Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013
Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013
Hai trăm năm "BẮC HÀNH TẠP LỤC"
* VƯƠNG TRỌNG
Cùng với tuyệt tác Truyện Kiều và một số tác phẩm chữ Nôm, Đại thi hào Nguyễn Du còn để lại 250 bài thơ chữ Hán trong ba tập “Thanh Hiên thi tập”, “Nam Trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục”. “Thanh Hiên thi tập” với 78 bài thơ ông viết trong mười năm gió bụi ở quê vợ Quỳnh Phụ (Thái Bình), sáu năm dưới chân núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) và năm đầu ra làm quan dưới triều Gia Long, kéo dài khoảng 17 năm từ 1786 đến 1803. “Nam Trung tạp ngâm” với 40 bài viết ở Phú Xuân, Quảng Bình trong khoảng thời gian 10 năm từ 1804 đến 1813. Riêng với “Bắc hành tạp lục”, chỉ trong 14 tháng đi sứ Trung Quốc từ tháng 2 năm 1813 đến tháng 4 năm 1814, có tất cả 132 bài, chiếm quá một nửa số tác phẩm thơ chữ Hán.
Sứ đoàn khởi hành từ kinh đô Phú Xuân, đi xe (ngựa kéo), đi thuyền, đi bộ cũng mất thời gian mấy tuần mới đến được Thăng Long, nhưng dọc quãng đường đó, Nguyễn Du không sáng tác bài thơ nào, chắc là vì những cảnh nên thơ đã được viết trong hai tập thơ trước. Nhưng khi đến Thăng Long, hai mươi năm mới trở lại, cảm thương vì chuyện đổi thay của cảnh, của người mà ông viết một lúc bốn bài thơ đầy nước mắt, trong đó có bài “Long Thành cầm giả ca”, một “Tỳ bà hành” của Việt Nam. Ngược lên biên giới, viết tiếp bốn bài nữa, về Quỷ Môn Quan, về Lạng Sơn, về Trấn Nam Quan. Như vậy, trong 132 bài thơ trong tập, chỉ có 8 bài viết về Việt Nam, còn 124 bài còn lại viết về con người và đất nước Trung Hoa. Đó là về mặt số lượng, điều quan trọng hơn là nội dung. Là Chánh sứ được triều đình cử đi “tuế cống thượng quốc”, nhưng trong “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du không hề đả động một chút nào về công việc ấy, như báu vật đem đi cống nộp là những gì, sứ đoàn phải lo giữ gìn ra sao suốt chặng đường vạn ngàn dặm, sự giao tiếp với quan lại nhà Thanh khi cống nộp ra sao… không hề xuất hiện trong một bài, thậm chí trong một câu thơ của tập thơ đi sứ này! Chẳng lẽ tất cả những điều đó không có gì làm cho ông Chánh sứ quan tâm? Tôi không nghĩ như thế! Phải chăng Đại thi hào không ghi lại một chút mảy may các thứ đó vì nếu nói đúng sự thật, đúng tâm tư suy nghĩ của mình thì không đúng với chức năng, nhiệm vụ của Chánh sứ được nhà vua giao cho, còn nói đề lấy lòng “thượng quốc” và nhà vua mà không đúng lòng mình thì ông không muốn. Phải chăng, Nguyễn Du chẳng hào hứng gì khi được được đảm trách cương vị Chánh sứ dẫn đầu một đoàn đi “tuế cống” (cống nạp hàng năm) mà ông coi đây dịp “Bắc hành” hiếm có để biết thực chất “thượng quốc” như thế nào, cái xứ sở mà bao địa danh cùng danh nhân ông đã thuộc lòng từ “thiên kinh vạn quyển”, nay mới có dịp tới.
Đây là lần đầu tiên Nguyễn Du đặt chân lên đất nước Trung Hoa. Cách đó mười năm, cuối năm 1803, khi mới ra làm quan chưa lâu, Nguyễn Du cũng được làm thành viên của đoàn lên Nam Quan để nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh, nhưng khi đó ông chỉ đứng bên đất nước mình. Trong tiềm thức của Nguyễn Du, chính xác hơn là ý nghĩ trước khi đi sứ, Trung Hoa là đất nước bằng phẳng, phì nhiêu, đường sá đi lại thuận lợi, mọi người đều được sống no đủ, hạnh phúc… Ngay khi vừa mới qua trấn Nam Quan ông cũng nghĩ như vậy, coi chuyện đi lên Bắc Kinh là thuận lợi và đơn giản: “Đường sá bằng phẳng, không phải hỏi thăm ai. Qua sông Minh Giang, đi thẳng lên phía bắc là Trường An” (Vương đạo đẳng bình hưu vấn tấn/ Minh Giang Bắc thướng thị Trường An - Nam Quan đạo trung). Nhưng rồi thực tế không phải như vậy, thậm chí con ngược lại. Chúng ta biết rằng phương tiện giao thông chính của sứ đoàn là xe ngựa và thuyền. Đường bộ thì “ở chân núi, bùn đọng ngập bụng ngựa, quái vật nấp hai bên bờ suối lâu ngày thành tinh” (Sơn lộc tích nê thâm một mã/ Khê tuyền phục quái lão thành tinh) nên ông buồn và thất vọng. Còn đi thuyền thì sao? “Suốt ba ngày đêm đi thuyền lòng cứ thấp thỏm, lo sợ nhiều bề. Nguy hiểm thay, chìm sâu sẽ không biết đâu là đáy. Ai cũng bảo Trung Quốc đường bằng phẳng, nào ngờ Trung Quốc như thế này, sâu thẳm, quanh co như lòng người” (Đi thuyền trên sông Ninh Minh). Đó chỉ mới một sông Ninh Minh thôi, sứ đoàn còn phải qua bao nhiêu con sông khác, khi ngồi trong thuyền “nỗi lo sông nước bạc đầu thiếu niên” (Chu trung niên thiếu giai bạch đầu – Bất tiến hành)!
Cả đường bộ, đường thủy của “thượng quốc” đi lại đều khó khăn, hiểm trở là điều đầu tiên là Nguyễn Du kinh ngạc. Điều kinh ngạc thứ hai của ông là đời sống nghèo khổ của người dân Trung Hoa. Đó là chuyện ông già mù ở thành Thái Bình đi hát rong: “Ông già sùi bọt mép, tay rã rời, cất lại cây đàn, nói đã hát xong. Ông gắng hết tâm sức hát gần hết một trống canh mà chỉ được năm, sáu đồng tiền… Ta trông thấy mà thương. Người ta thà chết còn hơn sống nghèo. Thường nghe nói Trung Hoa ai cũng no ấm, không ngờ Trung Hoa cũng có người như thế này” (Thái Bình mại ca giả). Rồi người đàn bà dắt đàn con đi ăn xin trong bài “Sở kiến hành: “Có người đàn bà cùng ba đứa con ngồi với nhau bên vệ đường. Đứa bé nhất ẵm trong lòng, đứa lớn nhất thì xách giỏ tre. Trong giỏ tre đựng gì? Một nắm rau lẫn tấm cám. Trưa rồi vẫn chưa có gì ăn. Áo quần thì rách rưới. Gặp ai không dám nhìn, nước mắt đầm đìa thâm áo…” Ngạc nhiên thứ ba của nhà thơ là xã hội Trung Hoa không yên bình, loạn lạc nổi lên khắp nơi làm nghẽn tắc đường, có khi sứ đoàn phải dừng lại hoặc đi tránh theo đường vòng. Nguyên nhân của những cuộc bạo loạn là vì nạn đói: “Nghe nói dân ở đây năm nào cũng khổ vì hạn hán, mất mùa. Mùa xuân có cày cấy nhưng mùa thu không được gặt. Hồ Nam , Hồ Bắc đã lâu không có hạt mưa nào, ruộng bỏ hoang… Mắt nhìn thấy người chết đói giữa đường, có mấy hạt táo lăn ra cạnh người…”. Nguyễn Du là người làm thơ nhưng rất coi trọng chi tiết, quan sát hết sức tỉ mỉ. Nắm rau lẫn tấm cám trong cái giỏ ăn xin của bốn mẹ con trong bài “Sở kiến hành”, và những hạt táo từ trong túi lăn ra nằm cạnh xác người chết đói trong “Trở binh hành” găm vào lòng người đọc và đã làm bao người nhỏ lệ trong hai trăm năm qua.
Một đề tài hết sức quan trọng trong “Bắc hành tạp lục” là viết về những danh nhân, những nhân vật và địa danh lịch sử. Nguyễn Du cũng như hầu hết trí thức nước ta thời phong kiến thông thuộc lịch sử Trung Hoa, mến mộ tài năng của nhiều thi nhân, thuộc lòng tiếng tăm của các danh tướng… nhưng mấy ai đã được đặt chân lên quê hương họ, những nơi họ từng lập chiến tích, hoặc được chứng kiến lăng mộ, đền miếu của họ. Nguyễn Du có được cái may mắn đi qua nhiều nơi mà tên đất, tên người đã thức dậy những tri thức từ sách vở, để ông bày tỏ lòng khâm phục, tiếc thương và có khi là trách móc, phê phán một nhân vật nào đó trong lịch sử Trung Hoa. Trong “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du đã trực tiếp làm thơ hoặc đề cập đến khoảng 50 nhân vật, từ các nhà thơ kiệt xuất như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch… các ông vua, danh tướng như Sở Bá Vương, Tào Tháo, Hàn Tín, Mã Viện… đến các thuyết khách như Tô Tần, Kinh Kha… Phần lớn di tích nằm bên đường sứ đoàn đi ngang qua, nhưng có đền miếu không ở gần, buộc nhà thơ phải “vọng kiến”.
Trong lịch sử văn học Trung Quốc, có hai nhà thơ Nguyễn Du kính nể, đồng cảm và yêu thương nhất là Khuất Nguyên và Đỗ Phủ. Kính nể vì tài thơ bậc thầy, đồng cảm vì “có trái tim lớn đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh”; yêu thương vì các nhà thơ đó đói khổ, bệnh tật và bị chịu đựng bao nỗi bất hạnh. Trong “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du đã dành năm bài thơ nói về Khuất Nguyên, trong đó có hai bài viết trực diện để tỏ lòng thương cảm của mình khi qua Tương Đàm:
Hai ngàn năm bặt người hiền
Hương lan như vẫn thơm trên đất này
Ba năm buồn nỗi lưu đày
“Ly tao” ngàn thuở bậc thầy văn chương”.(*)
Nguyễn Du thương xót Khuất Nguyên bị lưu đày rồi quyên sinh ở sông Mịch La, nhưng là một người sáng tác, Nguyễn Du lại thấy rằng trong cái mất có cái được, nếu như Khuất Nguyên được nhà vua tin dùng, không bị lưu đày thì làm gì có tuyệt tác “Ly tao”!
Để bênh vực cho lòng trung của Khuất Nguyên, Nguyễn Du còn viết bài “Bác Giả Nghị”: “Lòng Khuất Nguyên, nước Tương Giang/ Trong veo thấy đáy suốt ngàn vạn năm”. Còn chống lại chuyện Tống Ngọc viết bài từ gọi hồn Khuất Nguyên, Nguyễn Du viết “Phản chiêu hồn”, khuyên hồn đừng về vì không có nơi nương tựa: “Đời sau ai cũng Thượng quan/ Nơi nơi chốn chốn sông toàn Mịch La/ Rồng không nuốt, hổ cũng tha…” ngụ ý phê phán xã hội đương thời.
Có một câu thơ của Đỗ Phủ “Nho quan đa ngộ thân” (Mũ nho thường khổ thân), mỗi lần Nguyễn Du đọc là một lần khóc thương nhà thơ trên ngàn năm trước. Phục tài thơ, đồng cảm với nỗi lòng và xót thương Đỗ Phủ nghèo đói, bệnh tật, Nguyễn Du đã khóc bao lần trước thi phẩm của Đỗ Phủ khi còn ở nước mình, thì trong chuyến đi sứ này, khi được qua Lỗi Dương, Nguyễn Du lần tìm nhưng “trong những khóm tùng bách, không biết mộ ông ở nơi nào”. “Ông với tôi sống trong hai thời đại xa nhau mà vẫn thương nhau, nhớ ông mà rơi nước mắt”. Nguyễn Du thương Đỗ Phủ còn vì một lẽ nữa thể hiện trong bài “Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ”:
Cộng tiễn thi danh sư bách thế
Độc bi dị vực ký cô phần
(Thơ ông thiên hạ tôn thầy
Chỉ buồn nấm mộ lắt lay quê người)
Có một danh tướng Trung Hoa được Nguyễn Du dành hai bài thơ nhắc đến trong tập này, không phải vì vị tướng này kiệt xuất, mà có lẽ vì một lý do khác: tướng này đã đem quân sang đánh nước ta hồi đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Vị tướng đó là Mã Viện. Nguyễn Du chế giễu vị tướng này đã lên lão sáu mươi mà còn khoe mình quắc thước, mặc áo giáp leo lên yên ngựa, không biết mình đã mang bao hệ lụy cho người thân và gia đình:
Mua vua được một nụ cười
Biết đâu thân thích bao người buồn đau
Trụ đồng lừa nổi ai đâu
Vợ con mang lụy xe châu một thời
(Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành)
Ngoài tướng Mã Viện ra, có một ông vua đời nhà Minh là Minh Thành Tổ (tức Yên Vương Đệ), từng cho quân xâm lược nước ta, khi đi sứ ngang qua tỉnh Hà Bắc, nhân gặp ngôi mộ kỳ lân, Nguyễn Du viết bài “Kỳ lân mộ” để lên án tội ác của ông vua này:
Yên Vương Đệ, kẻ bất nhân tiếm quyền
Cướp ngôi của cháu ngoi lên
Giận thì mười họ giết liền, ai ngăn?
Vạc dầu, đánh trượng trung thần
Năm năm hơn triệu dân lành tan thây….
Phần kết bài thơ này, cũng như hai bài thơ viết về Mã Viện, Nguyễn Du đều đặt một câu nghi vấn có liên quan đến nước ta, khi thì với địa danh Dâm Đàm cụ thể, khi thì gọi chung là phương Nam . Đây là hai ví dụ rõ nét về tinh thần dân tộc của Nguyễn Du trong “Bắc hành tạp lục”.
Nguyễn Du tự nhận mình là “đa bệnh, đa sầu”, thơ ông thiên về gam buồn. Trong nước đã vậy, trên đường đi sứ càng có nhiều lý do để buồn. Đó là thất vọng về nước Trung Hoa không phải như ông từng hình dung: đường sá, sông ngòi hiểm trở, gian nan, thời tiết mưa gió lũ lụt, phải chứng kiến những cuộc đời bất hạnh trong một xã hội loạn lạc. Những đền đài, lăng mộ của danh nhân đã bị sức mạnh thời gian chôn vùi làm ông bùi ngùi thương cảm. Có một nỗi buồn nữa hầu như quán xuyến từ đầu đến cuối thi phẩm này là nỗi buồn nhớ quê hương. Nguyễn Du là người hay nhớ quê, nhớ nhà. Hồi mới ra làm quan dưới triều Gia Long, đã mấy lần xin về, mà nhớ nhà là lý do không nhỏ. Thời ở Tiên Điền, mỗi lần ra đi là ông có ý nghĩ “Tài quá Long Vĩ thủy/ Tiện thị dị hương nhân” (Vừa qua sông Long Vĩ/ Đã thành người tha hương) thì đi sứ xa quê hàng vạn dặm, cảm giác tha hương của Nguyễn Du tăng lên đến mức nào? Mới đến Lạng Sơn ông đã cảm nhận: “Hồng Lĩnh thân bằng nhật tiệm giao” (Người thân ở Hồng Lĩnh mỗi ngày một xa). Vừa qua khỏi trấn Nam Quan mấy ngày: “Suốt đường chẳng gặp ai quen/ Lòng như đã chết ở trên nước người”. Ông buồn và sợ phải nghe tiếng vượn kêu chiều muộn khi đi thuyền trên sông Minh Giang, nơi mà: “Nhớ em khi ngắm quan sơn/ Đá giăng lởm chởm nhắc con cháu nhà”. Còn khi đi thuyền qua sông Thiên Bình thì: “Nhà thuyền chỉ trỏ quê gần/ Làm buồn đứt ruột sứ thần phương xa”… Khi đi qua Nhiếp Khẩu của tỉnh Hồ Bắc, ông thở dài: “Hồng Lĩnh cách niên hư túc mộng/ Bạch đầu thiên lý tẩu thu phong” (Hơn năm nay, ý muốn trở về Hồng Lĩnh đã thành mộng ảo. Đầu bạc rồi mà còn phải đi giữa gió thu nghìn dặm)… Thật khó thống kê hết được những câu thơ nói về nỗi buồn nhớ quê hương của Nguyễn Du trong chuyến đi sứ này. Nhớ quê, muốn được về quê nhanh, khi đến hồ Động Đình ông nhẩm tính: “Kế trình tại tam nguyệt/ Do cập tường vi hoa” (Tính đi đường, ba tháng nữa sẽ về tới nơi, còn kịp thấy hoa tường vi nở)… Và ông đã về nước sau 14 tháng trời với cương vị Chánh sứ nhưng có lẽ chính xác hơn, là một chuyến đi thực tế và làm thơ ở “thượng quốc”!
Về hình thức nghệ thuật, như nhiều nhà thơ chữ Hán khác, phần lớn thơ chữ Hán của Nguyễn Du dùng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật và thơ tứ tuyệt. Nhưng so với “Thanh Hiên thi tập” và “Nam Trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục” có nhiều bài thơ trường thiên (dài trên 8 câu) hơn. Trong “Thanh Hiên thi tập” chỉ có ba bài trường thiên là “Ký mộng”, “Hành lạc từ” và “Lam Giang”. “Nam Trung tạp ngâm” không có bài trường thiên nào, còn “Bắc hành tạp lục” có đến 18 bài trường thiên, trong đó có ba bài dài nhất là “Trở binh hành” (63 câu), “Long Thành cầm giả ca” (50 câu không kể lời Tiểu dẫn) và “Sở kiến hành” (42 câu). Phải chăng trong nhiều trường hợp do nội dung cần ôm chứa không thể gói gọn trong thể thơ thất ngôn bát cú quen thuộc, buộc đại thi hào phải sử dụng thơ trường thiên?
Hai trăm năm đã trôi qua, các thế hệ bạn đọc đều thừa nhận “Bắc hành tạp lục” là một tập thơ đặc sắc, đầy chất nhân văn, được viết trong khoảng thời gian tương đối ngắn: 14 tháng với 132 bài, tính ra trung bình mỗi tháng Nguyễn Du sáng tác gần chục bài thơ. Tác giả không gọi là “thi phẩm” mà gọi là “tạp lục” (ghi chép tản mạn) là cách nói khiêm tốn, cũng giống như ông từng gọi Truyện Kiều là “Lời quê chắp nhặt dông dài”! Thì ra giá trị tác phẩm là tự thân nó, chứ không phụ thuộc cách gọi khiêm nhường hoặc quảng cáo rùm beng của tác giả!
Tháng 2-2013
(200 năm sau ngày Nguyễn Du đi sứ)
V.T
_________
(*): Những câu thơ dịch thể lục bát trong bài này đều rút từ quyển: “Nguyễn Du – Thơ chữ Hán toàn tập, Vương Trọng dịch thơ”, do Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Tĩnh xuất bản năm 2008.
(Nguồn: Vanvn.net)
------------------
Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013
TRẬN ĐÁNH ĐẸP
* Tiểu thuyết cực ngắn của VÂN THẢO
BVB - Lời nói đầu: Đây là câu chuyện có thật mà làng trên xóm dưới, hang cùng ngõ hẻm trong cả nước đều biết. Nhưng do thời buổi viết lách khó khăn, thời gian eo hẹp do phải phụ lo kế sinh nhai giữa cảnh giá cả thị trường tăng vọt, nên tác giả hư cấu thành tiểu thuyết (cực ngắn) để hầu chuyện bạn đọc. Cũng bởi nhiều nỗi bức xúc chuyện đời, chuyện xã hội chất chống những cảnh éo le, tréo ngoe, nên không thể không viết. Nếu thấy tên nhân vật và nơi xảy ra câu chuyện không được đúng lắm cũng mong bạn đọc lượng thứ (Tác giả-Vân Thảo).
Chương 1. Khu đồn trú của địch ở trong một vùng đầm lầy hoang vu cây cối um tùm không khác gì vùng Lương Sơn Bạc trong truyện Thủy Hử. Sở chỉ huy đồng thời là nơi đồn trú cho tất cả bọn địch hơn chục tên ở trong một ngôi nhà gạch hai tầng xây thô sơ nằm bên bờ đầm. Đêm vùng biển mây đen che phủ bầu trời. Gió rít từng cơn phát ra những âm thanh ghê rợn. Trong chỉ huy sở của dịch leo lét ánh đèn b•o. Tên gia trưởng tên là Vớn ngồi ở giữa. Cạnh hắn là tên gia phó, em ruột hắn. Trong góc tối còn xuất hiện hai khuôn mặt đàn bà và mấy người nữa đủ mọi lứa tuổi và giới tính.
Tên gia trưởng uống một hớp chè xanh rồi lên tiếng:
- Sáng mai thế nào địch cũng tổ chức tấn công ta. Theo tin tình báo từ trạm khí tượng thành phố lực lượng của chúng rất mạnh. Chúng nó tổ chức thành binh chủng hợp thành gồm nhiều thứ quân. Công an thành phố, cảnh sát cơ động, bộ đội địa phương và công an huyện. Dân quân du kích xã. Lực lượng anh chị côn đồ cộm cán của xã hội đen. Bọn này cực kỳ hung bạo. Vũ khí trang bị của lực lượng tấn công gồm AK, trung liên, lựu đạn. Nói chung là hỏa lực rất mạnh. Ngoài ra chúng điều cả xe cứu hỏa để trong trường hợp cần thiết thì phun vòi rồng cho chúng ta chết ngạt.
Có tiếng đàn bà cất lên cắt ngang lời tên gia trưởng:
- Em nghĩ không khi nào chúng nó dùng vũ khí đối với dân đâu.
Tên gia phó:
- Chị đừng có mơ hồ về lập trường giai cấp. Chúng nó đã nghĩ đến dân thì không đời nào cướp gia sản do mồ hôi nước mắt của chúng ta làm ra.
Tên gia trưởng:
- Chú Quỳ nói rất đúng. Lũ chúng nó từ bỏ nhân dân lâu rồi. Con giun xéo lắm cũng quằn. Con đường duy nhất bây giờ là chống lại chúng để bảo vệ nhà cửa ao đầm của chúng ta thôi.
Tiếng một người đàn bà khác:
- Chúng nó súng ống hiện đại như vậy mà ta chỉ có một khẩu súng hoa cải và mấy gói thuốc nổ thì là sao mà chống lại chúng được? Hay là anh để cho em đi thương lượng lần nữa xem sao.
Tên gia trưởng hét lên:
- Không bàn nữa. Lí tình nói với chúng hết rồi nhưng chúng đã rắp tâm chiếm đất của chúng ta thì không còn con đường nào khác là chiến đấu để bảo vệ đất đai của mình.Tự do hay là chết chỉ có một đường để chọn.
Tiếng tên gia trưởng vang lên như một mệnh lệnh.
Chương 2. Sở chỉ huy chiến dịch đặt trong một sảnh lớn với đầy đủ tiện nghi. Trên mấy cái bàn còn tràn ngập thức ăn và các loại rượu ngoại uống dở. Tư lệnh chiến dịch là ông đại tá Cà Chớn, phụ trách công an thành an thành phố, một người nhác trông nhờn nhợt màu da. Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao. Chính ủy chiến dịch là ông Tịt Mù Xĩ, chủ tịch thành phố. Người thấp, mặt xạm đen, cặp mắt trắng dã. Mũi trưởng mũi xung kích binh chủng cộm cán tên là Quách Xì La, người mập và chắc như một con chắm đen, tóc dài phủ xuống tận vai, đeo kính đen gọng to, bộ râu cá trên vễnh ngược trông rất đểu giả. Bộ tư lệnh chiến dịch còn một số nhân vật nữa như thượng tá Cà Tưng, em con chú con bác với Cà Chớn làm tham mưu trưởng, trung tá Cố Xà Lị phụ trách hậu cần chiến dịch.
Tư lệnh Cà Chớn ng• tấm thân phì nộn của mình ra ghế bành khiến mặt ghế lún xuống chỉ còn nhìn thấy nửa người trên của viên đại tá, mắt hắn lờ đờ ngẩng nhìn lên trần nhà, mồm sặc hơi rượu hỏi thượng tá tham mưu trưởng Cà Tưng:
- Trinh sát về báo tình hình địch như thế nào đồng chí tham mưu trưởng?
Cà Tưng:
- Thưa đại ca. Tình hình đối phương không có gì thay đổi. Chúng vẫn ngồi ru rú trong sở chỉ huy chứ không chịu bộc lộ lực lượng ra bên ngoài.
- Đ• nắm được vũ khí chúng có những gì và bãi mìn gài chung quanh căn cứ không?
- Báo cáo với đại ca tiểu đệ đã giao nhiệm vụ này cho huyện nhưng đến giờ này vẫn chưa thấy báo cáo. Để đề phòng địch thả dây điện trần xung quanh căn cứ, tiểu đệ đã đề nghị với điện lực thành phố cắt nguồn điện cung cấp cho căn cứ địch. Điện thoại từ huyện gọi về cho biết hiện tại chúng nó chỉ dùng đèn bão để sinh hoạt.
Cà Chớn lại hỏi Quách Xì La:
- Mũi xung kích anh cả đỏ sẵn sàng nhiệm vụ chưa Quách hiền đệ?
Quách Xì La:
- Đại ca cứ tin vào chúng em. Chúng em đã chuẩn bị đầy đủ mã tấu, dao quắm, súng hoa cải và cả xịt hơi cay sẵn sàng chờ lệnh của đại ca là a la xô ngay.
-Tốt. Đối với bọn chống đối đảng và nhà nước là phải thẳng tay trừng trị. Phải tiêu diệt và bắt sống bằng hết, không để một tay trốn thoát. Chính ủy có ý kiến gì không ạ?
Tịt Mù Xĩ:
- Động viên tất cả anh em tham gia chiến dịch hãy vì đảng xông lên xứng đáng là lực lượng vũ trang do đảng tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện.
Cà Chớn lại hỏi:
- Các lực lượng khác như thế nào rồi đồng chí tham mưu trưởng?
Cà Tưng:
- Các đơn vị có tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao. Chờ có lệnh là xông lên luôn.
-Tốt. Tình hình hậu cần đến đâu rồi đồng chí trung tá Cố Xà Lị?
Cố Xà Lị:
- Cơ số đạn chiến đấu thừa thãi. Có thể giao tranh ba ngày mới phải tiếp tế. Thuốc men quân y chuẩn bị đúng quy định. Tăng cường thêm hai bác sĩ của bệnh viện thành phố đề phòng số thương binh lên cao.
- Tốt. bây giờ mười hai giờ. Nghỉ ngơi đến ba giờ sáng xuất phát. Các đồng chí nhớ tổ chức hợp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng thật tốt, động viên anh em phối hợp đánh một trận thật đẹp. Cố gắng bắt sống chúng để đưa ra xử trước tòa án nhằm răn đe những kể đang dựa vào thế lực phản động của nước ngoài đang ra sức chống phá cách mạng.
Nói xong đại tá Cà Chớn ngả mình ra sau ghế bành. Chỉ mấy phút sau tiếng ngáy của đại tá tư lệnh chiến dịch vang lên như sấm. Mặc dù bị sức nặng của tấm thân phì nộn của đại tá tư lệnh chiến dịch nén xuống bẹp dí mà chiếc ghế bành vần rung lên bần bật từng nhịp một theo tiếng ngáy.
Chương 3: Ba giờ sáng, thành phố đang trong giấc ngủ say bỗng giật mình bừng tỉnh bởi tiếng xe cộ lẫn trong tiếng hát đồng ca vang lên đinh tai nhức óc. Mọi người chẳng hiểu chuyện gì đua nhau mở cửa sổ ra nhìn. Dẫn đầu là đoàn xe mô tô phân khối lớn chừng vài chục chiếc, ngồi bên trên là những người vạm vỡ mặc quần áo thun màu đen, trùm khăn đen và kính cũng màu đen. Duy chỉ có cái đầu lâu và hai cái xương chéo in ở ngực áo là màu trắng. Tiếp sau đoàn xe mô tô phân khối lớn là đoàn xe của cảnh sát cơ động. Các chiến sĩ CSCĐ mặc áo giáp chống đạn, đầu đội mũ sắt bỏ kính xuống che mặt. Sau đoàn xe của cảnh sát cơ động là xe của công an, kế đến là xe cứu hỏa, xe cứu thương và cuối cùng là những chiếc xe Camri màu đen láng bóng mang biển xanh, biển đỏ lướt như bay trên đường phố. Cuối cùng là xe chở các nhà báo đã được sàng lọc nhiều lần trước khi cho đi theo lực lượng tấn công vào chiến dịch.
Bốn giờ sáng cánh quân của thành phố và cánh quân của huyện, xã gặp nhau bên ngoài khu đồng trú của địch chừng một cây số. Hai bên tay bắt mặt mừng. Cà Chớn hỏi huyện trưởng:
- Tinh thần của anh em ra sao?
Huyện trrưởng:
- Được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp trên anh em rất hăng hái sẵn sàng một phen sống mái với bọn chống đảng.
- Tốt. Trinh sát huyện đã nắm chắc sinh lực, vũ khí và cách bố phòng chung quanh căn cứ của địch không?
Huyện trưởng tỏ ra lúng túng:
- Báo cáo về sinh lực được thì nắm được vì trước đây bọn chúng là dân lao động làm ăn ở địa bàn này. Nhưng vũ khí chúng có những gì và có bao nhiêu mìn chúng gài chung quanh đây chúng em không nắm được vì chúng bí mật quá.
Cà Chớn đi về phía chính ủy Tịt Mù Xĩ.
Cà Chớn:
- Báo cáo chính ủy đ• cho nổ súng được chưa ạ?
Tịt Mù Xĩ:
- Được rồi. Nhưng trước khi nổ súng nên nói với chúng nó mấy lời để chứng tỏ lòng nhân đạo của chúng ta. Nếu chúng cứ ngoan cố thì cho nổ súng. Động viên anh em anh dũng chiến đấu sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì đảng, vì chủ nghĩa xã hội.
Cà Chớn:
- Rõ! Lực lượng vũ trang sẵn sàng hy sinh vì…
Cà Chớn không nói hết câu vì một cục đờm đặc quánh trồi lên trong cổ hắn.
Phía phiến quân vẫn im ắng.
Chương 4: Từ phía biển vầng dương hắt lên mầu hồng ung ủng. Không khí buổi sáng đầy ám khí u uẩn. Gió quằn quại mang mùi bùn, mùi cua, cá chết, mùi lá thối mục luồn lách khắp nơi. Trong sở chỉ huy phiến quân tên gia trưởng đang ngồi xì xụp ăn mì tôm. Có tiếng của một tên còn trẻ đứng cảnh giới trên gác hai nói vọng xuống:
- Bố ơi chúng nó đông lắm. Hình như có cả xe tăng hay sao ấy.
Tên gia trưởng nuốt hết miếng mì tôm trong mồm bảo:
- Thành phố làm đéo gì có xe tăng. Xe chở tù đấy.
- Con thấy đen một cục lù lù nên tưởng là xe tăng.
Tên gia trưởng ăn xong bát mì tôm đi lên gác đứng bình thản nhìn ra chung quanh. Đúng là bộ đội, công an, cảnh sát cơ động và du kích đang vây kín chung quanh. Có cả những kẻ mặc đồ đen có cái xương chéo và sọ người in ở trước ngực áo.
Tiếng loa từ một chiếc xe vang lên oang oang:
- Hỡi những tên chống phá đảng và nhà nước. Chính quyền đã nhiều lần yêu cầu chúng mày nộp lại đất đai cho nhà nước nhưng chúng mày bị thế lực thù địch ở nước ngoài xúi dục ngoan cố không chịu nộp còn định dùng súng đạn chống lại đảng và nhà nước. Chúng tao yêu cầu chúng mày mày nộp vũ khí đầu hàng. Nếu không chúng tao sẽ tiêu diệt không còn một mống.
Tự nhiên trên nóc nhà vang lên tiếng the thé của đàn bà:
- Hỡi anh em bộ đội, công an. Nhân dân đóng thuế nuôi các anh để các bảo vệ đất nước và nhân dân chứ không phải để đi đàn áp nhân dân. Nếu bố mẹ các anh lam lũ cả đời khai phá đất đai vườn tược nuôi con cái ăn học thành người để phục vụ đất nước mà có kẻ đến đòi chiếm đất đai nhà các anh liệu các anh có giả không hay là phải chống đối như chúng tôi để giữ đất đai vườn tược của mình? Nếu các anh thực sự vì nhân dân như các anh thường tụng niệm hàng ngày thì yêu cầu các anh rút lui để khỏi đổ máu vô ích.
Một loạt trung liên bắn thẳng vào ngôi nhà gạch khói bụi tung mù mịt.
Sau loạt trung liên là những loạt súng AK bắn xối xả.
Được sự yểm trợ của các loại súng, mũi xung kích của những tên cộm cán anh chị cầm mã tấu, dao quắm và súng hoa cải xông lên.
Một tiếng mìn nổ chát chúa khói phủ nù mịt.
Những tên cộm cán hốt hoảng bỏ chạy về phía sau vác theo một thằng bị thương. Cánh nhà báo, cánh quân y chạy lại.
Cà Chớn hét to:
- Các nhà báo phải chụp cận cảnh vết thương có máu me toe toét để sau này còn làm bằng chứng về tội giết người của chúng nghe không. Chụp thật rõ, thật nét vào.
Trả lời Cà Chớn là tiếng mấy ảnh kêu lách tách.
Các mũi quân tấn công vẫn dè dặt vừa vãi đạn vừa tiến về phía ngôi vườn có những cây chuối đang gục ngã vì đạn AK.
Thỉnh thoảng lại một tiéng mìn nổ và vài tiếng súng hao cải đì đẹt chống cự.
Lại có người bị thương bên phía tấn công được đưa về phía sau.
Lần này thì đích thânh chính ủy nhắc các nhà báo;
- Đây là vụ chống lại đảng và nhà nước cực kỳ nghiêm trọng Các cậu phải ghi chép đầy đủ để đăng tải trên các mặt báo trong ngày mai. Riêng các cán bộ và chiến sĩ bị thương các cậu phải chụp ảnh thật chi tiết, rõ ràng để sau này có bằng chứng cung cấp cho pháp luật để chứng minh tội cố ý giết người của bọn chúng. Không có bằng chứng là chúng c•i băng ngay. Các cậu nhớ chưa?
Với thế áp đảo cả về người và vũ khí, chỉ sau ba giờ lực lượng binh chủng hợp thành đ• làm chủ tình. Toàn bộ quân địch đã bị bắt sống nhét lên chiếc xe chở tù có cửa sổ bịt lưới ở hai bên. Bọn anh chị cộm cán trả thù cho bạn bằng cách xông vào đập nát ngôi nhà hai tầng và triệt hạ cây cối của những kẻ chống đối. Lực lượng phối hợp của du kích thì xông vào hôi của.
Khi Cà Chớn tư lệnh chiến dịch định bước lên xe thì các nhà báo chạy lại vây quanh. Máy ảnh kêu loạch xoạch, hàng loạt míc châu vào sát mồm viên tư lệnh. Các nhà báo đua nhau hỏi.
Cà Chớn mặt mày hớn hở đưa tay ra hiệu cho các nhà báo giữ trật tự rồi bảo: “Chiến dịch thành công ngoài dự kiến. Tuy có thương vong nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, chúng ta đã khống chế và bắt sống toàn bộ quân địch. Có thể nói đây là trận đánh tuyệt đẹp. Một trận đánh có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều binh chủng. Tấn công nhanh, tiêu diệt gọn, thương vong ít. Tôi nhắc lại lần nữa đây là trận đánh tuyệt đẹp. Các bạn có thể viết thành tiểu thuyết để lưu vết cho con cháu mai sau.
Nói xong Cà Chớn khó nhọc nhét thấm thân phì nộn của mình vào chiếc Cam ri đang nổ máy.
Hà Nội 31 tháng 7 năm 2013.
V.T
----------------
(Bản gốc tác giả gửi BVB)
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013
Một chuyến Côn Đảo
* Ghi chép - NGỌC BÁI
TN.c - Tôi chuẩn bị hành trang thăm Côn Đảo lần này bằng cách đọc một vài thông tin về nơi được coi là “địa ngục trần gian” suốt 113 năm dưới ách kìm kẹp của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1862 – 1975).
Chừng ấy năm “máu chảy thành sông, xương chất thành núi” trên 76 cây số vuông của 16 hòn đảo tận cùng của đau thương lưu đày.
Chừng ấy năm “máu chảy thành sông, xương chất thành núi” trên 76 cây số vuông của 16 hòn đảo tận cùng của đau thương lưu đày.
… Mọi người đều nguyện cầu cho đất nước yên bình và đời sống hạnh phúc, mong sao tránh xa mọi tai ách. Trong không gian tĩnh lặng của đêm vắng, sự linh thiêng càng tăng chăng? Vẳng trong không gian lời bài hát: “chị Sáu đã hi sinh rồi, giọng hát vẫn như còn vang dội vào trái tim những người đang sống…” được phát ra từ những chiếc loa trang trí rất tinh khéo dọc lối đi.
…Trong màn đêm thăm thẳm, dưới những ngọn đèn thắp lên trên từng ngôi mộ, mọi người lặng lẽ thành kính dâng hương. Chỉ có tiếng côn trùng và tiếng gió rít trên hàng cây. Có ai đó thốt lên, thật không tưởng tượng nổi, sự mất mát thương đau quá lớn. Một nhà thơ nói với tôi: “Thật cảm động, trước cảnh tượng này ai làm điều gì tổn hại tới đất nước, tổn hại tới nhân dân, hẳn phải sám hối…”.
------------------
Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013
BA PHÚT SỰ THẬT
* PHÙNG QUÁN
(…) Cách hơn một tháng trước, vợ tôi đến thăm chị Khiêm lúc này đã ốm liệt giường. Ngoài cân đường biếu người ốm, tôi gửi biếu nhà thơ nửa ìít rượu. Nhà thơ hỏi vợ tôi: "Thằng Phùng Quán chết rồi hay sao mà lâu nay nó không đến thăm tôi? Chị Khiêm đưa mắt lườm chồng, nói: "Đừng chấp lão ta làm gì… mồm miệng lúc nào cũng độc địa như thế…". Vợ tôi kể lại chuyện này và có ý giận sự độc mồm độc miệng của ông. Nhưng tôi thì rớm nước mắt vì cảm động. Tôi thấy đằng sau lời rủa độc ấy là tình thương quý của ông đối với tôi - "Mình là cái con khỉ gì mà được nhà thơ Đoàn Phú Tứ thương quý làm vậy?". Tôi thầm nghĩ thế và lòng xốn xang tình cảm biết ơn…
Bây giờ nhà thơ đã qua đời. Nhớ lại tất cả những chuyện đó, tôi càng buồn rầu hơn vì vô phương giúp đỡ gia đình ông trong cảnh tang gia cùng quẫn. Tôi lục lọi khắp nhà xem tìm được vật gì sớm mai đem bán. Nhưng cảnh nhà tôi cũng chẳng hơn gì cảnh nhà ông. Vật dụng có giá trị nhất trong nhà tôi là cái xe đạp mi-ni cũ nát, đem bán chưa chắc đã nổi hai chục nghìn>> Hồi ký “Ba phút sự thật” của Phùng Quán
Cái khó ló cái khôn. Trong đầu tôi chợt lóe lên "sáng kiến": Nghe nói Đoàn Phú Tứ đã từng là đại biểu Quốc hội khóa I, vậy mình sẽ lên thẳng Quốc hội xin tiền làm ma cho ông. Sáng kiến có vẻ hay đấy, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy khó lòng thực hiện nổi. Tôi lấy tư cách gì để lên tận Quốc hội xin tiền cho ông? Tôi không phải là bà con ruột thịt, không phải họ hàng, cũng không phải là bạn của ông… Tôi không có chức danh gì trong các doàn thể văn học nghệ thuật… Xuất thân là một người hnh trinh sát của một trung đoàn thiện chiến, tôi thường bị kẹt vào những tình huống hiểm nguy tường chừng không lối thoát, nhưng cuối cùng vẫn thoát. Quân đội đã rèn giũa cho tôi từ thuở thiếu mên cái ý chí: hãy tìm cho ra một kẽ hở ở những chân tường kiên cố nhất, để chui qua.
***
Một giờ sáng, trằn trọc trên Chòi ngắm sóng, tôi đã tìm ra kẽ hở đó. Nhưng kẽ hở này là một hạ sách, vì nó vi phạm nghiêm trọng đạo lý con người và nhà văn: Nói dối. Nghĩ vậy, tôi cảm thấy chùn tay. Nhưng thời gian gấp quá rồì, chỉ còn một buổi sáng ngày mai… Tôi tự an ủi: Mục đích sẽ biện hộ cho phương tiện. Tôi bật đèn, tìm giấy bút và sáng tác một bức thư:
"Kính gửi đồng chí Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam .
“ Kính thưa đồng chí, tôi xin báo với đồng chí một tin buồn: ông Đoàn Phú Tứ, nhà thơ, nhà viểt kịch, nhà dịch thuật, và đồng thời là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thọ 80 tuổi, đã từ trần ngày hôm qua. Họa vô đơn chí. Vợ ông là chị Nguyễn Thị Khiêm vừa mất cách đây hai tháng. Sau ngày vợ mất, ông Đoàn Phú Tứ tìm gặp tôi và nói: "Mình cảm thấy như ngọn đèn đã cạn dầu, lụi bấc, chưa biết tắt lúc nào. Tám mươi tuổi rồi, chết không phải là điều đáng sợ, chỉ sợ một nỗi đến lúc nằm xuống, các con chẳng biết lấy gì để làm ma cho bố. Bởi vậy mình uỷ thác Phùng Quán một việc. Nếu mình nằm xuống, thì Quán hãy viết thư kêu ông Chủ tịch Quốc hội, trình bày hoàn cảnh gia đình mình, và chuyển lời mình đến với ông: "Nểu Quốc hội còn nhớ đến tình cũ nghĩa xưa, thì xin ông một cỗ áo quan và một chút tiền để mai táng". Bây giờ ông Đoàn Phú Tứ đã nằm xuống. Tôi xin chuyển đến đồng chí lời uỷ thác của ông. Mong đồng chí lưu tâm giải quyết. Hai giờ chiều mai, gia đình ông Đoàn Phú Tứ sẽ đưa ông về Văn Điển. Nay kính thư, Phùng Quán".
Trong cuộc đời làm văn của tôi, chưa bao giờ viết một đoạn văn nào mà tôi phải đắn đo, cẩn trọng đến như bức thư này. Tôi chép đi chép lại bức thư nhiều lần, cân nhắc từng chữ một, sửa chữa, thêm bớt.
Tôi chép lại bức thư với nét chữ nắn nót, đề địa chỉ người nhận, với dòng chữ trong ngoặc đơn: "Kính nhờ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam chuyển".
Đồng hồ chỉ 3 giờ sáng.
Tôi đến Trụ sở Hội Nhà văn vào đầu giờ làm việc May mắn nhà văn Xuân Thiều cũng vừa đến. Tôi trao bức thư và nói gần như năn nỉ: "Anh cố gắng chuyển thư đến tay anh Đạo vào buổi sáng nay, anh ấy mới giải quyết kịp". Xuân Thiều xem bức thư rồi trao lại cho tôi, nói: "Không ăn thua đâu Quán. Chuyện tiền nong đâu có thể giải quyết một cách chóng vánh, dễ dàng như vậy?".
Tôi buột miệng đọc câu thơ của Uytman: "Dù cho ai thất vọng về người - Ta, ta vẫn đời đời tin tưởng" Tôi nói: "Đã thế tôi sẽ lên thẳng Quốc hội gặp anh Đạo". Tôi dắt xe đến thẳng chòi gác, cố lấy dáng đi thật chững chạc.
Anh công an gác trước Trụ sở Quốc hội (33 Ngô Quyền) bước ra hỏi:
- Cụ đến có việc gì ạ?
- Cụ đến có việc gì ạ?
- Báo cáo đồng chí, tôi muốn gặp Chủ tịch Lê Quang Đạo.
- Chắc cụ muốn đưa đơn kiện phải không?
Tôi đoán anh ta cho tôi là một lão nông từ làng quê lên. Mà các cụ ở nông thôn đã tìm lên đến tận Quốc hội thì chỉ có mỗi việc là đệ đơn kháng cáo những chuyện bê bối của chính quyền địa phương.
- Không, đồng chí ạ. Tôi không có chuyện kiện cáo gì đâu. Chỉ cần gặp ông Chủ tịch để đề đạt một công việc cần thiết.
- Thế thì mời cụ dựng xe đằng kia rồi vào gặp bác thường trực.
Ông già thường trực sau khi nghe tôi trình bày vắn tắt, liền trá lời với giọng Quảng Trị đặc sệt:
- Ông Lê Quang Đạo và ông Vũ Mão mới về Hải Phòng chiều qua để kiểm tra việc chuẩn bị bầu cử hội đồng nhân dân các cấp…
"Thế thì không ăn thua gì rồi anh Tứ ơi… Anh đen quá, đen cho đến chết. Anh dịch "Đỏ và đen" mà số anh chỉ nhận được toàn phần đen… Tôi đã hết sức với anh, nhưng số phận đã được an bài… Mong vong linh anh đừng giận tôi".
Tôi đưa phong thư và bộ "Tuổi thơ dữ dội", nhờ ông thường trực chuyển giúp cho Chủ tịch Lê Quang Đạo ông ta lên mục kỉnh, đọc tên tôi trên phong bì thư. Ông ngẩng mặt lên hỏi: "Có phải Phùng Quán "Vượt Côn Đảo" không?"
- Đúng rồi…
- Dạo ni nom già hớm hí. Cậu quên tớ rồi à?
Tôi chăm chú nhìn ông, lòng lấy làm lạ: "Ở một nơi uy nghiêm như thế này sao lại nảy nòi ra một anh quen biết hạng người như mình?"
- Thật tình mình không nhớ được… Tôi bối rối nói.
- Vô đây uống chén nước đã, rồi ta nhắc cho mà nhớ. Cậu là lính "Trăm lẻ một", tớ là lính "Chín lăm". Cậu có nhớ trận phục kích đoàn công-voa gần đồn Hòa Lục Nam , chiến dịch Phan Đình Phùng năm 1952 không?
Có, có, nhớ rồi…
- Lúc thu chiến lợi phẩm, cậu với tớ giành nhau khẩu ga-răng, cậu đạp tớ một cú giữa bụng, tớ nện cậu một cú vô quai hàm, nhớ chưa?
- Nhớ rồi, nhớ rồi… Mà ngày xưa tớ nom cậu to con hơn…
- Xí… già thì người phải teo tóp lại như trái mướp khô… Rứa cậu gặp ông Đạo có việc chi?
Tôi trình bày tóm tắt câu chuyện và nói: "Thế mà ông Đạo lại đi vắng…, có hết hơi không?
- Cậu cứ ngồi đó, chưa chi dã chủ bại. Tớ thấy hồi còn làm lính "Trăm lẻ một" cậu coi bộ cứng cổ hơn:.. Để tớ gọi điện thoại cho ông Phó Tổng biên tập báo "Người đại biểu nhân dân", hỏi ý kiến ông ta, liệu có giải quyết được không?
Người chiến hữu cũ của tôi gọi điện thoại, quay lại nhìn tôi gật gật: "Ông ấy mời cậu lên gặp. Điệu ni là có hy vọng đấy. Chừ cậu đi lên tầng gác hai, thấy gian phòng ngoài cửa có tấm biển đề Tổng biên tập. Ông ta đang ngồi ở đó".
Phó Tổng biên tập báo "Người đại biểu nhân dân" kém tôi vài tuổi, tên là Thọ. Anh Thọ không những bỉết Đoàn Phú Tứ mà còn biết cả chuyện ông là người đầu tiên đã ra tay chống tệ nạn tham nhũng, trong vụ Trần Dụ Châu và Lê Sĩ Cửu, từ thời chiến khu Việt Bắc.
Phó Tổng biên tập báo "Người đại biểu nhân dân" kém tôi vài tuổi, tên là Thọ. Anh Thọ không những bỉết Đoàn Phú Tứ mà còn biết cả chuyện ông là người đầu tiên đã ra tay chống tệ nạn tham nhũng, trong vụ Trần Dụ Châu và Lê Sĩ Cửu, từ thời chiến khu Việt Bắc.
Đọc xong bức thư gứi đồng chí Lê Quang Đạo, anh Thọ nói: "Đây không phải là chuyện nghĩa cử mà còn liên quan đến ảnh hưởng chính trị… Anh Phùng Quán ngồi đây chờ tôi mười phút, tôi chạy đi mời một số cán bộ chủ chốt của cơ quan. Chúng ta sẽ cùng họp bàn cách giải quyết trong khi anh Đạo đi vắng". Lát sau tôi được mời vào phòng họp.
Ngoài anh Thọ có Vụ trưởng Vụ Tài chính, Vụ trưởng Vụ Chính sách, một chuyên viên đặc trách những việc đột xuất của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bức thư gửi lên đồng chí Lê Quang Đạo được anh Thọ đọc to lên cho tất cả cùng nghe. Vụ trưởng Vụ Chính sách trạc năm mươi tuổi, người cao gầy, ánh mắt sắc sảo, nói: "Trước khi bàn bạc cách giải quyết, chúng ta phải cần kiểm tra xem ông Đoàn Phú Tứ có phải là đại biểu Quốc hội không đã…" (!?) Ông đứng lên ra khỏi phòng họp một lúc rồi trở vào, tay cầm cuốn sổ dày cộp, bìa bọc vải có chữ mạ vàng. Ông đặt cuốn sổ trước mặt tôi, giới thiệu: "Đây là Kỷ yếu danh sách đại biểu Quốc hội từ khóa I đến nay. Tên đại biểu được xếp theo vần A, B, C. Đoàn Phú Tứ, ta tra vần T. Ông lật giở kỷ yếu tìm vần T. Chúng tôi cùng chụm đầu trên ba trang vần T. Không có tên Đoàn Phú Tứ. Tôi tái mặt… Dò tìm lại lần nữa. Có tên Nguyễn Đình Thi, Phan Tứ… nhưng Đoàn Phú Tứ thì không. Tôi hoảng sợ thật sự. Thật ra, việc Đoàn Phú Tứ là đại biểu Quốc hội khóa I thì tôi cũng chỉ nghe nói vậy thôi, chứ chưa bao giờ hỏi thẳng ông… Nếu Đoàn Phú Tứ không phải là đại biểu Quốc hội thì những con người sắc sảo này sẽ nhận ra ngay sự gian dối của bức thư. Như vậy thì tôi đã tự chuốc lấy một hoàn cảnh hết sức lố bịch. Tôi chợt nghĩ: vẫn còn một tia hy vọng. Tôi nói: "Nhưng nhà thơ Đoàn Phú Tứ chi là đại biểu có mấy năm, sau đó ông bỏ thành…" Vụ trưởng Chính sách nói: "Đây là Kỷ yếu. Trong số này có cả tên Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh".
Lúc này tôi chỉ muốn chui xuống đất. Tôi lắp bắp, ấp úng: "Việc này tôi nghe các anh ở Hội Nhà văn nói chắc lắm. Có lẽ để tôi về hỏi lại anh Nguyễn Đình Thi xem sao. Anh Thi cũng là đại biểu Quốc hội khóa I…". Miệng nói, chân tôi dợm đứng lên, cốt làm sao rút được ra nhanh khỏi gian phòng họp. Bất chợt tôi nhìn thấy trong sổ Kỷ yếu có mục: Những đại biểu Quốc hội đào nhiệm. Tôi hồi hộp nói: "Thử tra cứu mục này xem có tên ông Tứ không?"
Ngón tay trỏ tôi lần dọc theo các hàng tên… "Đoàn Phú Tứ đây rồi!" - Tôi nói gần như reo. Vụ trưởng Chính sách xem xét lại lần nữa, rồi gật đầu: "Qua khâu kiểm tra, ông Đoàn Phú Tứ đúng là có danh sách trong đại biểu Quốc hội. Nhưng ông đã đào nhiệm từ năm 1951. Chúng tôi không còn trách nhiệm gì về ông, nên không có chính sách cấp tiền làm tang lễ cho ông…".
- Chính sách đất nước quý trọng nhân tài - Tôi nóng nảy ngắt lời ông. - Tuy ông đào nhiệm, nhưng trước đó ông là nhà thơ đầu tiên đứng lên chống tệ tham nhũng. Và ông đã chống một cách thật can đảm. Ông đã vạch mặt Trần Dụ Châu, đại tá Cục trưởng Cục quân nhu phè phỡn trên xương máu chiến sĩ. Trần Dụ Châu đã bị xử bắn như chúng ta đã biết…
Cảm thấy chừng ấy lý lẽ cũng chưa đủ thuyết phục họ, tôi liền vận dụng đến thơ. Tôi nói: "Một nhà thơ cộng sản người Đức tên là Bectôn Brếch, từng viết những câu thơ đầy sức giáo huấn:
Một người đấu tranh một giờ là một người tốt. Một người đấu tranh nhiều ngày là một người tốt hơn
Một người đấu tranh nhiều năm là một người tốt hơn nữa
Một người đấu tranh suốt đời thì rất hiếm…
Thật ra đoạn thơ này còn có câu cuối cùng:
"Những người đó mới thật cần thiết cho chúng ta", nhưng tôi đã cắt bỏ câu này để cho việc trích dẫn thơ có lợi cho mục đích của tôi. Tôi nói tiếp: "Như vậy nhà thơ Đoàn Phú Tứ là "một người tốt hơn nữa", vì ông đã đấu tranh nhiều năm".
- Thơ hay quá! Mọi người trầm trồ, đề nghị anh đọc lại cho chúng tôi chép.
Tất cả cùng mở sổ tay, rút bút bi. Tôi đọc chậm rãi từng câu theo kiểu thầy giáo đọc chính tả cho học sinh… Vụ trưởng Tài vụ hỏi:
- Đồng chí nhà thơ cộng sản này là Đông Đức hay Tây Đức?
- Cộng hòa dân chủ Đức, người đã sáng lập ra Đoàn kịch nói quốc gia Béc-lanh.
Tôi không ngờ thơ lại có sức mạnh thuyết phục đến như thế. Vụ trưởng Vụ Chính sách hăng hái nói:
- Đúng, chúng ta cần phải gửi tiền đến để góp phần tổ chức tang lễ cho nhà thơ, mặc dầu chưa có chính sách về những trường hợp như thế này. Chúng ta cần phải linh động chính sách.
Vụ trưởng Tài vụ có vẻ nghĩ ngợi lung lắm, ông nói: "Nhưng ký duyệt những khoản tiền đột xuất như thế này thì phải đồng chí Lê Quang Đạo, hoặc đồng chí Vũ Mão… Mà bây giờ cả hai đồng chí đều đi vắng…".
Anh Thọ nói: "Nếu chưa kịp gửi tiền thì chúng ta có thể gửi một vòng hoa đến viếng". Vụ trưởng Tài vụ gật đầu: "Việc mua vòng hoa thì quyền hạn tôi có thể giảỉ quyết được". Nhìn lên đồng hồ đã 11 giờ, ông đứng lên: "Các đồng chí cứ ngồi đây nói chuyện. Tôi cho người đi đặt vòng hoa thì mới kịp".
Vụ trưởng Chính sách băn khoăn: "Không biết nên đề lên vòng hoa như thế nào… Vì ông Tứ không còn là đại biểu Quốc hội nữa…". Tôi nói: "Theo tôi có thể đề: "Kính viếng hương hồn nhà thơ Đoàn Phú Tứ - Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước”. Quốc hội gửi vòng hoa viếng một nhà thơ nổi tiếng, việc này vừa hợp với đạo lý vừa có ảnh hưởng chính trị tốt không những chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài. Mọi người đều tán thành cách giải quyết của tôi. Anh Thọ gọi điện cho họa sĩ phụ trách "mi" của báo "Người đại biểu nhân dân", để yêu cầu tạm xếp công việc "mi", viết ngay một "băng-rôn" vải đỏ chữ vàng với nội dung trên.
Vụ trưởng chính sách hỏi tôi địa chỉ cua nhà thơ. Tôi nói: "Nhà ông ở bãi An Dương, hơi khó tìm. Tôi sẽ làm người dẫn đường. Đúng 1g30 tôi sẽ có mặt ở đây để cùng di với các đồng chí".
Đồng hồ chỉ 12 giờ. Tôi thấy mệt lả và đói mềm người. Nhưng tôi tính toán: nếu trở về nhà ăn cơm rồi đạp xe đến thì không kịp mất. Tôi quyết định ở lại đây buổi trưa. Tôi ghé vào phòng thường trực ngồi chơi với người chỉến hữu cũ của sư đoàn, hút thuốc lào và ôn lại những kỷ niệm chiến trường để dịu bớt cơn đói.
Đúng 1g30, chiếc Vonga đen choáng lộn mang biển số Văn phòng Quốc hội, chở một vòng hoa lớn, vắt chéo tấm băng-rôn đỏ nổi bật dòng chữ nhũ vàng do một họa sĩ trang trí viết: "Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước - Kính viếng hương hồn nhà thơ nổi tiếng Đoàn Phú Tứ" chạy về phía bãi An Dương.
(…) Nhiều năm tháng đã trôi qua. Mộ nhà thơ Đoàn Phú Tứ đã được các con cải táng… Nhưng lòng tôi sao vẫn ray rứt mãi không yên. Trong sự việc này, tôi đã phạm hai lần nói dối. Càng luống tuổi, càng sống, càng chiêm nghiệm tôi càng không tin rằng "mục đích có thể biện hộ cho phương tiện". Trên khắp thế gian, người ta đã phạm biết bao nhiêu tội ác chỉ vì cái lập luận đáng sợ này. Những lỗi lầm mà tôi đã phạm phải trong công chuyện nhà thơ Đoàn Phú Tứ, có nguồn gốc sâu xa của nó. Năm tôi mười tám tuổi, là lính trinh sát của Trung đoàn 101. Tôi được cử vào đội bảo vệ một đoàn văn nghệ sĩ từ vùng tự do Liên khu 4, vào Thừa Thiên đi thực tế chiến trường. Trong đoàn này có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng: Thanh Tịnh, Phạm Duy, Bửu Tiến…
Đội bảo vệ chúng tôi có 8 người, vừa làm công tác bảo vệ, vừa dẫn chương trình, trinh sát. Trước khi lên đường nhận công tác, Chính uỷ Trung đoàn Trần Quý Hai đến gặp chúng tôi, chỉ thị: "Nhân tài là vốn quý của đất nước. Một đất nước không có nhân tài thì đất nước đó sẽ lụn bại. Bởi vậy các đồng chí phải bảo vệ văn nghệ sĩ như bảo vệ con ngươi giũa mắt mình". Chúng tôi đã thi hành chỉ thị của Chính uỷ hết sức nghiêm chỉnh. Ngày đó chiến trường Thừa Thiên bom đạn đầy trời, giặc càn quét ìiên miên. Suốt hai tháng, đạn giặc không đụng đến được cái lông chân đoàn văn nghệ sĩ. Đội bảo vệ chúng tôi hy sinh mất hết hai chiến sĩ, còn tôi bị thương ở cẳng chân, suýt bị cưa phía trên đầu gối.
Do được ở gần đoàn văn nghệ sĩ, cánh lính bảo vệ chúng tôi cũng tập tọng bắt chước các anh, làm thơ. Tôi cũng có làm được vài câu nôm na như sau:
"Nếu các anh bị bốn bề vây súng giặc - Chúng tôi sẽ xông ra lấy ngực che đạn cho các anh…".
Do đó về sau này, mỗi lần nhìn thấy các anh văn nghệ sĩ có tên tuổi, có tài năng phải sống khổ cực như nhà thơ Đoàn Phú Tứ, tôi lại chợt nhớ đến lời dạy của Chính uỷ năm nào… Khốn nỗi, bây giờ muốn che chở, bảo vệ nhân tài, không còn cần đến ngực, đến máu (thứ chúng tôi có sẵn) như ngày ở chiến trường. Mà cần tiền - thứ chúng tôi hoàn toàn không có - Bởi vậy, tôi phải sứ dụng đòn liều mạng, mà trong thâm tâm tôi biết đó là một biện pháp rất tồi tệ, không thể nào tha thứ được. Tôi coi thiên hồi ức này là sự tạ tội trước hương hồn nhà thơ Đoàn Phú Tứ - vì nội dung điều nóỉ dối của tôi không phù hợp với tính cách con người ông; đồng thời đây cũng là lời tự thú với đồng chí Lê Quang Đạo mà tôi hết lòng kính trọng, với các anh ở cơ quan Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, và với độc giả!
Tôi trông chờ vào sự phán xét dù nghiêm khắc đến đâu. Tôi hy vọng có như vậy tôi mới được cứu rỗi.
Hồ Tây – 1993
(Nguồn: 4phungquan.net 4 )
---------------
Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013
TRƯỚC NHỮNG "CỐI XAY GIÓ"
* Bút ký - VÂN THẢO
BVB - Tôi quen biết Tạ Quyết Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Sơn Trường ở Hải Phòng hoàn toàn ngẫu nhiên. Năm 2010 bộ phim truyền hình “Bí thư tỉnh ủy “ dài năm mươi tập do tôi viết kịch bản chiếu vào giờ vàng trên VTV1. Phim chiếu khoảng chục tập tôi nhận được khá nhiều cuộc điện thoại của bạn bè, người thân gọi chúc mừng. Cũng có khá nhiều cuộc điện thoại tôi chưa quen biết bao giờ, trong đó có điện thoại của Tạ Quyết Thắng. Tôi hỏi Thắng vì sao biết số điện thoại của tôi. Thắng bảo phải hỏi qua nhiều nơi.
Đến khi có một anh bạn làm việc ở Thông tấn xã khuyên hỏi qua xưởng phim truyền hình thế nào họ cũng biết. Thắng làm theo nên mới biết số điện thoại của tôi. Qua điện thoại Thắng hỏi tôi đủ mọi thứ chuyện xoay quanh bộ phim. Hỏi vì sao tôi biết rõ bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc đến như vậy. Cuối cùng Thắng ngõ ý muốn mời đoàn làm phim xuống Hải Phòng chơi. Nếu không xuống được thì Thắng xin hẹn gặp ở Hà Nội. Trước sự nhiệt tình của Thắng, tôi nói lại yêu cầu của Thắng với nhà văn Thùy Linh, phó giám đốc Trung tâm sản xuất phim truyền hình. Không nở từ chối tấm lòng nhiệt huyết của một bạn xem truyền hình như vậy, Thùy Linh đồng ý mời Thắng lên Hà Nội gặp anh chị em.
![]() |
| Một cảnh trong phim "Bí thư Tỉnh ủy" |
Thắng đặt một phòng máy lạnh tại một nhà hàng hải sản có tiếng trên phố Tràng Thi để tiếp anh chị em đoàn làm phim “Bí thư tỉnh ủy”. Vì Thắng và tôi chưa gặp nhau bao giờ nên tôi tả mình qua điện thoại cho Thắng dễ nhận. Thắng cũng tả mình để cho tôi nắm được. Vì giữ vai trò của người liên lạc nên tôi đến nhà hàng sớm chừng nửa tiếng. Tôi dừng xe và nhận ra Thắng người thấp, mặc quần đen, áo sơ mi trắng cộc tay, tóc cắt ngắn có mái phủ xuống trán như Thắng miêu tả trong điện thoại đang đứng trên lề đường trước cửa nhà hàng hải sản. Thắng cũng nhận ra tôi và đón tiếp bằng nụ cười mừng rỡ cùng cái bắt tay thật chặt. Thú thực khi chưa gặp Tạ Quyết Thắng tôi hình dung Thắng to béo, bệ vệ, đi đứng khệnh khạng thường thấy ở các đại gia. Không ngờ vị Tổng giám đốc, một người có đến bốn, năm nhà máy nằm rải rác trên địa bàn ba, bốn tỉnh với hàng ngàn cán bộ công nhân viên mà thân hình lại nhỏ thó, khuôn mặt hiền hậu và chất phác như một anh nông dân cày sâu cuốc bẫm, nói năng nhỏ nhẹ và kiệm lời. Đặc biệt tôi rất có cảm tình với nụ cười của Thắng. Một nụ cười làm cho người đứng trước mặt Thắng nhận ra ngay tấm lòng chân thành của người đang đối thoại với mình. Phải nói đó là nụ cười của con người có trái tim trong sáng, chân thật, không biết vụ lợi.
Thắng vui mừng và cảm động thật sự khi có mặt đầy đủ biên kịch, đạo diễn, biên tập và các diễn viên chính của bộ phim. Trong bữa tiệc Thắng cầm chén rượu chúc hết người này sang người khác miệng nhắc đi nhắc lại: “ Tôi xin cám ơn các anh các chị đ• tái hiện hình ảnh của bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc, một con người mà tôi hằng ngưỡng mộ từ xưa tới nay “. Giọng nói của Thắng nghe chân thành chứ không mang một chút nào khách sáo, đãi bôi. Tôi cứ tưởng buổi gặp gỡ ấy đ• làm Thắng thỏa mãn. Không ngờ một tuần sau Thắng gọi điện cho tôi bảo mình muốn lên thăm gia đình ông Kim Ngọc. Cũng may còn độ một tuần nữa là đến ngày giỗ lần thứ 31 ông Kim Ngọc, tôi bảo với Thắng chờ đến ngày đó lên thắp hương cho ông luôn. Lần ấy vợ chồng Thắng đánh xe từ Hải Phòng lên tận Vĩnh Yên và ra tận mộ thắp hương cho ông Kim Ngọc. Năm sau cách ngày giỗ chừng một tuần Thắng gọi điện cho tôi bảo mình mới đi Hồng Kông về và mua được một bức tranh rất đẹp để tặng gia đình ông Kim Ngọc. Thắng nhờ tôi làm mấy câu thơ để in vào bức tranh. Nhận lời Thắng, tôi làm bốn câu thơ gởi qua mail cho Thắng.
Theo bác thương dân trọn một đời.
Oan khiên gánh chịu một mình thôi.
Đắng cay chua xót ai người biết.
Một tấm lòng son mãi sáng ngời.
Thắng nhận mail rồi gọi điện thoại bảo muốn sửa hai câu sau cho hợp tình cảm của mình. Tôi bảo Thắng muốn chữa thế nào tùy ý.
Ngày ấy tôi không hiểu sao Thắng lại ngưỡng mộ ông Kim Ngọc đến mức gần như sùng bái. Một lần tôi đưa chuyện ấy ra hỏi Thắng, Thắng nói với tôi: Em xuất thân từ nông dân - tôi hơn Thắng trên mười tuổi nên Thắng thường xưng em với tôi - em từng làm chủ nhiệm Hợp tác xã nên hơn ai hết em hiểu cái cơ chế giáo điều, máy móc đ• biến người nông dân tuy sống trên mảnh ruộng của mình mà luôn luôn phải chịu cảnh đói nghèo. Em coi việc phá rào của bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc là một cuộc cách mạng trong nông nghiệp, vì thế em kính trọng ông ấy vô cùng. Thời đó thông tin về cuộc phá rào của ông Kim Ngọc không được phổ biến, em chỉ nghe qua dư luận là ông bị kết tội đi ngược lại chủ trương Hợp tác hóa của Đảng. Tuy vậy chuyện ông Kim Ngọc phá rào vẫn ám ảnh em. Em nghĩ nếu có dịp em sẽ thực hiện khoán hộ trong nông nghiệp để phá thế kìm kẹp của cơ chế và đưa lại ấm no cho người dân quê mình. Cái ước vọng ấy m•i đến năm ba mươi tuổi Thắng mới thực hiên được.
Dạo đó Thắng đang ở trong lực lượng công an mang quân hàm trung úy vừa tốt nghiệp đại học tại chức đạt loại ưu khoa quản lý kinh tế nông nghiệp khóa ba và phụ trách công tác phát triển đảng của Ban cán sự đảng công an. Có thể nói con đường công danh rạng rỡ đang mở ra trước mắt Thắng. Nhưng cái ước vọng đổi mới trong sản xuất nông nghiệp vẫn nung nấu trong lòng Thắng thế là Thắng xin ra quân về ứng cứ cử chức chủ nhiệm HTX Nam Sơn. Đó là năm 1981. Bạn bè thấy hành động của Thắng quá bất thường nên gọi Thắng là Thắng điên. Mặc dù không biết rõ cách khoán hộ của ông Kim Ngọc thế nào nên Thắng cứ suy nghĩ làm theo ý mình. Không ngờ mô hình khoán của Thắng gần giống với khoán 10 của Bộ chính trị ban hành năm 1988. Sau này Thắng mới biết tỉnh An Giang cũng thực hiện kiểu khoán 10 trước khi có Nghị quyết của Bộ chính trị. Từ vị trí một chủ nhiệm HTX Thắng bước từng bước lên vị trí trưởng phòng nông nghiệp huyện An Hải.
Hôm khánh thành nhà máy cọc bê tông dự ứng lực Minh Đức tại khu công nghiệp Hòn La ở Quảng Bình, Thắng mời tôi dự. Đây là nhà máy đúc cọc bê tông dự ứng lực thứ ba của Tổng công ty Sơn Trường sau hai nhà máy một ở Hải Phòng, một ở Sơn Tây Hà Nội. Buổi chiều đứng chờ khách đến dự bữa cơm thân mật do Thắng chiêu đãi tôi thấy Thắng đứng đăm chiêu nhìn ra biển. Tôi đến đứng cạnh và hỏi Thắng: Có chuyện gì hay sao mà trông chú có vẻ trầm tư thế? Vẫn cái giọng nhỏ nhẹ vừa đủ nghe, Thắng bảo: Biển Quảng Bình đẹp quá! ít khi em thấy Hải Phòng có màu nước xanh như thế này.
Đúng là biển cuối chiều đẹp thật. Mặt biển phẳng lặng một màu xanh biếc. Thỉnh thoảng mấy ngọn sóng lao xao trắng như tuyết đuổi nhau chạy vào bờ. Vài chiếc thuyền đi biển về muộn nhìn mảnh mai như những chiếc thuyền giấy. Tôi hỏi Thắng: Thắng sinh ra ở biển chắc yêu biển lắm phải không? Thắng cười đáp: Vâng. Em vừa yêu biển và cũng giống biển. Có lúc hiền hòa êm dịu như mặt biển chiều nay nhưng cũng có nhiều lúc sóng gió dữ dội tưởng chừng dìm cuộc đời em xuống tận đáy biển. Thắng quay lại chỗ bàn ăn lấy hai cái ghế nhựa một chiếc cho Thắng một chiếc cho tôi đặt xuống rồi ngồi nhìn ra biển. Thắng nói giọng tâm sự: Nói thật với anh, em cũng ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh mới được như ngày hôm nay. Nếu không có ý chí nghị lực chắc chắn em đã đầu hàng số phận và quay về quẩn quanh bên mấy sào ruộng mảnh vườn chứ đâu dám đứng nhìn ra biển cả thế này. Em nghiệm ra một điều. Ông trời luôn ở cạnh chúng ta. Ông không cho ai tất cả nhưng cũng không lấy hết của ai. Vấn đề là anh có nghị lực để vươn lên hay không. Với em mỗi bước thăng trầm là một nấc thang đưa con người ta bước lên những bước cao hơn. Cuộc đời là vậy. Em đã để tuột khỏi tay mình nhiều cơ hội để thăng tiến chỉ vì tính khí của em khác người. Thắng kể mùa hè năm 1971 bấy giờ Thắng đang ở trong lực lượng công an. Trước khi sang Lào làm nhiệm vụ Thắng được nghỉ phép về quê thăm nhà. Một hôm Thắng đang đi trên bờ sông bỗng thấy mọi người kêu cứu. Thắng chạy đến thì thấy có hai người đang chới với giữa dòng nước. Những người đứng trên bờ sợ dòng nước chảy siết nên không dám cứu. Thế là Thắng để luôn cả quần áo nhảy xuống kéo hết người này đến người khác vào bờ.
Khi nghe Thắng kể lại chuyện này đồng nghiệp khuyên Thắng nên viết báo cáo tường trình để nhận danh hiệu khen thưởng (rất có thể được phong danh hiệu anh hùng). Thời ấy danh hiệu rất quan trọng. Nó là một trong những tiêu chuẩn để được đi học, được lên cấp lên chức, để kết nạp đảng. Nhưng Thắng lại coi đó là chuyện thường tình, là nghĩa vụ làm người chẳng việc gì mà phải tâng công. Lần thứ hai Thắng để tuột khỏi cơ hội lần nữa. Trước khi Thắng lên đường sang công tác ở Lào, một cô bạn gái đã mua tặng Thắng toàn bộ sách giáo khoa cấp ba và khuyên Thắng nên tự học để sau này vào đại học. Cảm kích trước tấm lòng của người bạn gái, Thắng vừa công tác vừa tự học. Chỉ trong vòng chín tháng Thắng đã học xong chương trình cấp ba. Thấy Thắng có chí tiến thủ đơn vị liền liên hệ để Thắng về Hà Nội dự thi. Thắng lại đỗ loại ưu kỳ thi tốt nghiệp niên khóa 1971 – 1972 thuộc khu Hoàn Kiếm.
Tháng 3 năm 1975 từ chiến trường Lào về nước cơ quan cho Thắng chọn bất cứ trường đại học nào, tổ chức sẽ tạo điều kiện cho Thắng đi học. Nhưng Thắng lạ chọn con đường trở về quê làm công an huyện. Từ công an tỉnh nhảy về làm chủ nhiệm HTX rồi bằng con đường nông nghiệp đi lên chức trưởng phòng nông nghiệp huyện để nhận thêm những bước thăng trầm khác.
![]() |
| Bãi Vân Tra |
Năm 1988 lúc Thắng đang làm Trưởng phòng nông nghiệp huyện An Hải thời đó chương trình xuất khẩu rau sang Liên Xô theo hiệp định trả nợ rất lớn. Trong khi đó bảy HTX trồng rau ở An Hải thường thiếu rau giống trầm trọng. Thắng lại nổi tiếng về trồng rau giống và rau trái vụ khi còn làm chủ nhiệm HTX Nam Sơn. Thắng nổi tiếng đến nỗi người ta gọi Thắng là Thắng Rau. Thấy sản xuất rau giống có thể đưa lại lợi lớn cho bà con nông dân, Thắng nảy ra ý định thuê một hecta ở b•i kho Văn Tra để lập trại rau giống Vân Tra. Khu b•i này người ta dùng để tập kết phân bón, hóa chất, than cho cả huyện An Hải nhưng khi xây đập Cái Tắt thì khu b•i này bỏ hoang. Nhiều người thấy Thắng có ý định thuê trồng rau giống trên b•i đất này cho rằng Thắng gàn vì đến cây cỏ cũng không mọc nổi trên đám đất đầy than bụi và hóa chất mà tính chuyện trồng rau giống thì chỉ có Thắng là một. Nhưng Thắng thì biết mình phải làm gì cho đám đất hoang ấy đem lại tiền bạc. Vấn đề là lấy tiền đâu để đầu tư?
Giữa lúc Thắng đang loay hoay đi vay mượn bà con bạn bè thì ngân hàng nông nghiệp đưa ra chủ trương cho cá thể vay. Thắng mừng như bắt được vàng. Anh tìm đến ngân hàng nông nghiệp huyện An Hải xin mở tài khoản cá nhân vay 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) với dự án trồng đậu tương ở bãi Văn Tra để cải tạo đất. Thấy số tiền vay khá lớn nên đích thân giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp thành phố và giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Hải Phòng trực tiếp thẩm tra dự án. Sau khi vay được tiền ngân hàng cộng với số tiền vay của bạn bè, bà con Thắng bắt đầu cải tạo đất ở Van Trang. Anh đổ vào đó hàng trăm tấn vôi, phân lân đỏ, hàng trăm tấn phân gà cùng với lớp đất dày đến 30cm lấy từ gò Đồng mang về. Thắng nhẩm tính chỉ cần ba năm bán được cây giống sẽ thu hồi được vốn. Nhưng rồi phúc bất trùng lai họa vô đơn chí. Vừa cải tạo xong bãi chưa trồng được rau thì Liên Xô tan rã. Đó là năm 1989. Thắng gần như gục ngã vì đã nướng vào bãi đất Văn Tra năm trăm ngàn đồng vay của ngân hàng và gần một triệu rưỡi đồng vay của bạn bè, bà con. Đứng nhìn b•i đất vừa bỏ ra gần hai triệu đồng vừa cải tạo xong giờ đây đất hoang lại trở về với đất hoang Thắng gần như cái xác không hồn. Để tránh tai tiếng của một trưởng phòng nông nghiệp huyện bị vỡ nợ, Thắng viết đơn xin với huyện ủy và ủy ban huyện An Hải cho mình từ chức. Năm đó Thắng vừa tròn ba mươi bảy tuổi. ở cái thời buổi tiền và quyền đi liền với nhau để tạo nên sự nghiệp thì Thắng chẳng còn gì. Nhưng bây giờ mà buồn nản bi quan càng làm cuộc đời mình lún sâu xuống bùn đen mà thôi.
Món nợ năm trăm ngàn đồng của ngân hàng và một triệu rưỡi của bà con bạn bè không thể không trả. Nhưng lấy gì mà trả khi chẳng còn một xu dính túi. B•i đất một hecta được cải tạo ở Văn Tra cỏ bắt đầu đua nhau mọc như cười vào mặt Thắng. Thắng quay sang trách Liên Xô, coi đó như là nguyên nhân đẩy Thắng vào cảnh nợ nần như Chúa Chổm. Mà sao Liên Xô lại sụp đổ vào lúc này mới được chứ. Để Thắng thu hồi được vốn rồi sụp đổ có được không. Thắng bật cười với sự trách móc vô lí của mình. Trong cơn túng quẫn Thắng bỗng nhớ đến câu “phi thương bất phú”. Đi buôn! Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Thắng nhưng rồi ý nghĩ ấy vụt tắt giống như khi lóe lên. Từ nhỏ Thắng đã ghét nghề đi buôn nên khi nghĩ đến hai tiếng “ con phe “ đầy mỉa mai vang lên trong đầu mình Thắng bỗng đâm ra ngần ngại. Nhưng rồi món nợ khổng lồ hai triệu đồng đã giúp Thắng vượt qua hai tiếng “ con phe “ để dấn thân vào nghề đi buôn. Thắng buôn không thiếu thứ gì. Từ phân bón, thuốc trừ sâu, thóc gạo, sắt thép và buôn cả ô tô. Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hà Nội…Nghe nói chỗ nào có nguồn hàng là ở đó có mặt Thắng. Vốn bản chất thật thà không biết lươn lẹo nên bạn hàng rất tin Thắng. Có tiền trả ngay, không có tiền người ta sẵn sàng cho nợ. Không một đồng vốn trong tay mà buôn đâu trúng đó. Hóa ra mình cũng có năng khiếu đi buôn. Thắng nghĩ và tự khen mình. Chỉ một thời gian chừng vài năm Thắng đã có đồng ra đồng vào trong túi và bắt đầu tính đến chuyện trả nợ. Trước mắt phải trả cho ngân hàng sau đó tính chỗ nào chịu lãi nhiều trả trước, lãi ít trả sau. Cháo húp quanh, nợ trả dần chẳng mấy chốc món nợ hai triệu bạc Thắng trả hết.
Gần mười năm lăn lộn với thương trường đã dạy Thắng nhiều bài học bổ ích. Thắng nhìn đời và tính toán chuyện làm ăn bằng đôi mắt năng động, nhạy bén và tỉnh táo hơn. Với đầu óc của một “ thương gia “, Thắng nhận ra ngành xây dựng đang phát triển, nhu cầu cọc bê tông khá lớn. Thế là Thắng dồn vốn liếng kiếm được trong mấy năm và vay thêm xây dựng nhà máy đúc cọc bê tông thương phẩm. Dự đoán của Thắng không sai. Sản phẩm ra đến đâu hết đến đó. Biết rõ và tự tin vào năng lực của mình tháng 3 năm 1991 Thắng thành lập Công ty TNHH mang tên Sơn Trường. Từ cọc bê tông thương phẩm Sơn Trường đầu tư xây dựng thêm nhà máy sản xuất cọc bê tông li tâm dự ứng lực với sự giúp đỡ bằng chuyển giao công nghệ và đào tạo đội ngũ kỹ sư của Công ty bê tông hàng đầu Hàn Quốc Sam Bu và Công ty cung cấp thiết bị Hoa San.
Sau này hai công ty Sam Bu và Hoa San trở thành đối tác và bạn hàng của Tổng Công ty Sơn Trường. Hiện tại Tổng Công ty Sơn Trường có ba nhà máy sản xuất cọc bê tông dự ứng lực mang tên Minh Đức. Một ở Hải Phòng, một ở Sơn Tây Hà Nội và tháng 6 năm 2013 xây dựng thêm nhà máy bê tông Minh Đức tại khu công nghiệp Hòn La tỉnh Quảng Bình để cung cấp cho các tỉnh miền Trung. Ngoài ba nhà máy đúc cọc bê tông, Tổng Công ty Sơn Trường còn một nhà máy cơ khí chuyên sản xuất vật liệu cung cấp cho mấy nhà máy sản xuất cọc bê tông và thị trường xây dựng cầu cảng. Một nhà máy bê rông thương phẩm mang tên Việt Đức ở Hưng Yên. Không tính nhà máy Minh Đức vừa mới khánh thành tháng 6 năm 2013 ở Quảng Bình dự kiến cho ra 180 sản phẩm/ ngày, riêng Minh Đức ở Hải Phòng và Sơn Tây sản lượng năm 2011 là 2.369.388m. Năm 2012 tình hình xây dựng cả nước có chững lại nhưng sản lượng của Sơn Trường giảm không đáng kể. Ngoài sản xuất cọc bê tông dự ứng lực, Tổng Công ty Sơn Trường còn hợp đồng thi công cầu cảng và nền móng. Với thế mạnh của mình đ• tạo ra doanh thu ba năm gần đây trung bình đạt 2.300 tỉ đồng. Có thể khẳng định Tổng công ty Sơn Trường đang là Tổng công ty hàng đầu sản xuất cọc bê tông dự ứng lực song hành với thương hiệu nhà thầu thi công nền móng, cầu cảng có uy tín hiện nay.
Nhớ lại những ngày đầu khởi nghiệp chẳng phải dễ dàng gì. Tiền trong túi không có bao nhiêu cộng với lời khuyên của bạn bè rút bài học của bãi Văn Trai không nên mạo hiểm để gánh thêm công nợ lần nữa. Ngay ông Bô trưởng Bộ xây dựng thời đó khi nghe Thắng trình bày cũng khuyên không nên làm cọc bê tông dự ứng lực vì thị trường miền Bắc chưa ai sử dụng loại cọc ấy. Không phải Thắng không trằn trọc nhiều đêm để suy nghĩ trước những lời khuyên chân thành của bạn bè. Nhưng những năm lăn lộn trên thương trường với đủ cách, đủ kiểu buôn đã cho Thắng bài học thương trường là do mình tạo ra.
Đất nước mình có bờ biển dài mấy ngàn cây số. Tỉnh nào cũng có cửa biển, sông ngòi làm gì mà chẳng có thị trường. Nghĩ vậy Thắng liền tìm đến ngân hàng Nông nghiệp xin vay bốn mươi tỉ đồng trung hạn để xây dựng nhà máy. Trong lúc tưởng như ăn nên làm ra thì một tai họa lại ập đến do sự ấu trĩ của mình. Một hôm đọc báo trên mạng thấy đăng tải chuyện ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển quá chậm. Khi các nước láng giềng đạt từ 350 đến 400 triệu hécta năm thì Việt Nam vẫn loay hoay con số 70 triệu. Đọc xong bài báo tự nhiên nỗi tự ái dân tộc trong người bốc lên cộng với máu nông dân trỗi dậy không cần đắn đo suy nghĩ Thắng thuê hàng trăm hecta đất của nông dân ba huyện rồi lên kế hoạch sản xuất. Đáng ra Thắng phải họp dân để trao đổi kỹ với họ trước nhưng Thắng không làm mà bỏ tiền ra quy vùng, hoàn chỉnh hệ thống mương máng trước.
Đến khi hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi phục vụ cho công nghiệp hóa, Thắng bắt đầu giao khoán cho các hộ thì họ không nhận mà chỉ muốn chấm công ăn lương thôi. Khi nhận ra sự sa chân lỡ bước của mình rồi rút ra cũng chẳng được. Những cánh đồng được đầu tư hệ thống thủy lợi hiện đại đem biếu không cho xã, xã không nhận mà bắt Thắng phải trả lại vị trí ban đầu cho nên khi làm mất một giờ hoàn thổ lại mất ba. Bị mất hàng tỉ đồng không xót nhưng đau khổ nhất là chẳng có ai đồng cảm với mình. Chính quyền và cán bộ xã chọn cách tốt nhất là im lặng hoặc ngả theo dân đòi quyền lợi. Báo chí la ó, chê bai với những lời lẽ độc địa. Cái tâm của mình là muốn biến những cánh đồng thu nhập thấp trở thành những cánh đồng rau sạch sản xuất theo quy trình công nghiệp để cải thiện đời sống cho bà con nông dân thì bà con từ chối để trở về với kiếp làm bữa hôm ăn bữa mai thì Thắng mang tiếng là kẻ đầu cơ trục lợi. Vụ Văn Tra cũng muốn tạo điều kiện để cải thiện cuộc sống của bà con nông dân đã thất bại với món nợ trả bốn, năm năm mới hết. Giờ đến vụ này. Thôi thì tấm lòng trong sạch từ nay xin chừa. Nghĩ cho người khác hóa ra mang họa cho mình.
Một đặc điểm tôi nhận thấy ở Thắng là rất tôn trọng trí thức và công nghệ mới. Có lẽ đây cũng là một trong những bản tính của Thắng. Thắng có khá nhiều bạn bè là những nhà khoa học có tên tuổi. Trong số gần 1400 cán bộ công nhân viên của Tổng công ty thì có đến 250 người là cán bộ kỹ thuật và kỹ sư. Một số kỹ sư Thắng cử đi đào tạo ở nước ngoài. Tôi đã đến xem khu nuôi tôm công nghệ cao của Thắng ở xã Phù Long huyện Cát Bà. Đầm tôm có diện tích 174 hecta. Tôi thực sự kinh ngạc đầu óc của Thắng. Nhìn đầm tôm không khác gì một khu công nghiệp. Khu nuôi tôm giống như một nhà máy lọc nước và cung cấp ô xy. Toàn bộ đầm tôm được kè bằng xi măng, đáy lót ni lông. Trong tương lai đáy đầm cũng được đổ bê tông. Toàn bộ đường đi trong khu vực đều bằng đường bê tông. Hai trạm điện cung cấp cho hệ thống máy móc và đèn pha bảo vệ chạy chung quanh khu đầm. Trong khu đầm có nhà ăn, nhà ở cho công nhân.
Những người ở địa phương làm việc hợp đồng thì được ăn một bữa trưa miễn phí. Còn cán bộ công nhân viên ở xa thì tiêu chuẩn được hai bữa trưa và tối. Không phải chỉ ở đầm tôm mà cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty đều được quan tâm hết sức chu đáo. Khi tôi hỏi anh Lê văn Thủy phụ trách sản xuất ở nhà máy cơ khí của Công ty về chuyện lương tiền và đời sống của công nhân, anh Thủy nói: Tổng giám đốc rất quan tâm đến đời sống của chúng em. Lương thấp nhất của chúng em cũng hơn năm triệu. Các tháng lương bao giờ Công ty cũng giữ lại mấy phần trăm coi như tiền bỏ ống cho công nhân. Đến cuối năm gộp số tiền ấy lại cộng với lương thưởng chúng em có một món tiền vài ba chục triệu để tiêu tết. Nhiều công nhân nhờ có chủ trương này mà cuối năm mua được xe máy.
Tôi hỏi Thắng trong cơn suy thoái kinh tế của cả nước Sơn Trường có chịu sức ép lớn không? Thắng bảo làm sao mà không ảnh hưởng được. Nhưng em tìm cách chống chọi quyết liệt nên ảnh hưởng không đáng kể. Không có công nhân nghỉ việc. Lương cán bộ công nhân viên em không nợ lấy một ngày. Làm tốt vẫn được thưởng. Hiện nay lương bình quân của Sơn Trường gần sáu triệu đồng. Không những thế trong cơn suy thoái em còn xây dựng thêm một nhà máy bê tông dự ứng lực ở Quảng Bình để cung cấp cho các tỉnh miền Trung. Tôi lắc đầu chịu Thắng.
Nói về Tạ Quyêt Thắng không thể không nhắc đến chuyện Thắng đấu tranh quyết liệt với Bộ GTVT về dự án cảng Lạch Huyện tại Hải Phòng. Có lẽ đây là chuyện để lại ấn tượng nhất trong tôi. Bởi nó bộc lộ rõ nhất phẩm chất con người của Thắng. Thẳng thắn, trung thực. Lúc nào cũng đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân lên trên hết. Trong cái cơ chế đồng tiền đang thống trị, mẫu người như Thắng không phải là nhiều.
Việc xây dựng cảng ở khu vực Lạch Huyện đã được nghiên cứu, khảo sát từ nhiều năm nay. Nhưng mải đến ngày 15 tháng 3 năm 2011 Bộ GTVT mới ra quyết định 476/QĐ-BGTVT khởi công xây dựng. Theo phương án của bộ GTVT phê duyệt, cảng Lach Huyện thuộc phía nam đảo Cát Hải và Cát Bà. Giai đoạn khởi công có mức đầu tư 25. 200 tỉ đồng (hai lăm ngàn hai trăm hai tám) được chia thành hai hợp phần. Hợp phần A do Cục Hàng hải Việt Nam làm chủ đầu tư trị giá khoảng 17.000 tỉ đồng ( mười bảy ngàn ) do nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn ODA Nhật Bản và đối ứng. Hợp phần B do Vinalines ( một đơn vị đang gặp nhiều khó khăn ) và đối tác Nhật Bản – Công ty Molnykit thực hiện có tổng mức đầu tư khoảng 8.230 tỉ đồng. (tám ngàn hai trăm ba mươi). Điều khiến Thắng không yên tâm về dự án này là khu vực Hải Phòng tập trung nhiều cửa sông đổ nước ra biển mang theo hàm lượng phù sa rất lớn, tốc độ bồi lắng nhanh nên từ bao nhiêu năm nay chuỗi cảng Hải Phòng thường xuyên chịu ảnh hưởng rất lớn. Hàng năm công tác duy tu nạo vét tốn hàng trăm tỉ đồng mới đảm bảo được độ sâu 6,5 đến 7m cho tàu ra vào an toàn. Sa bồi chủ yếu chảy từ lưu vực sông Hồng chảy qua hệ thống sông Thái Bình, cụ thể là chảy vào sông Cấm. Thắng thấy rõ hạn chế của quyết định 476 là phải chi từ 7.000 tỉ (bảy ngàn) đến 12.000ti (mười hai ngàn) để nạo vét khoảng 40 triệu m3 bùn đổ ra biển.
Đó là chưa tính hàng năm có khoảng gần ba triệu mét khối bùn quay trở lại cần phải nạo vét tốn hàng trăm tỉ đồng. Vốn là đơn vị thi công cầu cảng lại am hiểu điều kiện địa lý và thủy văn của Hải Phòng, lăn lộn với nghề cảng biển bao nhiêu năm, thông thuộc từng lạch nước, từng cơn thủy triều lên xuống hàng ngày, Thắng thấy choáng váng khi đọc quyết định 476 của Bộ GTVT. Bản thân Thắng từng lăn lộn trên đường đời chắt bóp tính từng đồng tiền lẻ khi tính toán làm ăn nên khi đọc đến con số 25.200 tỉ đồng Thắng thấy khủng khiếp quá. Quyết định lập cảng Lạch Huyện để giúp Hải Phòng phát triển bền vững và đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu ở các tỉnh phía Bắc là một chủ trương đúng. Nhưng phải dùng số tiền khủng khiếp như dự án của quyết định 476 Thắng cảm thấy có cái gì đó bất an. ẩn chứa bên trong dự án những khuất tất khó hiểu.
Mặt khác dự án của Bộ GTVT nằm sâu trong đất liền nên khi thi công phải nạo vét khu nước trước bến và luồng tàu vào cảng đến cao độ -14.0m dài trên 17km với khối lương nạo vét lên đến 40 triệu mét khối. Chi phí từ 7 – 12.000 tỉ đồng. Nếu khối lượng đó mà đổ ra vùng dự trữ sinh quyển Cát Bà, Hạ Long, một vùng rất nhạy cảm có đặc điểm khí tượng thủy văn khá phức tạp sẽ tiềm ẩn những rủi ro khó lường trong tương lai. Phải làm sao để Bộ GTVT tính toán lại dự án chứ đừng để rơi vào tình trạng tiền mât tật mang. Trằn trọc hết ngày này sang đêm khác, cuối cùng Thắng quyết định phải viết thư công văn cho bộ trưởng Đinh La Thăng.
![]() |
| Sơ đồ cảng Lạch Huyện |
Quyết định 476 của Bộ GTVT như một tảng đá khổng lồ đè lên người Thắng đến nghẹt thở. Có những đêm nằm nghĩ lại thấy sự bức xúc của mình thật vô lí. Chuyện của nhà nước, nhà nước làm chứ có ảnh hưởng gì đến Công ty của mình đâu mà phải ngày đêm dằn vặt. Nghĩ vậy nhưng trách nhiệm công dân trong người Thắng lại lấn át lối nghĩ vô trách nhiệm của mình. Một đêm đang dằn vặt như vậy bỗng Thắng nhớ đến chuyện cuối năm 2007, khi đó Tổng công ty Sơn Trường đã trở thành nhà thầu thi công nền móng cầu cảng, Công ty đã đổ mẻ bê tông đầu tiên 70m3 cho nhà máy xi măng Hạ Long cách xa bờ 1.500mét. Một tia sáng lóe lên trong đầu Thắng. Vì sao không đưa cảng Lạch Huyện ra xa bờ nhỉ? ý nghĩ ấy cứ đeo bám Thắng gần như trắng đêm. Sáng dậy Thắng đứng trước tấm bản đồ khu vực Hải Phòng nhìn chằm chằm vào khu vực Cát Hải. Bao năm lui tới Thắng thông thuộc vùng này đến từng chi tiết. Về phía đông nam Cát Hải có một doi cát nổi lên. Khi thủy triều rút xuống 0,5m một doi cát có diện tích khoảng bốn, năm ngàn hecta được tạo ra bởi sa bồi từ hai cửa sông Nam Triệu và Lạch Huyện. Chạy cùng doi cát đó là Lạch Huyện có độ sâu tự nhiên từ 7mét tại đầu Cát Hải sâu dần đến cao độ âm 14mét tại kilômét 16 rất thích hợp cho việc xây dựng một hệ thống cảng nước sâu hiện đại, lại không phải nạo vét đổ hàng chục triệu mét khối bùn đất ra khu sinh quyển Cát Bà - Hạ Long.
Với tư duy ấy Thắng cặm cụi tính toán lên phương án một hệ thống cảng hiện đại kết hợp với khu công nghiệp kỹ thuất cao và sạch. Phương án này tận dụng tối đa những ưu đãi của thiên nhiên ban tặng. Theo Tạ Quyết Thắng chỉ việc kè và lập bãi mở rộng đảo Cát Hải về phía đông nam 3.200 hecta tương đương với diện tích đảo Cát Hải. Lợi dụng điều kiện tự nhiên bám theo Lạch Huyện 14km là doi cát giữa Cát Hải có cao độ rất thích hợp để tạo thành khu b•i có diện tích hàng ngàn héc ta, có đường giao thông kết nối với giao thông nội địa cho nhiều làn xe chạy suốt dọc chiều dài 14km. Như vậy ta sẽ có một hệ thống cảng sâu hiện đại mà không cần nạo vét, không ảnh hưởng gì đến sinh quyển khu vực Cát Bà - Hạ Long. Ngoài ra còn được một khu công nghiệp rộng hàng ngàn hecta. Nếu thực hiện theo phương án này dự toán tổng chi phí chỉ mất 19.200 tỉ đồng. So với phương án 476 của Bộ GTVT tiết kiệm cho nhà nước 6.000tỉ đồng. Theo Thắng thì phương án này không cần sử dụng vốn vay ODA mà huy động vốn của các doanh nghiệp trong nước.
Lập xong phương án Thắng tham khảo ý kiến của mấy nhà khoa học am trường cảng biển sau đó gửi cho Bộ GTVT. Bộ GTVT cũng quan tâm đến đề xuất của Tổng công ty Sơn Trường nên đã tổ chức một cuộc họp giữa Sơn Trường với các cơ quan, đơn vị liên quan của Bộ. Cuộc họp không đưa lại kết quả vì Bộ GTVT vẫn bảo vệ quyết định 476 của mình. Còn phương án của Sơn Trường cung cấp , Bộ GTVT đánh giá là chưa được lập bởi đơn vị, cá nhân có tư cách hành nghề tư vấn chuyên ngành, không được thực hiện theo quy trình, quy phạm chuyên ngành và quy định hiện hành về quản lí đầu tư xây dựng, không có cơ sở đảm bảo tính khả thi về Kinh tế, Kỹ thuật. Sau này Bộ GTVT còn ra thông cáo báo chí công khai bác bỏ phương án của Sơn Trường.
Quyết bảo vệ cái gì mình cho là đúng, là có lợi cho đất nước, Thắng gửi thư công văn đi khắp nơi từ Thành ủy và ủy Ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, Tổng hội xây dựng VN cho đến cơ quan quốc hội và các cá nhân lãnh đạo đảng và nhà nước như tổng bí thư, chủ tịch nước và thủ tướng chính phủ, bộ trưởng bộ tài chính, bộ trưởng bộ kế hoạch đầu tư và một số đại biểu quốc hội như ông Dương Trung Quốc, Trần Du Lịch…nhằm mục đích vừa thông báo vừa tạo dư luận. Riêng bộ trưởng Đinh La Thăng Thắng gửi đến chín thư công văn và ông Tsuno Motonori trưởng địa diện JICA ba lá.
Câu chuyện hai phương án về cảng Lạch Huyện, một của Bộ GTVT, một của Tổng công ty Sơn Trường khiến một số nhà khoa học và giới báo chí quan tâm vào cuộc. Ngày 26 tháng 6 năm 2012 Tổng hội Xây dựng VN mở cuộc tọa đàm giữa Tổng công TNHH Sơn Trường và 36 nhà khoa học thuộc Tổng hội Xây dựng VN, Hội cảng đường thủy, các trường đại học và Viện nghiên cứu, Công ty tư vấn và các chuyên gia. Đại diện một số cơ quan thuộc bộ GTVT và Bộ Kế hoạnh đầu tư cùng dự. Sau khi nghe Sơn Trường trình bày báo cáo về phương án vị trí cảng nước sâu Lạch Huyện do Công ty đề xuất là chọn vị trí cảng trung chuyển ở ngoài khơi cách Bến Gót 16km và nghe trình bày về phương án của Bộ GTVT đã được chính phủ phê duyệt, đa số của các nhà khoa học hoan nghênh ý tưởng chuyển vị trí cảng Lạch Huyện ra vị trí xa bờ, phù hợp với xu hướng chung trên thế giới khi xây dựng cảng nước sâu.
Theo ý kiến của các nhà khoa học phương án của Sơn Trường có những ưu việt:
1) - Độ nước sâu lớn, khối lượng nạo vét ban đầu không đáng kể và số lượng sa bồi rất nhỏ vì ít bùn cát mang từ phía trong sông ra nên hầu như không phải nạo vét luồng tàu vì khu nước hàng năm thuận lợi cho việc phát triển một cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn.
2) - Việc mở rộng không gian cảng khá dễ dàng khi nhu cầu vận tải biển tăng lên với việc nối thêm vào phía trong và đặt thêm cầu tàu, bến b•i theo quy hoạch đến năm 2020.
3) - Vị trí xây dựng cảng được che chắn bởi đảo Cát Bà, Cát Hải nên công trình chắn sóng, lặng nước cho cảng chỉ cần quan tâm ở phía Đông và phía Nam. Các nhà khoa học cũng chỉ ra phương án của của Bộ GTVT có khá nhiều ngược điểm không thích hợp cho một cảng nước sâu với lí do: 1 - Khối lượng nạo vét rất lớn khoảng 40 triệu m3, chi phí khoảng từ 7 đên 12 nghìn tỷ đồng. 2 - Phức tạp trong thi công. Phải huy động tổng lực các loại tàu hút bùn nhập ngoại với công suất 6.000ps và các loại tàu, xà lan hút bùn trong nước công suất 20.000m3. 3 -Tổn hại nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Việc đổ 40 triệu m3 bùn đất xuống biển thì toàn bộ khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, Khu du lịch Đồ Sơn và kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. 4 - Mức độ sa bồi luồng tàu và vốn đầu tư duy tu khai thác lớn do cảng nằm ngay trên cửa sông nên khả năng sa bồi sẽ rất lớn.
Để duy trì được độ cao luồng tàu và khu nước thì hàng năm phải duy tu nạo vét không dưới 3 triệu m3 bùn đất. Một câu hỏi đặt ra liệu lợi nhuận của cảng Lạch Huyện có đủ bù đắp cho việc duy tu nạo vét hàng năm không. Một số nhà khoa học cho rằng dự án của JICA không phù hợp với thực tế trong khi tình hình kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn. Nợ công trong nước đang ở mức báo động đỏ. Còn phương án của Sơn Trường thể hiện tâm huyết của một doanh nghiệp vì lợi ích của địa phương và cả nước, có ý tưởng tiếp cận với thế giới. Tuy nhiên các nhà khoa học yêu cầu Tổng công ty Sơn Trường phải làm đầy đủ hồ sơ kỹ thuật và bổ sung những khảo sát, tính toán chi tiết theo đúng quy định hiện hành. Đồng thời kiến nghị với chính phủ tạm dừng phương án 476 để nghiên cứu tiếp.
Ngày 29 tháng 6 năm 2012 Tổng hội xây dựng VN gửi văn bản cuộc tọa đàm cho thủ tướng chính phủ, Bộ GTVT, Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài nguyên môi trường. Thắng tràn trề hy vọng sau buổi tọa đàm. Nhưng rồi cũng giống như dự Bôxít, các nhà khoa học nói cứ nói, kiến nghị cứ kiến nghị, báo chí viết cứ viết. Còn dự án đã quyết rồi, tiền của nước ngoài đã nhận rồi thì đừng có hòng thay đổi. Nhưng những Bộ, những Cục …sau khi đặt bút ký xong có nghe thiên hạ nói gì không. Chỉ xin trích dẫn vài ý kiến trên các tờ báo thuộc diện quản lí của nhà nước: “ Hội xây dựng trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam là tổ chức đầu tiên quan tâm đến Lạch Huyện.
Trong quá trình tham vấn, l•nh đạo Bộ GTVT bốn lần thúc ép, thuyết phục l•nh đạo Hội Xây dựng ký công văn xác định cảng Lạch Huyện là công trình cấp bách !?. Gần đây Mặt trận TQVN dự định tổ chức hội thảo về cảng Lạch Huyện theo đúng chức năng giám sát và phản biện nhưng Bộ trưởng Bộ GTVT khuyến cáo không nên làm?!...Báo cáo tác động môi trường (ĐTM) chưa được hội đồng thẩm định đánh giá phê duyệt, Bộ GTVT đ• vội vàng cho mở gói thầu số 6…”. ( Tin Mới dẫn nguồn của Dân Trí). Cũng trên Tin Mới nhà báo Lê Trung Thành viết: “ Riêng giai đoạn khởi động đ• đầu tư bằng vốn ngân sách 900 triệu USD cho hợp phần A bao gồm hai hạng mục lớn ở hợp phần B là kè gầm bến container và tôn tạo xử lí nền đất yếu khu vực trong cảng, chi phí 1.662 tỉ đồng tương đương 80 triệu USD. Số tiền này đáng ra nhà đầu tư xây dựng cảng Liên doanh Việt Nam và Nhật Bản phải bỏ tiền ra nhưng họ lấy lí do nếu chi tiền vào hai hạng mục này lợi nhuận hàng năm sẽ giảm xuống không đạt mức cần thiết để JICA xem xét cho vay vốn.
Trước sức ép ấy Bộ GTVT đành gánh đỡ và tự giải thích rằng phía “ta” không nên so đo quá, cho dù mình thiệt thòi chút ít nhưng về lâu dài các Công ty XNK của mình sẽ hưởng lợi. Ưu ái nhà đầu tư tới mức sẵn sàng hy sinh 80 triệu USD để làm yên lòng đối tác Nhật Bản, làm quà mừng một dự án hợp tác công tư (PPP) đầu tiên của ngành hàng hải…”. Trong một bài báo khác GS TSKH Nguyễn Ngọc Lung đặt câu hỏi: “ Tách phần xây dựng cầu đường thành dự án khác, tách giai đoạn đầu thành dự án khởi động như hiện nay thì quy mô dự án dù 1,2 tỉ USD vẫn không cần báo cáo quốc hội, không cần thủ tướng phê duyệt. - Vì sao một dự án lớn, chuyên môn sâu mà không phải đấu thầu, nhất là đấu thầu quốc tế thì mới chọn được nhà thầu giỏi, mới tiết kiệm được tiền, rút ngắn được thời gian - Thuê người cho vay tiền là Nhật Bản khảo sát, thiết kế dự toán liệu có bị đội giá lên không, sao không thuê thêm một đối tác trong nước để đối chứng? “
Công bằng mà nói Bộ GTVT cũng có công văn qua lại với Tổng Công ty Sơn Trường và cũng đã tổ chức vài cuộc họp của các ban ngành để bàn về phương án của Sơn Trường. Trong đó có mấy cuộc họp có mời Tổng công ty Sơn Trường tham gia. Nhưng công văn cũng như kết luận các cuộc họp vẫn là phương án của Sơn Trường quá tốn kém, chỉ dừng ở ý tưởng, không có cơ sở khoa học và không khả thi. Còn phương án của Bộ GTVT đã được thủ tướng phê duyệt, dự án đầu tư đ• làm đầy đủ. Và để tạo dư luận, bộ GTVT đã dùng các phương tiện truyền thông của nhà nước phản ánh thông tin một chiều, hướng dư luận hiểu dự án của Bộ GTVT là rất bài bản, nghiêm túc, đúng quy trình và tối ưu. Còn phương án của Sơn Trường chỉ dừng lại ở ý tưởng và không khả thi, khó làm và giá thành rất cao. Nói cho cùng cảnh con đẻ và con nuôi không phải mới diễn ra giữa Tổng công ty tư nhân Sơn Trường và Bộ GTVT mà đ• diễn ra từ lâu. Tập đoàn và Tổng công ty nhà nước xưa nay vẫn được coi là con đẻ. Vì vậy nó có sài đẹn chết yểu thì cũng phải tìm mọi cách bơm tiền để vực nó sống dậy. Còn cái anh “con nuôi tư nhân” khi nó béo tốt thì bảo do công mình nuôi dạy nhưng khi nó ốm đau ngắc ngoải thì mặc nó, khôn sống mống chết chẳng quan tâm. Thậm chí nhiều khi còn đập cho nóp chết luôn. Chuyện bơm sữa cho tập đoàn Vinashin còn sờ sờ ra đó.
Quay lại chuyện giữa Tổng công ty Sơn Trường và Bộ GTVT. Được sự ủng hộ chí tình của một số nhà khoa học và một số nhà báo trung thực,Thắng tiếp tục đấu tranh quyết liệt để bảo vệ cho được ý tưởng của mình. Trong thư công văn thứ 7 gửi cho bộ trưởng Đinh La Thăng sau khi chỉ ra những tổn thất khủng khiếp trong việc xây dựng các cảng Vân Phong, Cái Mép, Thị Vải, Thắng khẳng định: 1) Dự án cảng lạch Huyện theo quyết định 476 sẽ kéo dài tiến độ trên 50%. 2) Tổng mức kinh phí sẽ tăng ít nhất 30%. 3) Dự án sẽ thất bại hoàn toàn và sự l•ng phí thật khủng khiếp. Thắng sẵn sàng mang của cải của mình ra đặt cược với Bộ trưởng Đinh La Thăng những điều mình vừa nói. Hôm gặp Thắng ở Hải Phòng tôi hỏi Thắng về chuyện đánh cược với ông Bộ trưởng Đinh La Thăng, Thắng cười bảo: Không thấy ông Đinh La Thăng nhận lời đánh cược. Có lẽ ông ấy thiếu tự tin. Thắng nói tiếp em chẳng muốn làm to chuyện lên làm gì. Mà có làm cũng chả được vì “họ” đã tính toán đâu vào đó hết rồi. Sở dĩ em làm căng như vậy chỉ mong ông Đinh La Thăng ngừng việc dùng vốn ODA một cách phí phạm thôi. Hiện tình đất nước chúng ta có quá nhiều công trình giao thông bức xúc và nhân dân đang rất cần nguồn vốn ODA dùng vào các dự án khác để nhanh chóng cải thiện đời sống của người dân.
Họ đóng góp của cải và cả xương máu cho đất nước quá nhiều nhưng chưa được hưởng bao nhiều mà có khi đời con đời cháu của họ còn è cổ ra trả nợ vốn vay ODA. Tôi rất thông cảm với tâm huyết của Thắng. Tôi từng xem trên tivi thấy các em học sinh miền núi lội qua con suối mùa lũ hoặc bám vào những sợi dây rừng treo lơ lửng buộc từ bên này suối sang bên kia suối và những chiếc thuyền con mong manh bơi giữa dòng nước chảy xiết chở các em đi học. Tôi cũng đã từng thấy những em ăn mặc rách rưới ngồi học trong những chiếc lán về mùa đông bốn bề không có gì che chắn chung quanh. Bàn ghế không có phải kê tám ván lên đầu gối để viét. Cũng đã nhiều lần nhìn thấy các em ở trong các lán nội trú nằm cheo leo bên dốc núi chia nhau từng thìa cơm với muối trắng… Không hiểu những người vung tiền tỉ đô không cần tính toán cân nhắc có bao giờ nhìn thấy cảnh ấy không.
Tôi vốn dốt những vấn đề thuộc về lĩnh vực kinh tế. Hàng hải và cảng biển càng dốt nên tôi không mấy quan tâm đến cái “ vụ Lạch Huyện”, mặc dù trước đây tôi đ• nghe lùm xùm chuyện này trên báo nói, báo hình và cả báo viết. Hơn nữa ở ta xưa nay bút sa gà chết như ông cha ta thường nói. Quyết định được phê duyệt và đã ký rồi coi như xong, đừng có tính chuyện phản biện cho mất công. Hàng trăm nhà khoa học trong nước, ngoài nước phản biện dự án Bô xít cuối cùng cũng chỉ để nói cho nhau nghe. Lạch Huyện rồi đây cũng vậy mà thôi. Một đất nước mang danh ngàn năm văn hiến mà lại thiếu văn hóa phản biện thừa văn hóa quyền hành thì còn gì buồn hơn. Tôi chỉ buồn và thương Thắng thôi. Tổng cộng Thắng đã gửi cho các cơ quan từ cấp huyện cho đến quốc hội và các vị l•nh đạo cao nhất của đảng và nhà nước, các đại biểu quốc hội và Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản( JICA) tổng cộng tất cả là 46 thư công văn. Trong khi đó Bộ GTVT gửi cho Sơn Trường 3 thư trong đó một thư mời họp. Tổng Công ty Hàng hải gửi cho Sơn Trường 2 thư. Còn lại thư từ. công văn của Bộ GTVT và Cục Hàng hải Việt Nam chủ yếu gởi đi các nơi vẫn nhằm trong mục đích chứng minh phương án của mình là đúng, còn phương án của Sơn Trường là sai không thể chấp nhận được.
Có lẽ Thắng còn tiếp tục đấu tranh nữa nếu như ngày 17 tháng 12 năm 2012 phó thủ tướng Hoàng Trung Hải không ký công văn cho phép Bộ GTVT không tiếp tục trả lời với những đề xuất của Tổng công ty Sơn Trường.
Ngày 14 tháng 4 năm 2013 thủ tướng chính thức khởi công dự án cảng tỉ đô Lạch Huyện cũng là ngày tôi đọc được bài báo “Được một nỗi đau không nói nên lời” của Tiến sĩ Tô Văn Trường trên trang mạng VNCOD ( Hội đập lớn và phát trriển nguồn nước VN). Bài báo có đoạn “ Cái được có thể nhìn thấy là thu hút nguồn vốn ODA tạm thời giật gấu vá vai tạo ra số công ăn việc làm, đặc biệt là quyền lợi riêng của các nhóm lợi ích. Các nhà thầu Nhật Bản đã bàn với nhau liên doanh chính, phụ với cái giá trên trời xong cả rồi. Phải chăng đó là được một nỗi đau không nói nên lời. Còn mất là kỷ cương phép nước, trước mắt là tước quyền phê duyệt chủ trương đầu tư của Quốc hội, thể hiện sự lộng hành của cấp dưới. Cái mất hơn rất nhiều so với cái được đó là nợ công vượt báo động đỏ, hàng tỉ đô la đổ vào dự án mà hiệu quả kinh tế xã hội rất thấp…”. Bài báo nghe như lời điếu văn cho dự ỏn cảng Lạch Huyện.
Nói đi nói lại gì thì tôi vẫn quý và phục Tạ Quyết Thắng. Một con người tâm huyết với đời như thế, thông minh như thư thế và cũng nghị lực như thế mà bỗng dưng trở thành anh chàng Đông Ky Sốt đánh nhau với những gã cối xay gió khổng lồ.
Hà Nội ngày 15 tháng 7 năm 2013.
V.T
-------------------
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















