệ sĩ khá là danh tiếng, nhưng lại cúi gập người, dáng xun xoe khi bắt tay lãnh đạo hoặc nhận bó hoa, nhận tặng thưởng do lãnh đạo trao. Nhân cách của một trí thức, văn nghệ sĩ chân chính, có tâm có tầm không bao giờ có tác phong, cử chỉ không đĩnh đạc đàng hoàng, thấp hèn và kém tự trọng như thế. Cho nên, cũng nhắc lại câu nói bất hủ của nhà khoa học, nhà cách mạng Pháp, Jean Paul Marat: “Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống!”.
          Hiện nay, nước ta đã có một đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ đông đảo, nhiều tài  năng, trí tuệ. Trong xã hội vẫn còn không ít kẻ ngu dốt, bất lương nhưng có chức quyền vẫn sống và tiến thân bằng cái  đầu người khác. Trí thức, văn nghệ sĩ sống bằng cái đầu, bằng tài năng nghệ thuật của chính mình, cần có bản lĩnh, chính kiến, không nên e sợ hoặc chịu sự sai khiến vì mục đích cá nhân của cường quyền. Tiếng nói thẳng thắn hiếm hoi của nghệ sĩ (NS) Kim Chi có sức lan tỏa, thức tỉnh xã hội, được dư luận cảm phục, trân trọng. Đó là BẢN LĨNH SỐNG, là lập trường, quan điểm của người cách mạng chân chính.
BVB
------------------------
+ Bài liên quan
> Bằng khen bằng khều:
http://bvbong.blogspot.com/2013/01/bang-khen-bang-kheu.html

> Cái giá của sự bất công bằng

(Về giai cấp “siêu giàu” mới nổi)

* Trần Hữu Dũng
          Một trong những sự kiện gây nhiều phản ứng trên thế giới trong vài năm gần đây (nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008) là sự phân hoá thu nhập ngày càng rộng ra ở một số quốc gia, cụ thể là Trung Quốc, Nga, Brazil, Ấn Độ, và ngay cả Mỹ.  Thiểu số giàu có thì càng giàu hơn cực nhanh, đến độ “khủng”, còn đa số trung lưu và nghèo thì hoặc là chững lại, hoặc là nghèo hơn.  Ở Mỹ chẳng hạn, trong hai năm 2009-2010, khi mà thu nhập bình quân của 99% gia đình Mỹ chỉ tăng lên 0,9% thì thu nhập của 1% giàu nhất tăng lên 11,6%!  Một điều đáng lưu ý nữa là trong năm quốc gia có nhiều tỷ phú (đô la) nhất thế giới (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Đức, Ấn Độ) thì hai nước vẫn còn tự xưng là “xã hội chủ nghĩa”, và hai nước vẫn còn được xem là đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ).

Sự gia tăng bất công bằng thu nhập này đã gây ra nhiều làn sóng công phẫn ở các quốc gia liên hệ, không những từ thành phần xã hội bị “bỏ lại phía sau”, như phong trào “chiếm Wall Street” ở Mỹ năm 2011, và nhiều hội đoàn tiến bộ khác, mà còn được sự chú ý của nhiều học giả, nhà nghiên cứu nổi tiếng (ví dụ như nhà kinh tế Joseph Stiglitz,[1] nhà báo Timothy Noah,[2] Chrystia Freeland[3]...). Nhiều bình luận gia (ví dụ như Jonathan Chait) cho rằng cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa qua có biểu hiện của một “chiến tranh giai cấp” trong đó giai cấp trung lưu và nghèo của Mỹ mà đại diện là Obama đã đánh bại giai cấp cực giàu của Mỹ mà Romney là đại diện.

Tại sao có những người “siêu giàu”? 
Chủ đích bài này không là những người đã cực giàu từ lâu (như các vua chúa ở các vương quốc dầu hoả Á Rập, hay những lãnh tụ độc tài ở một số quốc gia). Ngoài ra, cũng phải nhìn nhận rằng nguồn gốc của những người siêu giàu mới nổi ở mỗi nước một khác.[4]  Tuy nhiên, nói chung, vài lý do chính (mà độ chính xác sẽ được thẩm định) của sự xuất hiện những người “siêu giàu” thường được viện dẫn là như sau:
Ở một thái cực, một số (tương đối rất ít) trở thành siêu giàu vì tài năng (kể cả tài tổ chức), sáng kiến xuất chúng (có thể thêm chút may mắn) của họ. Đây là cách giải thích của kinh tế học hàn lâm chính thống phương Tây. Nói đến những người này thì ta nghĩ ngay đến những nhân vật nổi tiếng như Bill Gates, Steve Jobs, Mark Zuckerberg...  Ở thái cực đối nghịch là những người siêu giàu nhờ những hoạt động bất hợp pháp (tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu..) 
Song nhìn kỹ thì cách phân loại trắng đen như trên là chưa đủ ngọn ngành.  Như Stiglitz cho thấy, tài sản kếch xù của Bill Gates, chẳng hạn, không phải chỉ nhờ vào tài năng (dù quả là xuất chúng) của ông ta nhưng phần lớn là nhờ vào vị trí độc quyền (hoặc hầu như độc quyền) của công ty Microsoft sau khi ông thành lập nó.  Chính sự độc quyền này đã đưa Bill Gates từ hạng cực giàu lên hàng cực siêu giàu.  Công ty Apple của Steve Jobs cũng thế.  Mỗi năm những công ty này bỏ ra hàng tỷ đô la trong các vụ kiện tụng để giữ độc quyền cho một sản phẩm nào đó (kể cả bằng sáng chế) của họ. Tất nhiên, những hoạt động này là hoàn toàn hợp pháp, song chúng chứng tỏ họ đã nhân tài sản của họ lên hàng trăm, hàng nghìn lần bằng cách lợi dụng, khai thác (những khe hở) thể chế và luật pháp, thậm chí uốn nắn thể chế và pháp luật (qua việc “lobby”) theo hướng có lợi cho họ. 
Mặt khác, khách quan mà nói, cũng phải công nhận rằng những người siêu giàu nhờ tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu, cũng có một cái tài nào đó, dù cái “tài” ấy chỉ là những mánh khoé luồn lách pháp luật, mua chuộc quan chức, lập vây cánh, khuynh đảo thị trường.  Một điều nữa là dù tài sản này có nguồn gốc bất chính, những người (tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu...) này (hoặc gia đình họ) đã “rửa” tài sản ấy qua những hoạt động kinh doanh hợp pháp (nhất là bất động sản, ngân hàng). Nói khác đi, nhìn thoáng qua tài sản của nhiều người “siêu giàu” hiện nay thì có thể cho rằng nó hợp pháp, nhưng nếu truy ngược về quá khứ thì nguồn gốc của nó là phi pháp.  Tài sản đã là khá to lớn từ những hoạt động rõ ràng là phi pháp đã được nhân ra hàng trăm, hàng nghìn lần qua những hoạt động hợp pháp, biến họ từ những người giàu phi phápthành những người siêu giàu hợp pháp...  Đi sâu thêm một bước, thử xem cách thức mà những người này “nhân” ra những tài sản ấy là ra sao? Đại đa số là nương nhờ vào những quan hệ cá nhân, những lỗ hổng trong luật pháp.  Đó là không nói đến việc chính họ có thể chủ động “lobby” để nhà nước ra những luật lệ có lợi cho họ. Như Stiglitz nhận xét, dù ngoài mặt thì những thế lực kinh tế đã tạo nên sự bất công bằng thu nhập, nhưng chính chính sách của nhà nước đã tạo nên các thế lực kinh tế ấy.  Phần lớn sự bất công bằng hiện nay là hậu quả của những gì mà nhà nước đã làm, và cũng là hậu quả của nhiều việc mà nhà nước không làm.
Một nguồn gốc nữa của sự siêu giàu là do tích cực khai thác sự thiếu kém thông tin của đa số những người khác.  Chẳng hạn như giới ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản ở Mỹ đã trở nên cực giàu nhờ “nghĩ ra” những công cụ tài chính, bảo hiểm, những loại chứng khoán vô cùng phức tạp, không ai hiểu nỗi.[5]
          Cũng nên để ý rằng các nguồn gốc khác nhau của sự “siêu giàu” này có “liên hệ hữu cơ” với nhau, đặc biệt là với tham nhũng: trong nhiều trường hợp, tham nhũng cho một cái “vốn” để những người giàu trở thành cực giàu (một cách hợp pháp). Và chính những người cực giàu này khuyến khích, mớm đút, tạo cơ hội tham nhũng ở những người khác.
          Gần đây ở Việt Nam hai ý niệm “tham nhũng” và “nhóm lợi ích” thường được ghép chung.  Điều này không hoàn toàn đúng.  Theo nguyên ngữ thì “nhóm lơi ích” là một tập họp của những người có cùng quyền lợi kính tế, hợp lực với nhau để bảo vệ, tranh đấu cho quyền lợi ấy.  Đó là một hiện tượng đương nhiên, tự nó không có gì là xấu (chẳng hạn, xét cho cùng, công đoàn để bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cũng là một nhóm lợi ích chứ gì?).  Song khi các nhóm lợi ích thông đồng, cấu kết với tham nhũng  ̶  trong đó tham nhũng dựa vào đòn bẫy của nhóm lợi ích để tác động đến nền kinh tế, đến xã hội, và vâng, đến thể chế chính trị nữa.. .̶  thì sự nguy hại của tham nhũng được nhân lên nhiều lần.  Không những thế, khi tham nhũng có được một nhóm lợi ích làm hậu thuẫn thì dù vài cá nhân tham nhũng có sa vào vòng lao lý, nhóm lợi ích đàng sau những người ấy vẫn còn đó, tác hại của nó vẫn tiếp tục.
          Kinh tế thị trường là một trò chơi cực kỳ phức tạp và những người thắng cuộc chơi ấy hẵn là khôn lanh ít nhiều hơn người khác.  Song những người thắng cuộc cũng thường có những bản chất không đáng ngưỡng mộ: khả năng luồn lách pháp luật, hoặc uốn nắn pháp luật theo cách có lợi cho họ, sự sẵn sàng lợi dụng kẻ khác – ngay cả những người nghèo; và chơi những trò “bẩn”, nếu cần.

Ảnh hưởng kinh tế của sự cực giàu
Cho đến gần đây, khi bàn về vấn đề chênh lệch thu nhập, giới kinh tế chính thống thường chỉ nói đến ảnh hưởng của nó đến tốc độ tăng trưởng vĩ mô. Những người theo phái thị trường tự do (hay “tân phóng khoáng” – neoliberalism) thì cho rằng bất công bằng thu nhập, dù tự nó không phải là tốt, là đáng cổ vũ, cũng là một tiền đề khó tránh của một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh: những nguời giàu sẽ có xu hướng đầu tư nhiều hơn...  Nói cách khác, dù tầng lớp cực giàu có tích tụ tài sản của họ cách nào đi nữa (miễn là hợp pháp) thì họ cũng có ích cho xã hội vì nhờ họ mới có đầu tư, tạo công ăn việc làm cho lao động, đầu tàu cho sự tăng trưởng của cả nước. Chẳng những mức độ tài sản của họ là có ích cho xã hội, sự chênh lệch thu nhập cũng là cần thiết để phát triển bởi nó tạo động lực cho lao động (cả tay chân lẫn trí tuệ).  “Cào bằng” thu nhập thì còn đâu những khuyến dụ (incentive) để nỗ lực làm việc?  Nói cách khác, theo những người này, có sự đánh đổi không thể tránh giữa “hiệu quả kinh tế” và “công bằng thu nhập”.

Có ba cách phản biện quan điểm này
          Một là, quan điểm ấy dựa trên giả định là nền kinh tế có sự cạnh tranh hoàn hảo: ngay khoa kinh tế học chính thống cũng đã chứng minh từ lâu rằng chỉ trong một nền kinh tế như thế thì lợi ích cá nhân mới trùng hợp với lợi ích cộng đồng (nghĩa là, người thu được lợi ích cá nhân cũng đem lại lợi ích cho tập thể).  Trên thực tế, không nền kinh tế nào có một sự “cạnh tranh hoàn toàn” như thế: những sự méo mó (như độc quyền, chẳng hạn) sẽ khiến lợi ích cá nhân lớn hơn lợi ích tập thể, và những người theo đuổi lợi ích cá nhân không hẵn sẽ có ích cho tập thể.  Nói rộng ra, trong một nền kinh tế bị “méo mó” vì những “hoạt động tìm lợi nhuận trên bình thường” (rent seeking activity) thì những người được hưởng những khoản tư lợi khổng lồ không nhất thíết là những người có đóng góp lợi ích tương ứng cho tập thể.  
          Hai là, nhiều nhà tâm lý học, nhà khoa học xã hội (và thậm chí một số nhà kinh tế học) đã điều tra cặn kẽ để tìm xem cái gì là động lực lao động của con người, và họ khám phá rằng, ít nhất là trong nhiều trường hợp, giới kinh tế gia đã lầm khi cho rằng thu nhập là động cơ duy nhất. Đa số chúng ta thường làm việc hăng say hơn khi được thúc đẩy bởi những động lực nội tại (chẳng hạn như sự mãn nguyện khi làm một việc gì đó một cách hoàn hảo) hơn là bởi những phần thưởng đến từ bên ngoài (như lương tiền). Lấy một ví dụ, trong hai thế kỷ vừa qua, hầu hết các nhà khoa học góp phần nâng cao đời sống của nhân loại không phải vì họ theo đuổi tiền tài. Đó là điều may mắn cho chúng ta, bởi nếu những người xuất chúng ấy theo đuổi tiền tài thì họ đã trở thành chủ ngân hàng, kinh doanh bất động sản, mà không là nhà khoa học. Chính sự say mê tìm tòi chân lý, niềm vui của hoạt động trí tuệ, hạnh phúc tuyệt vời của khám phá, phát minh – và, vâng, sự ngưỡng mộ của đồng nghiệp  ̶  là quan trọng nhất đối với các nhà khoa học.
          Ba là, ngay trong trường hợp mà “thù lao” của những người cực giàu (nhất là trong giới tài chính, ngân hàng) là “kỷ lục” với lý do rằng mức độ thù lao ấy là cần thiết để những người này “cố gắng” hơn, nhiều nghiên cứu đã phát giác rằng cái “gói thù lao” kếch xù (làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng trong xã hội) đang được các đại công ty, các ngân hàng, quỹ đầu tư áp dụng, đã khiến những người này có những quyết định làm méo mó hơn, thay vì gia tăng hiệu quả của nền kinh tế.  Kinh tế học đã chứng minh rằng, vì thông tin và giám sát không bao giờ là đầy đủ, rất khó (gần như không thể) thiết kế một “gói thù lao” tối hảo (nhìn từ quan điểm quyền lợi cổ đông, đừng nói chi đến lợi ích toàn xã hội) cho lãnh đạo các ngân hàng, giám đốc các đại công ty.   
Ngoài những tác động (có thể gọi là vi mô) nói trên, sự cực giàu của một thiểu số còn có những ảnh hưởng vĩ mô tai hại: nó sẽ bóp méo tỷ lệ các loại hàng nhập khẩu. Những người cực giàu, với sức mua lớn, sẽ làm tăng nhu cầu nhập khẩu những món hàng xa xỉ (xe xịn, hàng hiệu).[6]  Việc này sẽ làm giảm giá trị nội tệ, và làm mắc hơn những loại hàng nhập khẩu mà đa số người tiêu dùng là có thu nhập thấp.

Ảnh hưởng xã hội của tầng lớp “siêu giàu” mới nổi
Đối với một số chế độ (như ở Trung Quốc) thì tình trạng cực kỳ bất bình đẳng có một hậu quả tai hại duy nhất là gây bất ổn trong xã hội, hăm doạ sự tồn tại của chế độ ấy. Nhận định này là đúng nhưng chưa đủ

● “Thu nhập tương đối” và “hạnh phúc con người”
          Gần đây, một số nghiên cứu đã phát hiện rằng hạnh phúc con người còn tuỳ vào thu nhập tương đối (ngoài mức thu nhập tuyệt đối để thoả mãn những nhu cầu sinh tồn). Thu nhập càng chênh lệch thì những người có thu nhập trung bình, hoặc thấp, càng thấy “kém hạnh phúc”.  Tình trạng này càng trầm trọng khi những người có thu nhập cao lại thích phô trương, hào nhoáng, khiến những người có thu nhập kém hơn họ phải ganh tỵ, thèm muốn.   
Một ảnh hưởng nữa là ở cơ hội tiến thủ của những người xuất thân từ gia đình có thu nhập thấp: Họ sẽ thất vọng, nản chí khi thấy rằng chỉ con cái nhà giàu là có nhiều cơ hội học trường giỏi (và nếu nước họ là chậm tiến thì sẽ được xuất ngoại du học).  Sau khi tốt nghiệp thì những “con cái nhà giàu” này tất nhiên sẽ ưu tiên có những địa vị béo bở trong xã hội, cho họ cơ hội làm giàu thêm. Cứ như thế, sự bất bình đẳng trong xã hội sẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

● Bất bình đẳng thu nhập và đời sống văn hoá 
Trong một xã hội cực kỳ bất bình đẳng, và nhất là khi tài sản của những người cực giàu là phi pháp, hoặc những người này thiếu căn bản văn hoá, phô trương sự giàu có của mình một cách vô ý thức, thì đời sống văn hoá của toàn xã hội cũng sẽ bị xấu đi: Những lối ăn chơi phù phiếm, sa đoạ, xa xỉ, đua đòi hàng hiệu nhập khẩu (nhất là khi lối sống này không bị kết án mà còn được các phương tiện truyền thông đại chúng quảng bá, trầm trồ ngợi khen), sẽ cuốn hút toàn thể xã hội vào con đường ấy, ngày càng lệch xa những lối sống văn minh thật sự.

Phải làm gì?
Có những người cực đoan cho rằng sự xuất hiện của tầng lớp siêu giàu mới nổi là một hiện tượng tự nhiên, thậm chí có lợi cho xã hội, và những ai chống lại hiện tượng này chỉ là những kẻ ganh tỵ xấu nết... Theo những người cực đoan này, nhà nước không cần làm gì cả. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, hiện tượng siêu giàu mới nổi không phải là “tự nhiên” mà là hậu quả của sự khôn lanh khai thác những “lỗ hổng” của thể chế, của nền kinh tế, và gây nhiều hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho chính sự phát triển của quốc gia, và rộng ra là cho mức độ an sinh của tuyệt đại đa số trong xã hội.
          Đàng khác, không ai có thể khách quan mà nghĩ rằng thu nhập của mọi người trong xã hội đều phải như nhau. Một sự bất bình đẳng thu nhập nào đó là không thể tránh, thậm chí cần thiết. Vấn đề ở đây là sự xuất hiện một thiểu số cực giàu, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, mà thu nhập dù hiện tại có là hợp pháp, đã vượt quá xa tài sức và sự đóng góp của họ cho xã hội.
          Hầu hết các nhà lãnh đạo trên thế giới, từ tổng thống Mỹ Barack Obama đền nguyên tổng bí thư Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, đếu ít nhiều nghĩ rằng nhà nước cần can thiệp để làm giảm sự bất bình đẳng thu nhập trong xã hội.  Một chính sách cấp thời có thể là tăng suất thuế đánh vào người giàu (như ông Obama hiện đề nghị).  Tuy nhiên, như đã trình bày trong bài này, một chính sách dài hạn phải là chấn chỉnh những méo mó kinh tế (ưu tiên gỡ bỏ những độc quyền, đặc lợi, chế độ “xin/cho”, và tạo một sân chơi bình đẳng cho mọi người). Sự tái cấu trúc thể chế này sẽ cực kỳ khó khăn vì chắc chắn nó sẽ gặp sự kháng cự mãnh liệt, công khai lẫn ngấm ngầm, của giai cấp cực giàu hiện hữu (cấu kết thành các “nhóm lợi ích”) với những thế lực tài chính, kinh tế, và vâng, chính trị nữa, vô cùng to lớn của họ.  Một sự tái cơ cấu như thế chỉ có thể thành công nếu nó không bị ảnh hưởng của bất cứ nhóm lợi ích nào, nhất là trong một thực trạng mà những nhóm lợi ích ấy lại “tay trong tay” với tham nhũng.
21/12/2012
 T.H.D
(viet-studies)


[1] Joseph Stiglitz, 2012, The Price of Inequality: How Today's Divided Society Endangers Our Future,  New York: Norton
[2] Timothy Noah, 2012, The Great Divergence: America's Growing Inequality Crisis and What We Can Do about It, New York: BloomsburyPress.
[3] Chrystia Freeland, 2012, Plutocrats: The Rise of the New Global Super-Rich and the Fall of Everyone Else, New York: Penguin
[4] Một cuốn sách thú vị về tầng lớp siêu giàu mới nổi ở Nga là The Oligarchs: Wealth And Power In The New Russia của David Hoffman (New York: PublicAffairs, 2002)
[5] Tương truyền rằng chính ông Ben Bernanke, chủ tịch Fed của Mỹ, lúc mới nhậm chức cũng không hiểu nỗi tất cả những công cụ này, phải mời một chuyên viên ngân hàng đến giải thích cho ông!
[6] Nếu nhà nước cấm nhập khẩu chính thức những loại hàng này thì họ sẽ nhập khẩu qua những kênh bất hợp pháp, tạo thêm cơ hội cho tham nhũng.

> Nhiều chủ doanh nghiệp thành đạt chết đột ngột



(VnMedia) - Tin buồn từ những cái chết bất thường của nhiều giám đốc gây xôn xao dư luận trong một thời gian dài. Chết chưa phải là hết khi các "đại gia" để lại những dở dang vì nợ, đình trệ sản xuất, mối quan hệ làm ăn…
Trong năm 2012, cái chết bất thường của nhiều giám đốc doanh nghiệp gây xôn xao dư luận. Bởi, ở một góc độ nào đó, họ là những người nổi tiếng vì thành đạt, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm công nhân viên...Và đặc biệt, trong lúc tình hình chung của giới doanh nhân, cái chết của họ khiến cho nhiều tin đồn đoán về những khoản nợ. Trên thực tế cũng đã có những khoản nợ lộ ra sau khi người đã chết.
Giữa năm 2012, ngày 5/11, ông Nguyễn Điểm, Tổng giám đốc Procimex VN (gọi tắt Procimex VN, đóng tại KCN dịch vụ thủy sản TP.Đà Nẵng ) đột tử trong lúc tắm biển.
Sự ra đi đột ngột của ông Điểm khiến cho gia đình, bạn bè đau thực sự đau buồn. Tuy nhiên, cái chết của ông Điểm để lại những khoản nợ khá lớn.
Theo lời người kế nhiệm ông Điểm là ông Phạm Văn Dõng, đã được đăng tải trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, ông đã phát hiện nguồn vốn công ty bị thất thoát 25,36 tỉ đồng với nhiều dấu hiệu sai phạm về chữ ký, chứng từ.
Ngoài ra, Procimex VN đang nợ khoảng 14 tỉ đồng với danh sách chủ nợ dài 2 trang giấy, trong đó theo ông Dõng áp lực nhất là khoản nợ 4 tỉ đồng nguyên liệu cá do nhiều ngày qua ngư dân liên tục đến đòi nợ, còn lại là nợ nguyên liệu bao bì, than đá, điện…
Đến giờ người kế nhiệm của công ty này đang phải chật vật giải quyết dần các khoản nợ.
Ảnh minh họa
Ông Dõng chịu áp lực khoản nợ nhiều tỉ nguyên liệu cá của ngư dân

Cái chết mới đây nhất của ông Vũ Dương Bình, tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Cương Hoàng Bình (Thái Nguyên) đang là đề tài bàn tán không chỉ ở tỉnh Thái Nguyên. Bởi ông là chủ doanh nghiệp lớn nhất nhì tỉnh Thái Nguyên và từng nhiều lần nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt; doanh nghiệp nằm trong 100 thương hiệu mạnh nhất của Việt Nam.
Theo tin đã đưa, ngày 27/01/2013, ông Vũ Dương Bình được phát hiện đã chết trong nhà nghỉ Mai Đan tại Thái Nguyên.
Mặc dù ông Bình được rất nhiều người yêu mến, nhưng những tin đồn về nợ nần quanh cái chết của ông, ít ảnh hưởng tới hoạt động của công ty.
Theo dư luận đồn đoán, hiện công ty chè Tân Cương Hoàng Bình, làm ăn thua lỗ từ 2-3 năm trở lại đây, con số nợ của công ty chè đang gánh lên tới gần 50 tỷ đồng.
Một người họ hàng của ông Bình từng làm Bí thư Chi bộ tại công ty chè Tân Cương Hoàng Bình khẳng định, không có chuyện công ty chè làm ăn thua lỗ.  Công ty Tân Cương Hoàng Bình cũng có nợ số tiền lớn nhưng số tiền đấy được vay để xây các xưởng, mua máy móc chế biến chè nên không thể coi đấy là nợ được, những xưởng chè đó đang đi vào họat động và sinh lời. Bên cạnh đó, việc buôn bán gỗ của Bình làm ăn rất phát đạt nên không có chuyện ông Bình tự tử vì công ty chè phá sản.
Những cái chết bất thường khác
Hồi đầu năm 2012, giới doanh nhân tại Tp.HCM không khỏi thương sót cho trường hợp của ông Phạm Văn Ruyệt, giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Nam Thái Bình (TP.HCM).
Sự việc xảy ra vào ngày 10/2/2012, ông Phạm Văn Ruyệt (48 tuổi) được nhân viên phát hiện nằm bất động trong phòng làm việc và chết trên đường đi cấp cứu.
Khám nghiệm hiện trường cho thấy, xung quanh phòng nơi phát hiện ông Ruyệt nằm bất tỉnh có nhiều vết máu, trên cổ ông Ruyệt có vết cắt khá dài.
Cái chết bất thường khác được ghi nhận tại tỉnh Bình Dương vào ngày 23/6/2012.
Ông Nguyễn Thành Nhơn (50 tuổi, ngụ ở thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương) là giám đốc doanh nghiệp tư nhân Mai Trung, chủ đầu tư dự án khu công nghiệp Mai Trung (xã An Tây, huyện Bến Cát, Bình Dương).
Theo những người chứng kiến sự việc kể lại, khi phát hiện nhà ông Nhơn phát ra mùi hôi khó chịu, những người này đã bắt ghế nhìn qua hàng rào thì kinh hoàng phát hiện xác người đàn ông đang trong thời kì phân hủy nằm úp mặt dưới đất trước cửa nhà vệ sinh ngoài trời. Tại vùng mặt có một vũng máu đã khô cứng, phần đầu và tay chân bị cháy đen, thi thể bị phồng rộp nhiều nơi...
Vợ đại gia xấu số cũng xác nhận rằng, ông Nhơn mắc bệnh tiểu đường và chứng cao huyết áp khá nặng.

> CÔNG KHAI ĐỘC ĐOÁN, CHUYÊN QUYỀN

Hai nông dân bị kết án 
chỉ vì to tiếng với lãnh đạo xã (!?)
Qua vụ án ở xã Bình Định, huyện Lương Tài, Bắc Ninh:
CHÍNH QUYỀN CÔNG KHAI 
ĐỘC ĐOÁN, CHUYÊN QUYỀN
* Bùi Văn Bồng
              BVB  - “Tôi từng có nhiều năm làm ở VKSND tỉnh Hải Dương, đã từng chứng kiến nhiều vụ xét xử, nhưng đây là một trong những bản án thiếu căn cứ và thiếu lý lẽ thuyết phục nhất mà tôi từng biết. Một vụ việc chỉ đáng xử lý hành chính đã bị hình sự hóa”. 


Đó là ý kiến đầy thất vọng của Luật sư Nguyễn Thanh Bình sau khi nghe tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh y án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tuyên xử án bà Trần Thị Hà bị 12 tháng tù giam, Phạm Văn Quy 9 tháng tù giam, cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Vụ án này đã cố tình xử ép người dân, đầy oan khốc, khiến dư lụa bất bình. Cả bị cáo Hà và bị cáo Quy đều khẳng định giữa họ và ông Mạc cùng có lời qua tiếng lại, xúc phạm nhau sao chỉ xem xét, xử lý họ mà bỏ qua ông Mạc. Nếu như theo diễn biến vụ việc, người đáng phải nhận khuyết điểm trước dân là ông Nguyễn Văn Mạc - Phó chủ tịch UBND xã Bình Định chứ không phải ông Quy, bà Hà phải lĩnh án đi tù một cách oan sai như thế.

Việc người dân khiếu kiện đất đai là thực hiện quyền dân chủ chính đáng. Chính quyền địa phương phải có trách nhiệm tiếp dân, giải thích, giải quyết cho dân, tôn trọng quyền dân chủ của người dân. Ông Mạc không nhưng né tránh trách nhiệm, còn gây khó dễ, căng thẳng cho người dân, xét về tư cách và phương pháp công tác, có xứng làm Phó Chủ tịch UBND xã hay không? Ông Quy và bà Hà đi khiếu nại các quyết định thu hồi đất sai quy định của các cấp chính quyền địa phương. Ruồng ép, phủi tay để chiếm dụng đất của dân trai sphép hay sao mà hành xử như vậy?

Sự vô trách nhiệm và thái độ xử sự của ông Mạc đã làm cho ông Quy và bà Hà thất vọng bất bình, là nguyên nhân gây tranh cãi. Vậy mà quy chụp người dân tội “gây rối trật tự công cộng”, làm hồ sơ thụ lý vụ án thiếu khách quan, không trung thực, bản cáo trạng cũng áp đặt, cố tình khép tội người dân lương thiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm, cả bị cáo Hà và bị cáo Quy đều một mực khẳng định giữa họ và ông Mạc cùng có lời qua tiếng lại sao chỉ xem xét, xử lý họ mà bỏ qua ông Mạc. Hai bị cáo khẳng định không xúc phạm ông Mạc, ông Bình và ban công an xã với những lời lẽ nặng nề như cáo trạng đã truy tố. Trong vụ này, bản thân ông Mạc cũng rất to tiếng, tỏ thái độ không đúng mực khi ứng xử với công dân, đặc biệt ở trụ sở làm việc, thế nhưng ông này chỉ bị kiểm điểm.

Bào chữa cho hai bị cáo, luật sư Nguyễn Thanh Bình (Đoàn luật sư Hải Dương) cho biết: Trong số 100 lời khai được VKSND huyện Lương Tài dùng làm căn cứ để kết tội hai công dân, có tới 23 lời khai không có dấu đỏ của CQĐT, tức là không có cơ sở pháp lý. Ngoài ra trong biên bản điều tra, một số file ghi âm, ghi hình thể hiện khá rõ thái độ, lời nói của lãnh đạo xã Bình Định khi cãi nhau với bà Hà đã không được cả tòa sơ thẩm lẫn phúc thẩm đưa ra xem xét, đánh giá. Nhiều nhân chứng quan trọng không được tòa sơ thẩm và phúc thẩm triệu tập.

Đây là một trong nhiều vụ chính quyền địa phương vi phạm”Quy chế đan chủ cơ sở”, lộng quyền, ức hiếp người dân, thể hiện rõ sự xuống cấp, mất chất đã khá nặng nề của hệ thống hcính trị từ cơ sở trở lên.

Cùng ngày 31-1-2013, khi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tuyên xử oan sai đối với ông Quy và bà Hà, tại Hà Nội diẽn ra Hội thảo “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta”. 

Một trong những vấn đề được xem là “cốt tử” được bàn tại hội thảo là câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nói như PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, hiện Đảng cũng đang gặp khó khăn, thách thức không nhỏ ảnh hưởng đến uy tín chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn tại của chế độ. Đó là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên dễ lộng quyền, lạm quyền, coi thường pháp luật. Đảng cũng đã coi trọng và tích cực khắc phục để loại trừ tình trạng này bằng nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát.

Theo PGS.TS Trần Khắc Việt: Càng xuống dưới cơ sở thì tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay việc của chính quyền càng thể hiện rõ, sự lộng hành, có nhiều nơi sự ức hiếp dân của chính quyền đáng báo động. Cũng theo ông Việt, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi. Còn nhiều trường hợp cấp ủy can thiệp sâu vào hoạt động của cơ quan điều tra, tố tụng, xét xử.

Tham luận của GS Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo, Đảng cần xem lại cả về tâm lẫn tầm để xem liệu Đảng có đạo đức, văn minh, là trí tuệ, thiên tài.

Ông Huyên phân tích, một nguy cơ của đảng cầm quyền là dễ đi đến chuyên quyền, độc đoán. Khi có quyền, cá nhân đảng viên, người lãnh đạo dễ dàng tự thỏa mãn, dùng quyền lực thay cho chân lý, cho pháp luật trong chỉ đạo. Đặc biệt, việc ít chịu học tập, rèn luyện làm không ít người có chức quyền bị tụt hậu, trì trệ.

Nhân dân phải được giám sát quyền lực thông qua các hình thức phổ biến nhất như bầu người đại diện, bãi miễn người đại diện trong các cơ quan quyền lực. Người dân cũng phải có quyền phản biện với Hiến pháp, pháp luật cũng như các chủ trương lớn của nhà nước và phải được quyền bày tỏ chính kiến về những vấn đề quốc kế dân sinh”.

Hội thảo đã khẳng định thực trạng hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Nhiều tham luận nêu rõ: Hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan nhà nước chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp. Việc xử lý các sai phạm của cán bộ, công chức chưa thật kiên quyết, nghiêm minh. “Phương thức lãnh đạo của Đảng với công tác cán bộ chậm đổi mới, quy trình phức tạp nhưng vẫn để lọt cán bộ không thật sự xứng đáng tham gia vào bộ máy lãnh đạo, quản lý của cơ quan nhà nước”.

Mặc dù Đảng đã “đứng chân” tịa Điều 4 Hiến pháp 1992, nhưng 20 năm nay Đảng không chỉ đạo được chính quyền, chính quyền không thực hiện được vai tro quản lý xã hội, thực thi dân chủ. Nhân cơ hội đang sửa đổi Hiến pháp 1992, một số đại biểu đề xuất xúc tiến xây dựng luật về Đảng để đảm bảo tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

TS Mạch Quang Thắng đã nói đúng về thực trạng độc đoán chuyên quyền: "Khi có quyền, cá nhân đảng viên, người lãnh đạo dễ dàng tự thỏa mãn, dùng quyền lực thay cho chân lý, cho pháp luật trong chỉ đạo".
         Dư luận bức xúc về vụ này và các vụ tương tự, nếu Đảng còn là của dân, chính quyền còn vì dân, Nhà nước pháp quyền, công bằng, dân chủ như khẩu hiệu ầm vang,  thì cần khẩn trương điều tra, xét xử lại vụ này một cách công minh, công bằng pháp luật, tôn trọng dan chủ, xử lý nghiêm minh những cán bộ cố tình lợi dụng chức vụ, quyền hạn ức hiếp dân, gây oan khốc, bất công trong xã hội.
BVB